Nhớ nón Gò Găng - Mai Thìn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Nhớ nón Gò Găng

MAI THÌN

...Nhớ nón Gò Găng

Vầng trăng Đập Đá

Sông dài sóng cả

Người quân tử khăn điều vắt vai...

(Cao Duy Thảo)

       Câu thơ gợi nhớ một thời các vị quyền quí uy nghiêm với chiếc nón ngựa rung reng tiếng lục lạc trên đường làng; những cụ già râu tóc bạc phơ áo lương nón chỏm khăn điều vắt vai... Bây giờ khúc ca dao lắng vào trong những đường chằm cho chiếc nón trắng duyên dáng mỡ màng trở thành nét đặc trưng của cả một dân tộc.

       Chiếc nón Gò Găng bây giờ là sự kết hợp hài hòa giữa nón bài thơ xứ Huế và nón ngựa ngày xưa. Nó tiết kiệm được nguyên vật liệu giảm tính cầu kỳ thái quá hợp với dân lao động một nắng hai sương. Song không vì lẽ đó mà mất đi vẻ duyên dáng nên thơ. Ngược lại với dáng thanh mảnh riêng biệt của mình nó được nhắc đến nhiều trong thơ ca nhạc họa.

       Nghề làm nón Gò Găng có từ thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ việc làm nón ngựa hồi ấy rất dày công và tỉ mẩn. Nón được kết bằng những vành tre cật chuốt nhỏ như tăm đan thành 3 lớp mể sườn. Bên ngoài phủ lớp lá kè non chằm bằng những mũi chỉ tàu thơm trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh nón được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long ly qui phụng. Quai nón được làm bằng những dải lụa đỏ hoặc xanh chỗ dưới cằm có chỏm tua. Để chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời công sức. Vì vậy giá thành rất đắt nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dà theo nhu cầu của giới bình dân nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn nón chũm rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Đám cưới ở các vùng làm nón nhà giàu rước dâu bằng kiệu chàng rể thì đội nón đi ngựa. Nhà nào nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên ca dao có câu:

Cưới nàng đôi nón Gò Găng

Xấp lãnh An Thái một khăn trầu nguồn

       Ngày nay các cô gái làng nón hầu như ít còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh giản tiện và để tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này cũng phải qua nhiều công đoạn. Trong đó làm lá là công đoạn khó nhất. Người xưa đã dặn:

Anh về Bình Định ba ngày

Gởi mua chiếc nón lá dày không mua!

       Mỗi nón phải xây với 18-19 lá ở độ tuổi thích hợp. Nếu lá quá tuổi sẽ dẫn đến màu vàng như nón mắc mưa thếp lá dày không thanh mảnh; lá nhỏ tuổi thì nhiều gân xanh làm cho mặt nón thô nhám mất đi vẻ mượt mà dễ cảm. Đầu mối chính của nghề nón là thị tứ Gò Găng. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường xuyên từ 3 4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25- 30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Bắt nguồn từ nơi đây mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước hơn 50.000 chiếc nón. Tháng ế nhất cũng gần 20.000 chiếc. Trong  mấy năm trước đây nón Gò Găng còn được xuất sang các nước láng giềng như Lào Campuchia Trung Quốc... dưới dạng cải biên hình thức cho hợp với xứ người. Từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ đến các miệt vườn Nam bộ nón lá Gò Găng đã trở thành vật dụng thân thiết cho mọi người lao động.

       Có dịp về lại các vùng quê: Bình Đức Tân Nghi Vĩnh Phú hoặc Phú Thành... chúng ta sẽ được chứng kiến những cảnh nhộn nhịp đầm ấm quanh ánh đèn ban đêm. Cứ 2 3 nhà chị em lại tập trung với nhau. Từ các bác các chị phải đeo kính tựa cột đến các em học sinh tuổi 15 17 họ vui vẻ trò chuyện trong tiếng thì thụp của mũi kim chằm nón. Trong một ngày đêm một người làm nón giỏi cũng được 8 9 chiếc. Với giá thu nhập hiện thời họ có thể nuôi sống cả gia đình 3 4 miệng ăn.

       Từ trước đến nay người ta vẫn coi nghề làm nón là nghề phụ không đáng kể. Nhưng với thực tế thì ngược lại. Nghề này rất hợp với chị em phụ nữ ở nông thôn. Sau mùa làm mạ gieo cấy họ sử dụng thời gian nông nhàn để làm nón. Công việc nhanh có tiền lại không nhiều vốn như các nghề khác.

       Nói như vậy không phải làm nón là một việc dễ dàng. Để làm được 10 chiếc nón trong ngày chị em phải ngồi liên tục trong 14-15 giờ đồng hồ không nghỉ ngơi. Đôi bàn tay cầm kim phải dùng lực của ngón cái và ngón trỏ để cắm và rút kim cũng ê ẩm nặng nhọc chẳng khác gì người gánh lúa. Những cô gái mái tóc trăng tròn xõa bên vành nón miệt mài với từng mũi kim đường nức bàn tay mềm mại vuốt lên từng thếp lá như truyền thêm vẻ hấp dẫn cho một nét đẹp dân tộc không dễ dàng chối bỏ.

       Có thể nói nón Gò Găng đã se duyên cho bao mối tình thi vị. Tao nhân mặc khách làm sao có thể cầm lòng trước mái tóc thề nón nghiêng che nửa mặt tà áo dài bay kín đáo mà duyên dáng cả một góc trời...

Mai Thìn

More...

Nhớ bánh tráng quê mình

By Tinh Khuc Quy Nhon

Nhớ bánh tráng quê mình

Không biết có còn ai nữa không chứ riêng tôi thì phải thừa nhận rằng tôi là một người ghiền bánh tráng. Mà phải là bánh tráng Bình Định. Mà không chỉ có tôi. Hai con tôi một đứa lên ba và đứa sáu tuổi cũng đều ghiền như tôi. Độ ghiền đo được bằng cách khi có thì ăn không biết chán khi không có thì nhớ thì thèm.  
 

Tráng bánh ở làng nghề bánh tráng Cát Tường (Phù Cát). Ảnh: Q.K

Khi có người từ Bình Định ra biếu ràng bánh tráng con gái tôi mới sáu tuổi răng cỏ chẳng được nguyên vẹn nhưng cứ tì tì nhúng bánh chấm với nước cá mà ăn một lúc bốn cái. Mỗi khi thấy con ăn một cách ngon lành vợ tôi ngồi nhìn con mỉm cười. Lâu lâu chêm vào một câu "đúng là dân bánh tráng". Lâu ngày thấy không có ai gởi bánh ra cho con tôi lại nhắc. Thương con tôi đi tìm mua bánh. Mua bánh bán ở các chợ Huế. Nghe nói ở thôn Long Hồ (vùng cận Huế) có một làng chuyên làm bánh tráng tôi cũng tìm đến. Không biết cách làm có gì khác nhau nhưng các loại bánh tráng ở đó không làm cho con tôi thích thú. Nó bảo phải là bánh tráng Bình Định cơ.
Con tôi sinh ra và lớn lên ở Huế. Nó không sống bằng bánh tráng từ nhỏ như tôi nên tôi hiểu rằng bánh tráng Bình Định mới ngon mới là khác biệt. Còn tôi ngoài cái ngon cái khác biệt bánh tráng còn gắn bó với tuổi thơ tôi.
Tôi người Phù Cát. Sinh ra ở xã Cát Sơn. Suốt tuổi thơ nhọc nhằn loạn ly thời chiến tranh gắn bó sâu đậm với miền đất này. Lớn lên đi học rồi đi làm ở một nơi xa lắc. Dường như ở vào cái tuổi quá nửa đời người khi mà cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền không còn bức bách mỗi ngày thì con người thường hay nghĩ ngợi. Nghĩ cũng là một cách xem lại chính mình xem lại những gì đã qua những gì đáng ghét và yêu thương.
Ở Cát Sơn quê tôi những năm sau ngày giải phóng nghèo lắm. Thiếu đói là chuyện thường xuyên. Một nồi cơm đến 2/3 là độn. Độn củ mì độn củ lang. Độn giỏi đến nỗi quê tôi có câu ca trứ danh:
Khen cho Hòa Hội có tài
Nấu một lon gạo nồi hai cũng đầy
Ăn độn mãi cũng chán. Người dân quê tôi chế biến củ mì thành bột để tráng bánh. Bánh tráng cũng có nhiều loại hạ cấp và cao cấp. Hạ cấp là thứ mì lát phơi khô được xay ra thành bột. Khuấy lỏng thứ bột này rồi đưa vào lò tráng ra một thứ bánh có màu đục giống như màu trứng gà đánh kem bây giờ. Bánh tráng chế biến theo kiểu này ăn vào còn cảm nhận nguyên mùi bột mì. Bánh tráng cao cấp là loại bánh làm từ bột gạo hoặc bột lọc (bột nhứt). Thời ấy có mấy người và mấy khi được ăn bánh gạo. Bánh gạo chỉ được tráng và dùng trong những dịp Tết hoặc cúng kỵ. Cũng có một loại làm từ bột mì nhưng rất kỳ công. Mì được đem xay thành bột nhưng phải ngâm ủ vài ngày thường xuyên thay nước và chắc gạn nước để mủ trôi đi hết. Loại bánh này có màu trong sẫm rất dẻo thơm ngon.
Cha mẹ tôi mất sớm trong chiến tranh tôi ở với cậu mợ. Phải công nhận mợ tôi có tài làm cho cả gia đình ăn ngon miệng. Sáng nào mợ cũng dậây sớm ra vườn hái một rổ rau xà lách rau cải con vài cọng hành ngò. Bánh tráng cuốn với loại rau này phải chấm với nước mắm chanh ớt mới ngon. Cũng có lúc mợ chuẩn bị một rổ rau muống. Cách xắt rau muống của mợ tôi cũng rất cầu kỳ. Rau muống hái về lặt bỏ hết lá. Cọng rau được chẻ ra trở sống dao vuốt đều trên cọng rau. Cọng rau muống theo đó cong cuộn tròn. Rồi cắt theo chiều dọc thành những cọng li ti trông rất hấp dẫn. Thứ rau này có thể thêm vào một ít rau thơm tía tô. Ăn bánh tráng với rau muống nhất thiết phải chấm với mắm cá cơm ớt tỏi. 
Có lẽ cũng đã qua rất nhiều kinh nghiệm và thời gian hình thù và độ rộng của chiều kích bánh tráng mới được như bây giờ. Với hình dáng như vậy khi nhúng bánh tráng bẻ làm tư mỗi góc bánh tráng vừa đủ để bọc những thứ "nhân" trong nó - một miếng bánh tráng nướng ít thịt hoặc cá ít rau không thừa cũng không thiếu. Lớn quá sẽ thừa bánh tráng cuốn ăn mau ngán. Nhỏ quá thì không thể bọc tròn cuốn bánh.
Bây giờ mỗi lần về lại quê thấy người dân ăn toàn bánh gạo. Thế mới biết chỉ nhìn vào loại bánh dân dã này cũng thấy được sự đổi thay của cuộc sống. Với những người ghiền bánh như tôi bánh có thể ăn thay cơm vài ngày. Bánh cuốn với thứ gì cũng thấy ngon nhưng ngon nhất là với thịt ba chỉ chả trứng cá nục hấp. Muốn ngon phải là cá nục cơm chỉ lớn cỡ hơn ngón tay.  
 

Phơi bánh tráng. Ảnh: Q.K

Bây giờ vào nhiều nhà hàng sang trọng những thứ sang trọng được cuốn bằng một loại bánh tráng sản xuất theo lối công nghiệp vuông vức và bóng láng vẫn không thấy hấp dẫn bằng cuốn bánh tráng quê tôi vẫn in trên bánh những hình ô vuông của chiếc phên tre. Dường như hình ảnh đó đã quá quen thuộc. Quen thuộc đến nỗi tôi không muốn một sự thay đổi. Thay đổi nghĩa là sự hấp dẫn hứng thú cũng vơi đi.
Bánh tráng tạo nên nhiều món ăn dân dã nhưng cũng không kém phần sang trọng ở quê tôi. Bánh tráng cuốn rau. Nem rán bún xào cũng phải dùng bánh tráng. Riêng ở nhà tôi mỗi khi có việc cúng kỵ chị tôi không bao giờ quên nướng vài cái bánh tráng thơm lừng sắp lên bàn thờ gia tiên. Cách đây mấy năm tôi đưa con về thăm quê. Xuống tàu ở ga Bình Định (An Nhơn) ghé vào một quán ăn sáng thấy có một cách ăn bánh tráng cũng lạ. Mỗi khách vào chủ quán dọn bánh nhúng nguyên cái trải trên một cái trẹt (cái mâm đang bằng nan tre). Mỗi cái bánh người ăn chỉ cuốn một cuốn nên cuốn bánh to và dài. Tò mò nên tôi thân thiện bắt chuyện rằng sao anh không gấp làm tư cho dễ cuốn bánh. Thực khách cười: thế thì còn gì là ngon.
Vậy đó ăn bánh bây giờ không chỉ để no. Người ta ăn cả bằng mắt bằng sự thích thú bằng cái gì đã ăn sâu trong tiềm thức thói quen khó mà thay đổi. Riêng tôi mỗi lần được ăn bánh tráng Bình Định thường nghĩ về cả một thời tuổi thơ cực nhọc sự thân thương của người dân quê lam lũ; sự nghèo khó của quê hương. Thời ấy bây giờ đã xa.
Lê Phương

More...

Rượu Bàu Đá - Nguyễn Thanh Mừng

By Tinh Khuc Quy Nhon

Rượu Bàu Đá

NGUYỄN THANH MỪNG

         
          Rượu Bàu Đá là đặc sản của vùng đất võ Bình Định. Rượu hoàn toàn được chưng cất bằng phương pháp thủ công nên có hương vị đặc biệt. Bây giờ tiếng tăm của rượu Bàu Đá đã lan rộng trong cả nước và cả ngoài nước đã in dấu trong thơ ca nhạc họa đã xuất hiện trong giai thoại làng văn nghệ đã trở thành sự nhắc nhở thân tình của bạn hữu mỗi khi gặp một người Bình Định ghé ra tỉnh ngoài: "Có mang Bàu Đá không?". Vừa qua nghe nói có một công trình nghiên cứu khoa học về rượu Bàu Đá trong hành trình công nghiệp hóa. Sau đó thấy có bán ở cửa hàng loại rượu Bàu Đá với dạng chai thủy tinh chữ nhật bầu sứ giả cổ... có nhãn hiệu in ấn khá bắt mắt. Cũng vui.

          Về xóm Bàu Đá thôn Cù Lâm xã Nhơn Lộc huyện An Nhơn may có lần chúng tôi được gặp một cụ ông đã 92 tuổi bên cạnh ngôi miếu cổ có tên là Miếu Bàu Đá cạnh cái bàu nước mang tên Bàu Đá.Chính cái bàu nước này đã cung cấp cho rượu một cái tên bất hủ. Ông kể nó là một bàu nước như mọi bàu nước khác ở làng quê Bình Định nơi gia đình ông được đánh bắt câu tát để làm tươi những bữa cơm quê. Trong bàu có đủ loại rô trê chép diếc tràu lươn chạch... Nhưng bây giờ bàu đã cạn ông và con cháu dùng để trồng rau muống!

          Rượu Bàu Đá được các gia đình quanh vùng cất từ gạo như một thứ nghề gia truyền. Từ xưa đến nay rượu Bàu Đá chính hiệu vẫn được chưng cất qua quy trình thủ công chứ chưa hề được sản xuất trong nhà máy công nghiệp tối tân như các loại rượu danh tiếng trên thế giới. Mà rượu Bàu Đá danh tiếng là ở cái sự thủ công ấy ở đôi quang gánh tre mây cô thôn nữ gánh ra chợ làng ở cái nậm sành nậm đất vò thạp thô sơ giấu trong lòng nó dòng lửa bằng nước. Ấy đấy với rượu Bàu Đá chân chính ta có thể diễn tả như vậy khi chế một ít rượu vào khô mực khô cá và bật diêm lên. Trả lời ngọn lửa diêm là một ngọn lửa trong trẻo viên mãn bùng lên từ rượu tẩm đủ sức làm thơm đĩa mồi truyền thống. Có lần tôi đã chứng kiến mấy ông bạn nông dân ngồi trên bờ ruộng nướng cua cá bằng cỏ có tẩm thêm ít rượu Bàu Đá cho bén cho thơm. Rượu Bàu Đá có lửa đã đành. Rượu Bàu Đá còn có cả băng tuyết. Thật đấy sờ vào da chum da bình đựng rượu là mát lạnh tay. Một giọt rượu nhỏ lên da cái mát lạnh truyền đến tận tim - ấy là thưởng rượu bằng xúc giác. Rót rượu Bàu Đá phải biết cách nhấc vòi cao lên một tí tiếng rượu mới thánh thót như một hợp âm huyền diệu; thính giác bắt đầu nhập cuộc. Chính độ cao thấp của vòi rượu quyết định vẻ đẹp của chén rượu. Chén rượu đầy đặn mà vẫn không tràn gọi là vun. Thị giác sẽ no nê bởi cái sống động của tăm rượu như có con cá sống nằm thở ở đáy chén. Nâng chén rượu ngang môi chưa uống vội hãy nheo mắt tận hưởng mùi thơm tỏa riu riu khắp mặt mày qua những sợi khói vô hình. Nhấp nhẹ một chút bọt sủi tăm đóng cườm quanh miệng lặng nghe vị giác lâng lâng ngấm dần uống đến đâu biết đến đấy. Cái nồng nàn cái ý vị không tả nổi nhất thiết phải "khà" một tiếng thật là đã vậy! Xúc giác thính giác khứu giác thị giác vị giác - ngũ quan thưởng rượu.

          Mùa hè thì mát mùa đông thì ấm - đó là biệt tính của rượu Bàu Đá. Người bị cảm nhiễm mưa nắng cách chữa công hiệu nhất là tới một lò rượu xin phép chủ nhà rồi tự tay hé giở nắp nồi đón lấy hơi rượu xông lên nghi ngút. Từng chân tơ kẽ tóc mồ hôi túa như mưa. Lau khô một lượt. Thế là khỏe như thần. Người Bình Định trong nhà luôn có góc rượu Bàu Đá ngâm tỏi hoặc ngâm tiêu đề phòng gió máy đầy hơi lạnh bụng. Con nhà võ thường ngâm thuốc võ bí truyền tùy từng môn phái để dùng.

          Chung quanh rượu Bàu Đá người ta thêu dệt nhiều huyền thoại. Có người bảo nó là gốc rượu Chàm dân Chàm xưa nấu để tiến vua. Có người bảo nó là rượu lưu dân bắt đầu từ thời mở cõi. Có người kể là nó có xuất xứ sớm hơn. Một kẻ sĩ bất phùng thời cùng một hào kiêu sa cơ lỡ vận kết bạn với nhau trên con thuyền thiên di biệt xứ. Họ đặt chân đến đất này từ thời nhà Hồ có manh tâm tiếm ngôi nhà Trần thế sự trong nước nhiễu nhương và cuộc tao loạn nồi da xáo thịt là không tránh khỏi. Đến xứ sở này họ được một người bản địa nhận làm môn khách biệt đãi như đã từng quen thân từ kiếp trước. Ba anh em kết nghĩa dưới một khu vườn trăng ngay cái rốn kinh kỳ nhưng mùi vương giả chưa hề làm vướng bận trí óc họ. Họ không phải là những người ẩn dật cũng không phải là những người nhập thế nếu hiểu theo cách thông thường của hai khái niệm ngôn ngữ này. Họ không phải là người của dân gian lại càng không phải là người của cung đình nhưng những tinh hoa của dân gian lẫn cung đình vẫn có mặt ở trang ấp họ. Đó là những bạn hiền bốn phương đến cửa này không phân biệt áo vải hay áo gấm kẻ ăn mày hay người thế phiệt. Đó là những người dùng tiếng đàn lưỡi kiếm hay vần thơ thể hiện tâm khí giãi bày với trời đất non sông con người. Và những khúc thức của hai nền văn hóa Việt Chàm cũng chọn nơi này nở nụ cười hợp lưu đầy hồn nhiên và bí ẩn. Ba anh em kết nghĩa cùng những bạn bè của họ là những "chủ biên" và "đồng tác giả" của rượu Bàu Đá danh bất hư truyền.

          Chẳng biết thực hư của truyền thuyết trên ra sao nhưng nó xuất hiện trong các cuộc tửu hứng mạn đài của các tao nhân mặc khách thật đậm đà và thi vị cho tiệc rượu. Bảo rượu Bàu Đá bình dân hay cao sang đều đúng. Này gạo nấu lấy từ những lượm lúa đọng mồ hôi này lửa đun đốt bằng thân rơm vỏ trấu. Này mạch nước nguồn rất kén cho chất mầu trong vắt pha lê. Và sự có mặt của nó từ chỗ bằng hữu giao bôi cho chí các tiểu lễ đại lễ - là gì nếu không phải là sự tích hợp của tận cùng cao sang và dân dã? Tuy nhiên cái quyến rũ nhất của rượu Bàu Đá vẫn là không khí bạn bè tri kỷ một đêm nào đó ngồi xếp bằng quây quần trên đất dưới trăng: "Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu. Dữ ngã đồng tiêu vạn cổ sầu". (Thơ Đường tạm dịch: Mời anh uống cạn một chén rượu cùng tôi quên hết sầu muộn xưa).

     NGUYỄN THANH MỪNG

More...

Công trình Tôn vinh danh nhân văn hóa Đào Tấn:

By Tinh Khuc Quy Nhon

Công trình Tôn vinh danh nhân văn hóa Đào Tấn:
Còn phải chờ gì nữa?


Danh nhân văn hóa Đào Tấn được thừa nhận đã lâu. Nhưng đến nay một trong những điều cần làm nhất là xây dựng công trình tôn vinh ông tại quê hương vẫn chưa được thực hiện tới nơi tới chốn...

 

* Nỗi niềm di tích

Làng Vinh Thạnh (xã Phước Lộc huyện Tuy Phước) là nơi chôn nhau cắt rốn bảo bọc tâm hồn và nuôi dưỡng tài năng Đào Tấn. Khi Đào Tấn mất đi dân làng Vinh Thạnh đã lập hẳn đền thờ ông với tên gọi Đào Công bảo từ. Đền thờ ông bị phá hủy trong chiến tranh người dân tiếp tục đưa Đào Tấn vào trong đình làng Vinh Thạnh thờ cúng ông trang trọng. Nhưng hiện đình làng Vinh Thạnh đã xuống cấp cảnh quan bên ngoài khá hoang tàn. Người kính ngưỡng Đào Tấn đến làng Vinh Thạnh chỉ còn biết đến thắp nhang cho ông tại ngôi nhà từ đường dòng họ Đào hiện là nơi sinh sống của gia đình người chắt của Đào Tấn là ông Đào Tụng Phi.

Ngôi nhà từ đường này nằm trên mảnh đất vườn nhà của Đào Tấn ngày xưa và hoàn toàn chưa tương xứng với tầm vóc danh nhân văn hóa Đào Tấn. Và chuyện làm sao cho tương xứng chắc không phải là chuyện riêng của dòng họ Đào.

Cách làng Vinh Thạnh gần 2 km ngôi mộ Đào Tấn tọa lạc trên núi Huỳnh Mai (xã Phước Nghĩa huyện Tuy Phước) được xây khá khiêm tốn. Tương truyền ngày xưa trên núi Huỳnh Mai có rất nhiều mai vàng loại hoa Đào Tấn ưa thích. Sinh thời Đào Tấn đã lên núi chọn trước nơi mình sẽ yên nghỉ với ước nguyện: "Lên đỉnh núi Mai tìm đất thọ / Mỉm cười lặng ngắm đá chon von / Núi Mai rồi gởi xương mai nhé / Ước được hoa mai hóa mộng hồn" (Đề Mai sơn thị viên Xuân Diệu dịch). Hoa mai giờ đây chẳng còn đến một gốc ngôi mộ Đào Tấn nằm lặng lẽ bên sườn núi trọc. Quanh mộ chỉ là một vùng núi đá trơ khấc.

Tuy đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia từ năm 1998 nhưng mộ Đào Tấn chưa được đầu tư xây dựng và tôn tạo gì nhiều ngoài việc xây dựng kè đá xanh chống xói lở. Đã vậy khu vực này còn là chỗ người ta trồng bạch đàn nên sau kỳ khai thác cánh đồi trụi lủi trông rất đìu hiu hoang phế.

 

* Còn phải chờ...

Ông Võ Tuấn Khanh Trưởng Phòng VHTT huyện Tuy Phước cho biết: "Được sự đồng ý của UBND tỉnh UBND huyện Tuy Phước đã phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch và các ngành liên quan tiến hành nghiên cứu khảo sát. Sau đó đã có tờ trình UBND tỉnh cho chủ trương xây dựng đền thờ danh nhân văn hóa Đào Tấn vào tháng 12.2007. Chúng tôi đề xuất xây dựng đền thờ có diện tích hơn 3.200 m2 tại khu vực đình làng Vinh Thạnh gồm các hạng mục như đền thờ chính tượng Đào Tấn vườn hoa nhà khách... với tổng kinh phí dự kiến ban đầu hơn 3 tỉ đồng". Đề xuất này đã được lãnh đạo tỉnh thông qua khi họp xét nhưng chỉ đạo thay đổi địa điểm xây dựng đền thờ vào khu vực đất vườn nhà cũ của Đào Tấn. Nhưng đến nay đã hơn một năm việc triển khai công việc vẫn giẫm chân tại chỗ. Ông Nguyễn An Pha Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cho biết: "Công việc chưa tiến hành được là do còn phải chờ đợi văn bản chỉ đạo cụ thể của UBND tỉnh...".

Tháng 10.2008 UBND huyện Tuy Phước cũng đã có tờ trình UBND tỉnh xin ý kiến xây dựng tôn tạo nâng cấp khu di tích mộ Đào Tấn với ý tưởng đề xuất: "Mở rộng đường lên mộ (bậc đá) cũ hoặc làm thêm một đường mới nữa. Làm các tấm bia đá (granite) khắc một số bài thơ từ của Đào Tấn bố trí từng đoạn dọc theo đường đi lên xuống mộ. Xây dựng nhà chờ phía trước bức bình phong (hiện nay đã nghiêng) bằng một bia đá để khắc bài thơ "Đề Mai sơn thị viên" của Đào Tấn. Thiết kế trồng một số loại cây mà sinh thời Đào Tấn ưa thích... Tổng nguồn kinh phí thực hiện ước tính 900 triệu đồng được huy động từ nguồn kinh phí địa phương  và tranh thủ nguồn tài trợ của các tổ chức tập thể cá nhân trong và ngoài nước.

Ông Đào Tụng Phi: "Cụ Đào Tấn không chỉ là niềm tự hào của dòng họ tôi mà còn là của làng của tỉnh của chung đồng bào mình. Nhưng cho đến giờ tôi thấy cách ứng xử với cụ chưa thật tương xứng. Một vài lần cũng nghe phong thanh hình như Nhà nước sẽ phục dựng Học bộ đình sẽ làm lại ngôi nhà cũ của cụ Đào Tấn như một địa chỉ văn hóa nhưng rồi cũng chỉ nghe chứ chưa thấy động tĩnh gì...".

Giữa tháng 11.2008 Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch chủ trì cuộc họp với các bên liên quan để góp ý về việc xây dựng tôn tạo nâng cấp di tích mộ Đào Tấn. Sau khi nhận được ý kiến đóng góp thống nhất cơ bản với đề xuất của UBND huyện Tuy Phước chỉ vài ngày sau Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch  đã nhanh chóng có tờ trình gởi UBND tỉnh. Nhưng cho đến nay vẫn chưa nhận được hồi âm.

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn tâm sự: "Vẫn biết đây là việc của các đơn vị chức năng nhưng cá nhân tôi sẵn sàng đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình vào công trình tôn tạo nâng cấp mộ Đào Tấn. Tôi đã liên hệ đặt vấn đề tài trợ công trình này đối với một số tổ chức cá nhân và họ đã đồng ý nhưng lại vướng phải việc chờ đợi những thủ tục liên quan từ phía tỉnh nhà. Tôi cũng không hiểu sao lại chậm như vậy!".

  • Hoài Thu

More...

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn - Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm
trên đất Tây Sơn - Bình Định
         
            Nằm ngay cửa ngõ thành phố Qui Nhơn là hai ngọn tháp đứng sừng sững kề nhau dân gian gọi là tháp Đôi. Theo các tư liệu xưa còn ghi chép được tháp Đôi là tháp Hưng Thạnh. Ngày 10/7/1980 tháp Đôi được trùng tu đầu tiên ở Bình Định và được các nhà nghiên cứu xếp vào loại di sản độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Chăm bởi tháp Đôi không giống bất kỳ một ngôi tháp cổ nào hiện có. Các nhà khoa học đến nay vẫn chưa tìm ra lý do khác thường này.

          Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 12. Ở ngọn tháp lớn có khắc nhiều bức phù điêu hình khí Hanuman trong tư thế nhảy múa. Còn tháp nhỏ lại có nhiều phù điêu hình thú vật như hươu nai; phía trong vòm khám thờ có hình người ngồi thiền đứng chầu hai bên là các sư tử đầu voi. Các góc tháp đều được trang trí hình chim thần Garuda bằng đá.

          Ngược lại vùng "Tây Sơn hạ đạo" có cụm tháp Dương Long. Người Pháp gọi đây là "tháp Ngà" còn dân địa phương gọi là tháp An Chánh. Tháp Dương Long có ba toà tháp cổ với chiều cao 29-36m. Hệ thống cửa của cụm tháp này phần lớn đã bị sụp đổ. Các đề tài chạm khắc trên tháp Dương Long cũng có các hình thú như voi sư tử đang đùa giỡn phía bên trong toà tháp cũng là những tu sĩ đang ngồi thiền. Hầu hết toà tháp có cấu trúc nhỏ dần về phía đỉnh và kết thúc bằng một đoá sen đang nở. Những bức chạm khắc của tháp Dương Long rất tinh tế về nghệ thuật và kỹ xảo. Vòm cửa có hình quái vật Kala khạc ra rắn bảy đầu bộ diềm mái được nghệ nhân khắc nhiều hoa văn với cảnh trí rất phong phú đa dạng. Có thể nói tháp Dương Long có giá trị nghệ thuật nhất trong số các kiến trúc Chăm thời kỳ này. Nhiều nhà nghiên cứu hiện xác định niên đại của tháp là vào khoảng nửa sau thế kỷ 12. Đây là cụm di tích thứ hai được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng cùng lúc với tháp Đôi.

          Sau hai cụm tháp Đôi và tháp Dương Long là tháp Cánh Tiên và tháp Bánh Ít. Tháp Cánh Tiên được xây dựng ngay ở trung tâm thành phố Đồ Bàn (nay thuộc xã Nhơn Hậu huyện An Nhơn tỉnh Bình Định). Có thể nói đây là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn. Theo tài liệu của Pháp tháp Cảnh Tiên còn được gọi là tháp Đồng nhưng vì sao có tên gọi này thì vẫn chưa có ai xác định được nguồn gốc. Tháp cao khoảng 20m trông xa giống như đôi cánh của nàng tiên đang bay lên trời xanh. Khác với các tháp Chăm khác tháp Cánh Tiên được xây dựng một phần bằng chất liệu sa thạch xung quanh có nhiều phù điêu chạm khắc. Không giống như Cánh Tiên Bánh ít có đến bốn toà tháp lớn nhỏ khác nhau nằm trên một đỉnh đồi thuộc xã Phước Hiệp huyện Tuy Phước cách thành phố Qui Nhơn khoảng 20 km. Đứng xa cụm tháp này trông như những chiếc bánh ít lá gai thường thấy trong các dịp cúng lễ giỗ chạp ở miền Trung. Người Pháp gọi đây là tháp Bạc. Bốn ngôi cổ tháp đều có các tượng thờ hình vũ nữ đang múa hình voi hình các vị thần linh.

          Cũng tại Bình Định còn có tháp Bình Lâm nằm ở xã Phước Hoà (Tuy Phước). Người dân ở đây kể rằng thôn Bình Lâm là vùng đất phì nhiêu có những cư dân người Việt lần đầu tiên đến khai phá mở mang. Trong hệ thống tháp Chăm Bình Định thì tháp Bình Lâm là nhóm tháp cổ có niên đại sớm nhất.

          Một cụm di tích khác có tên là tháp Thủ Thiện ở xã Bình Nghi (Tây Sơn) - quê hương của những lò gạch ngói thủ công nổi tiếng nằm trên quốc lộ 19. Năm 1995 ngọn tháp này cũng được xếp hạng di tích quốc gia nhưng hiện đang bị đổ nát nghiêm trọng. Nhiều di tích cấu trúc của ngọn tháp đã bị thời gian và con người phá huỷ.

          Cùng được xếp hạng với tháp Thủ Thiện là tháp Phú Lộc mà người Pháp đặt tên là tháp Vàng nằm giáp giới giữa 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước. Cao 29m Phú Lộc nằm trên đỉnh một ngọn đồi cao 76m so với mực nước biển. Dù đã bị đổ nát khá nhiều nhưng nhìn tổng quát ngọn tháp vẫn có dáng bề thế uy nghi của một công trình kiến trúc cổ.

          Ngoài bảy cụm tháp ở Bình Định đã được Nhà nước xếp hạng hiện nay vẫn còn một số di tích tháp cổ khác trong đó có tháp Hòn Chuông ở huyện Phù Cát hiện chỉ còn chân đế hoặc đã bị sụp đổ do người dân đào bới tìm vàng.

          Có thể nói rằng tám cụm tháp với tổng số 14 toà tháp cổ còn lại được xem như một loại tài sản vô giá mà lịch sử đã ban tặng cho miền Trung. Những bí ẩn về tháp Chăm mặc dù đã được nghiên cứu tìm hiểu từ cả chục năm nay nhưng vẫn chỉ là những nghiên cứu bên ngoài. Nhiều bí ẩn kỳ lạ nhiều huyền thoại lý thú vẫn đang chờ được hé mở.

Bùi Đẹp

More...

Võ Bình Định - gìn giữ của báu - Kỳ 2

By Tinh Khuc Quy Nhon

Võ Bình Định - gìn giữ của báu (Kỳ 2): Những ngôi chùa "Thiếu Lâm tự"

TT - Tiếng chuông vang lên vọng ra những xóm làng. Vị sư tăng đứng bên cổng chùa vẻ ngóng đợi. Chùa Long Phước (xã Phước Thuận huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định) có một võ đường và người truyền dạy võ thuật cho lớp trẻ là những vị sư tăng ở chùa.
Hình ảnh
Câu lạc bộ võ thuật chùa Long Phước nơi đã đào tạo hàng ngàn võ sinh cho Bình Định - Ảnh: H.V.Mỹ

Nền võ thuật Bình Định vang tiếng xưa nay có công của những ngôi chùa được xem là những Thiếu Lâm tự với những vị sư tăng giỏi võ thuật.

Sân chùa - sân võ

Sân võ chùa Long Phước là vuông đất rộng rợp mát trước khu tăng phòng của chùa. Chiều xuống vài học sinh đạp xe ghé sân võ rồi quay về. "Năm nay khai trường sớm nên thầy phải cho võ sinh ở đây nghỉ sớm sau khi đã học võ trong hè. Đợi khi nào các em ổn định việc học trong năm học mới tính đến chuyện học võ" - thượng tọa Thích Hạnh Hòa - vị sư trụ trì chùa Long Phước cho biết.

Tọa lạc trên khu đất rộng liền kề làng mạc qua nhiều lần trùng tu Long Phước nay là một trong những ngôi chùa lớn trong vùng. Nhưng để chùa có một võ đường với tên gọi Câu lạc bộ võ thuật chùa Long Phước (thuộc Trung tâm Võ cổ truyền Bình Định huyện Tuy Phước) theo thầy Hạnh Hòa là "bởi cái duyên của chùa với võ thuật với đời". Và phần chính của chữ duyên ấy là nhờ thầy Hạnh Hòa cùng sư tăng đệ tử trong chùa đều là võ sư. "Thời trước phần nhiều sư tăng các chùa ở Bình Định đều giỏi võ thuật thường truyền dạy cho các tăng sinh đệ tử của mình là chính. Có vị sau đó ra đời đem võ thuật chỉ bày cho người khác dần dà võ nhà chùa được lan ra ngoài cũng nhiều" - thầy Hạnh Hòa giải thích.

Với sân võ được mở tại chùa từ năm 1982 cùng sự cộng lực của người sư tăng đệ tử của mình thầy Hạnh Hòa cho biết sân võ chùa Long Phước đến nay đã dạy cho hàng ngàn võ sinh đào tạo được một số võ sư huấn luyện viên trụ cột về võ cổ truyền Bình Định cho địa phương.

Chùa Long Phước đã hơn 150 năm tuổi việc nhà chùa truyền dạy võ thuật cho bên ngoài thời trước tuy không được kể lại chi tiết nhưng chắc một điều là các vị tăng sư tiền bối của chùa đều góp phần trong việc phát triển nền võ thuật địa phương. Từ thành quả nổi bật trong truyền dạy võ cổ truyền Bình Định của sân võ chùa Long Phước một số đông võ sư võ đoàn các nhà nghiên cứu võ thuật trong và ngoài nước nhiều lần đến đây tham quan giao lưu cũng như nghiên cứu học tập.

Ngôi "Thiếu Lâm tự" hơn 300 tuổi
Hình ảnh
Tổ đình Thập Tháp ở An Nhơn - Bình Định - Ảnh: H.V.Mỹ

Theo một số võ sư "võ nhà chùa" trong một thời gian dài đã được truyền rộng ra ngoài có khi được giữ nguyên có khi được biến cách. "Võ nhà chùa" ở Bình Định là một võ phái lớn có nhiều nét riêng và cũng có những nét chung của vùng võ Bình Định. Do đó cùng với các phái võ khác "võ nhà chùa" đã tạo thêm sự phong phú đặc sắc cho vùng võ Bình Định.
Rêu phong cổ kính ẩn mình dưới um tùm bóng cây và dựa vào lưng đồi cũng rậm chồi cây chùa Thập Tháp ở làng Vạn Thuận (xã Nhơn Thành huyện An Nhơn) được nhiều người biết là một ngôi chùa cổ lớn. Xưa nay đây là nơi truyền dạy võ thuật cho các tăng sinh và có khi cho cả người ngoài và đây cũng là ngôi tổ đình đầu tiên của phái thiền Lâm Tế - một nhánh của Thiếu Lâm tự bởi vậy nhiều người xem đây như là "Thiếu Lâm tự" đầu tiên ở nước ta.

"Thiếu Lâm tự là thiền tông có võ thuật do đức Bồ-Đề Đạt-Ma khai sáng. Đến đời tổ thứ 6 - đức Lục tổ Huệ Năng chia làm năm phái trong đó có phái thiền Lâm Tế. Trên đường hành đạo từ Trung Quốc sang nước ta thiền sư Nguyên Thiều của phái Lâm Tế đã dừng lại ở Bình Định khai lập nên chùa Thập Tháp vào năm 1677" - thượng tọa Thích Viên Kiên - một trong những thiền sư trụ trì chùa Thập Tháp - giải thích. Sau đó thiền sư Nguyên Thiều cũng như các vị thiền sư kế nghiệp đã đến khai lập thêm nhiều ngôi chùa khác trong vùng trong đó có chùa Long Phước.

"Các vị thiền sư ở các chùa trong vùng thời trước đều giỏi võ thuật đến đời thầy tôi mới đây là hòa thượng Thích Kế Châu cũng thông giỏi võ thuật. Nặng lòng với việc hóa đạo các vị thiền sư luôn lo khai mở thêm chùa chiền đào luyện tăng sư. Coi võ thuật như là trợ duyên trên đường tu tập các vị thiền sư cũng đã truyền dạy võ thuật cho hàng đệ tử của mình" - vẫn lời của thượng tọa Viên Kiên.

Thượng tọa Viên Kiên kể thời tổ sư Nguyên Thiều đến khai nghiệp đây vẫn còn là vùng đất sơ khai hoang dã tổ sư cùng những vị sư tăng kế tiếp đã giúp các chúa Nguyễn không ít trong việc khai hóa. Để chống chọi với các loài mãnh thú cũng như kẻ bất lương võ thuật là một trong những phương tiện thích dụng. Bởi vậy võ thuật được các vị tăng sư truyền dạy trong chùa đã lan ra ngoài bằng nhiều cách để giúp đời. Chuyện kể của thượng tọa Viên Kiên: "Thời trước thú dữ ở vùng này rất nhiều.

Đến đời tổ Liễu Triệt - vị tổ thứ ba của chùa Thập Tháp cách nay khoảng 300 năm - ngay ở vùng đồi bên chùa Thập Tháp vẫn còn nhiều thú dữ hùm cọp trong đó có con cọp trắng thường luẩn quẩn quanh chùa. Nghe tiếng kinh kệ tiếng chuông mõ mãi con cọp trắng đó cũng đổi tính hết hung dữ trở nên hiền lành cứ lảng vảng gần chùa hơn mỗi lần nghe kinh cầu. Sau nó chết bên chùa được thiền sư Liễu Triệt cho chôn và xây mộ kề sau chùa. Mộ nó vẫn còn mới đây chúng tôi mới cho trùng tu".

Khởi từ ngôi tổ đình Thập Tháp trên 300 tuổi những ngôi chùa "Thiếu Lâm tự" của dòng thiền Lâm Tế đã góp vào đáng kể cho sự phát triển và tồn tại của nền võ thuật Bình Định. Những thành quả đã thấy được nhưng điều sâu xa là sự lan tỏa chiều sâu.

"Võ nhà chùa đã góp phần làm sâu thêm tinh thần đạo đức của võ Bình Định" - lão võ sư Trương Văn Vịnh người từng tham gia truyền dạy võ thuật ở sân võ chùa Long Phước - nhận xét. Tinh thần thượng võ trong nền võ thuật Bình Định có phần góp vào qua thẩm thấu lâu bền từ căn cốt võ thuật của những ngôi chùa "Thiếu Lâm tự" nơi vùng đất này.

HUỲNH VĂN MỸ

More...

Phụ nữ Bình Định qua ca dao dân ca

By Tinh Khuc Quy Nhon

Phụ nữ Bình Định qua ca dao dân ca


                    
(Ảnh: Hoàng Tuấn)

Bình Định là nơi địa linh nhân kiệt có bề dày lịch sử văn hóa với những truyền thống bản sắc địa phương phong phú và đa dạng. Trải qua lịch sử đấu tranh khai phá xây dựng và bảo vệ các thế hệ phụ nữ Bình Định (PNBĐ) chẳng những kế thừa truyền thống anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang của phụ nữ Việt Nam mà còn có được những bản sắc rất riêng rất địa phương. Từ xưa đến nay phụ nữ vốn được coi là "chân yếu tay mềm" nhưng với PNBĐ thì khác khác đến nỗi "thiên hạ" phải ... kháo nhau:

Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định cầm roi đi quyền .

Câu ca quen thuộc này vừa biểu lộ được cái uy - cái bản sắc rất riêng vừa chứng minh được khí phách và tinh thần thượng võ của PNBĐ xứng đáng với vùng đất vốn dĩ được mệnh danh là đất võ. Nhưng PNBĐ không chỉ có biết cầm roi đi quyền họ còn là những người rất trọng nhân nghĩa:

Nghĩa nhơn hai gánh tràn trề
Gánh từ Phù Mỹ gánh về Bồng Sơn
Em ngồi em kể công ơn
Bạc vàng nặng ít nghĩa nhơn nặng nhiều.

Chung thủy với nhau trong quan hệ vợ chồng trong tình yêu đôi lứa cũng là đặc tính nổi bật của PNBĐ. Khi đất nước lâm nguy người chồng phải lên đường ra chiến trận người vợ ở nhà đảm đang gánh vác cả công việc nhà chồng để chồng yên tâm nơi trận mạc:

Ai đi theo chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà thương mẹ già.

Trong đời sống vợ chồng thì vợ kính chồng chồng nể vợ thương yêu tôn trọng và chiều chuộng nhau tình nghĩa vợ chồng trọn vẹn nên càng già lại càng đằm thắm:

Vợ chồng nghĩa nặng tình sâu
Thương nhau đến tuổi bạc đầu càng thương...


                      (Ảnh: Hoàng Tuấn)
Không chỉ có thế PNBĐ còn nổi tiếng về sự chung thủy mà truyền thuyết về Hòn Vọng phu là một minh chứng: chờ chồng đến quên mình đến hóa đá. Hòn vọng phu là một tảng đá xanh cao trên đỉnh núi Bà (thôn Chánh Oai- Phù Cát); tương truyền có một người đàn bà dắt con ngày ngày lên núi chờ chồng nhưng chờ mãi chờ mãi mà người chồng không bao giờ về nữa. Người đàn bà ấy đã hóa đá trong lúc mắt vẫn đăm đắm nhìn ra biển khơi... và Hòn vọng phu đã trở thành biểu tượng của lòng chung thủy.

Phẩm chất thanh cao trong sáng của người PNBĐ còn thể hiện ở tình yêu đôi lứa. Mối tình của họ thường gắn với công việc đời thường như dệt lụa kéo tơ... Qua đó họ gửi vào những tình cảm nồng thắm; những lời thề thốt:

Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu.
Hay những lời nhớ nhung:
Ngồi buồn xe chỉ dệt hàng
Khung cửi kêu kút kít dạ thương chàng líu lăng.
Hoặc có những lúc hờn dỗi:
Anh về Đập Đá Gò Găng
Để em kéo vải đêm trăng một mình.


                     (Ảnh: Hoàng Tuấn)
Bình Định có nhiều nghề truyền thống nổi tiếng như dệt lụa dệt chiếu làm nón...Nghề dệt lụa phát triển nhiều nơi như Phú Phong An Thái Bồng Sơn... lụa dệt cao nhất là ở Nhơn Ngãi (An Nhơn) sản phẩm làm ra chẳng những tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu. Các nghề làm nón dệt chiếu... chủ yếu cũng do phụ nữ đảm trách. Nghề dệt chiếu tuy hạn hẹp nhưng nổi tiếng chẳng kém các nghề khác. Những nơi chuyên sản xuất chiếu như An Nghiệp Công Lương Bồ Địch (Phù Mỹ )hoặc Chương Hòa (Hoài Nhơn)... Chiếu Bồ Địch nổi tiếng đẹp và bền nên có câu hát:

Anh về Bồ Địch giếng vuông
No cơm ấm chiếu luông tuồng bỏ em.
Ngoài các nghề kể trên Bình Định còn nhiều nghề đặc sắc khác như làm bún song thằng bánh tráng nước dừa thảm dừa... Cũng do bàn tay tài hoa khéo léo của người PNBĐ làm ra.

Nếu trong chiến tranh PNBĐ chăm chỉ rèn luyện võ nghệ sánh vai cùng nam giới giết giặc cứu nước cứu dân thì lúc tổ quốc thái bình họ lại trở về với đời thường phát huy tột đỉnh những phẩm chất cao quí vốn có của người phụ nữ. Đó là những mẹ hiền tần tảo nuôi con là những người vợ đảm đang thủy chung là những người con hiếu thảo với cha mẹ...Phải tự hào rằng trong mọi thời người mẹ Bình Định đều làm tròn bổn phận của mình do lịch sử giao phó mặc dù phải chịu bao nổi tủi nhục đắng cay. Trong bất kì hoàn cảnh nào tình thương của người mẹ vẫn tỏa sáng làm dịu đi những nổi đau của những mãnh đời bất hạnh. Đức hy sinh của người mẹ Bình Định thật non chồng bể chứa càng nghèo khó bao nhiêu càng sâu đậm bấy nhiêu:

Trời giông gió lọt song hồ
Chổ ướt phần mẹ chổ khô con nằm
Đường xa sức mỏi chân rần
Chén cơm kiếm được nhịn phần con ăn.
Những truyền thống bản sắc tốt đẹp đó đã được các thế hệ PNBĐ kế thừa và phát huy. Có thể nói đây không chỉ là niềm tự hào của riêng PNBĐ mà còn là một thứ tài sản quí báu của địa phương.

  • Bảo Huy

More...

Võ Bình Định - gìn giữ của báu - Kỳ 1

By Tinh Khuc Quy Nhon

Võ Bình Định - gìn giữ của báu

Kỳ 1: Giữ chiêu pháp đặc thù

(TT-16/09/2008) _ Được đặt móng từ những lớp cư dân Đại Việt từ Đàng Ngoài đến khai mở vùng đất được xem là phiên trấn địa đầu vào cuối thế kỷ 15 võ Bình Định từ đó không ngừng phát triển. Đến vương triều Tây Sơn (1778-1802) nền võ thuật Bình Định được coi đã đạt đến đỉnh cao của phát triển.
Hình ảnh
Lão võ sư Phan Thọ luyện quyền cho võ sinh lớp buổi tối tại sân võ nhà ông- Ảnh: H.V.Mỹ

Được duy trì gần như xuyên suốt thời gian võ Bình Định bây giờ được xem là di sản văn hóa độc đáo không chỉ của người Bình Định. Phải gìn giữ ra sao cho phải đạo? Câu hỏi thật nhiều trăn trở.

Cơn mưa chiều vẫn không làm các bạn trẻ quanh xã Bình Nghi Bình Thuận (huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định) bỏ qua buổi học võ mà với họ "quý và cần không khác những con chữ". Với họ giờ đây còn được chính những vị võ sư trưởng lão trong vùng truyền dạy võ nghệ là một may mắn lớn.

Những lão võ sư còn lại

7 giờ tối sân nhà lão võ sư Phan Thọ ở làng Thủ Thiện Thượng (xã Bình Nghi) đã gần kín chỗ khi hơn 30 võ sinh trong vùng đến tập luyện. Lão võ sư Thọ 84 tuổi cầm côn múa mẫu cho một số võ sinh múa theo. "Mỗi bài tập thầy chỉ bày vài ba buổi đầu. Tiếp theo chúng em sẽ tự luyện tập chỗ nào sai sót sẽ có lớp anh chị chỉnh sửa cho. Cũng như học văn học võ quan trọng là học ở bạn bè ở lớp anh chị" - võ sinh Từ Thị Oanh đang là học sinh lớp 11 nói.

Theo võ sư trẻ Phan Thanh Sơn cách làng Kiên Mỹ - quê hương của Tây Sơn tam kiệt (Nguyễn Nhạc Nguyễn Lữ Nguyễn Huệ) - chỉ chừng 7km về hướng đông xã Bình Nghi có đến năm sân võ những võ sư chủ sân như anh đều là môn đệ của lão sư Phan Thọ - một chưởng môn phái nổi danh của đất Tây Sơn mà tiêu biểu là về quyền thuật được gọi quyền An Vinh (quê hương của nữ đại đô đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân).

Nhưng không chỉ với đường quyền nổi tiếng lão sư Thọ còn được xem là vị võ sư duy nhất còn lại của đất võ Bình Định thông thuộc 18 môn (loại) binh khí (roi siêu kiếm đao thương kích...). "Võ Tây Sơn - Bình Định hùng mạnh là nhờ người xưa biết đưa võ cổ truyền của các dân tộc thiểu số vùng cao thêm vào" - võ sư Thọ nói.

Sân võ của lão võ sư 70 tuổi Hồ Sừng ở làng Hòa Mỹ (xã Bình Thuận) liên thông với sân võ của võ sư Hồ Văn Bé - con trai thứ của ông - bởi hai nhà nằm kề nhau. Võ sư Sừng nắm ngọn ngành về môn phái võ Thuận Truyền mà ông cha mình có công vun đắp. Lão sư Sừng kể chính ông bà cố của ông - ông Hồ Triêm và bà Lê Thị Quỳnh Hà - đã chấn hưng nền võ Thuận Truyền.

Theo nhiều người trong vùng có lẽ nỗ lực chấn hưng miền võ Thuận Truyền của bà Quỳnh Hà với lời truyền tụng lưu lại đã luôn lôi cuốn phái nữ trong vùng theo học võ thuật. "Từ nhỏ nghe câu ca dao Ai về Bình Định mà coi/Con gái Bình Định đi roi đi quyền em đã muốn học võ rồi. Đến khi biết nguồn gốc ngọn roi nổi tiếng của Thuận Truyền em lại càng chăm luyện tập" - Phạm Thị Nhượng học sinh lớp 10 ở làng Hòa Mỹ từng đoạt nhiều giải cao trong các cuộc thi võ thuật cấp tỉnh quốc gia nói. Cũng như võ sư Sừng bày tỏ: "Bởi vậy mỗi khi thắp hương trước tổ đường nghĩ về bà Quỳnh Hà cha con tui thấy nặng ơn bà lắm".

Đường quyền danh tiếng

Những võ sinh ở lớp học với lão võ sư Lâm Ngọc Phú ở làng An Thái (xã Nhơn Phúc huyện An Nhơn) có nhiều trình độ khác nhau tất cả đều cần mẫn luyện tập răm rắp theo từng thao tác mẫu của thầy. "Chỉ còn chưa đầy tuần nữa em phải vào học ở Đại học Kinh tế TP.HCM. Được thầy Phú dạy em thấy võ thuật rất có ý nghĩa nhất là môn quyền An Thái" - Lê Văn Thắng nhà ở xã Bình Nghi kề bên nói. Quyền An Thái từ lâu nổi tiếng là "đặc sản" trong nền võ cổ truyền Bình Định.
Hình ảnh
Võ sư Lâm Ngọc Phú trưởng môn phái An Thái - Bình Định luyện quyền cho các võ sinh - Ảnh: H.V.Mỹ
Theo lão sư Phú (74 tuổi) "ông tổ" quyền An Thái chính là Hoa kiều Diệp Trường Phát - thường được quen gọi là Tàu Sáu (*). "Tuy học thầy Tàu Sáu nhưng ông cha mình biết kết hợp với nhiều phái võ cổ truyền khác nên bài bản của mình có phần phong phú đa dạng hơn. Nhờ vậy trong mấy cuộc thi võ cổ truyền Bình Định mới đây người làng võ An Thái đoạt được giải cao ở các môn lăn khiên múa song kích bởi đây là những môn của võ Thiếu Lâm mà An Thái học được" võ sư Phú nói.

Đỉnh cao nền võ thuật cổ truyền Bình Định chính là sự xuất hiện của Tây Sơn tam kiệt với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vang dội lịch sử. Tây Sơn hạ đạo (nay là huyện Tây Sơn) là nơi sinh ra Tây Sơn tam kiệt còn vùng đất An Nhơn liền kề bên dưới lại là nơi truyền thụ cho họ thao lược để làm nên nghiệp lớn. Được đặt móng từ những lớp di dân mở đất phương Nam từ cuối thế kỷ 15 đến thời Tây Sơn khởi nghĩa võ Bình Định đã phát triển rất cao đến mức nhiều phụ nữ cũng rất giỏi võ nghệ.

Theo võ sư Phú người dân trong vùng truyền nhau rằng hai anh em Nguyễn Lữ Nguyễn Huệ và Võ Văn Dũng - đại đô đốc nhà Tây Sơn từng là môn sinh của vợ chồng võ sư Đinh Văn Nhưng (có thân phụ từ tỉnh Ninh Bình vào) ở làng Thanh Liêm xã Nhơn An cạnh xã Nhơn Phúc. Và trước ngày phất cờ khởi nghiệp ba anh em Nhạc - Lữ - Huệ cùng một số bằng hữu - sau đều trở thành danh tướng Tây Sơn - còn được vị thầy đồ kiêm võ sư Trương Văn Hiến từ Đàng Ngoài vào ở làng An Thái truyền dạy cho văn chương thao lược.

Cũng như một ít sân võ khác ở Bình Định bên cạnh lớp đêm sân võ của lão võ sư Trương Văn Vịnh ở làng Kỳ Sơn (xã Phước Thuận huyện Tuy Phước) còn có lớp vào lúc tinh mơ. "Tụi em thức dậy ôn bài từ 4 giờ rồi đến đây luyện tập chừng hơn một giờ là về đi học" - Nguyễn Tấn Sang học sinh lớp 11 ở làng Vinh Quang kề bên nói. Ở tuổi 74 tuy gầy nhưng võ sư Vịnh trông rất năng động khỏe khoắn bởi sự nhanh nhạy và vẻ sắc sảo của ánh mắt. Võ Bình Định đã được người nhiều nơi học và tiếng tăm cũng được truyền đi cả đến nước ngoài.

Thật đáng phấn khích võ sư Vịnh nói thêm phần thưởng cao quý mà ông cũng như người đất võ Bình Định có được là việc ông cùng ba võ sư trẻ Bình Định được mời dự Đại lễ Quán khí đạo châu Âu lần 4 tại Ý và Romania cuối tháng 10-2007. Với hai bài biểu diễn quyền và côn điêu luyện của mình ông đã được ban tổ chức đại lễ tặng bằng tri ân với danh vị "đại danh sư". "Hai màn biểu diễn quyền roi của tui được khen ngợi chính là nhờ những cái riêng từ quyền thuật của phái võ miền hạ nguồn này trong cái chung của nền võ Bình Định. Cũng chính nhờ vậy mà tui tuy có tuổi tác vẫn còn diễn xuất tốt những tinh hoa của quyền thuật được truyền lại nơi vùng đất này" võ sư Vịnh nói.

Theo ông Nguyễn Minh Hùng - phó tổng thư ký Liên đoàn Võ thuật tỉnh Bình Định toàn tỉnh hiện có hơn 100 võ đường (sân võ) dạy võ cổ truyền Bình Định do các võ sư huấn luyện viên đảm trách. Tất cả huyện thị trong tỉnh đều có chi hội võ thuật cổ truyền ở những huyện miền núi thì có câu lạc bộ võ thuật cổ truyền.

HUỲNH VĂN MỸ

More...

Chỉ thêu nên gấm - Nguyễn Thanh Mừng

By Tinh Khuc Quy Nhon

Chỉ thêu nên gấm

Song song với danh xưng "miền đất Võ" lịch sử văn hoá Bình Định cũng minh định đây là vùng đất rất trọng chữ nghĩa rất trọng văn chương nghệ thuật và thực tế đã sản sinh cũng như nuôi dưỡng làm đất phát tích của nhiều tao nhân mặc khách những trang hàn mặc siêu đẳng.

Có thể diễn đạt một cách văn hoa là vòng tay nhân dân bao đời sẵn sàng rộng mở và chào đón những văn tài và họ tự hào về những tác gia và tác phẩm mang đậm dấu ấn vùng đất chẳng kém gì niềm tự hào về chiến công của những anh hùng trên quê hương này. Nguồn cảm hứng của nhân dân được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác đến nỗi có những làng xa xóm vắng người nông dân sau buổi cày là tụ tập bên bờ ruộng hoặc trong chòi tranh một cút rượu vài con cá nướng là có thể say sưa bình tán về thơ ca cho đến khi trăng mọc rồi đến cả trăng tàn. Người ta có thể hỏi rằng ở đây từ trong truyền thống hằng năm có lễ hội dành cho chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung và hằng bốn năm một lần có cả một lễ hội dành riêng cho võ thuật là Hội Đổ Giàn sao chẳng có riêng một lễ hội cho Thơ ca nói riêng như kiểu ngày nay có Ngày Thơ Việt Nam? Xin thưa: từ trong truyền thống lễ hội cho thơ ca lễ hội cho văn chương nghệ thuật đã lên ngôi trong những đêm khuya bên ngọn đèn dầu như vậy thơ và hành trang của các sĩ phu yêu nước những nhà thơ Bình Định những Đào Duy Từ Đào Tấn Tăng Bạt Hổ Mai Xuân Thưởng Nguyễn Bá Huân Nguyễn Trọng Trì Đào Phan Duân Hồ Sĩ Tạo Hàn Mặc Tử Quách Tấn Xuân Diệu Chế Lan Viên Yến Lan... đã được ôm ấp bằng những tấm lòng say sưa huyền hoặc như vậy. Dường như nội hàm phong tục tập quán của Bình Định đã dung chứa những nghi thức không ồn ào và hết sức bền vững ấy những nghi thức xuất phát từ sự thành tâm. Mấy chục năm đi thực địa ở những thôn cùng xóm vắng tôi đã được từ các bô lão đến những người trẻ tuổi một nắng hai sương nhiệt tình gửi trao những văn bản hoặc ký ức mà họ lưu giữ với một tình yêu văn chương có thể nói là vô bờ bến. Mà chuyện văn chương đâu phải ngưng lại ở địa hạt văn chương. Đằng sau