Võ Tây Sơn - Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Võ Tây Sơn - Bình Định

Tây Sơn - Bình Định là một địa danh võ thuật. Nơi đây cũng là nơi phát tích của nhà Tây Sơn mà lịch sử đã ghi dấu ấn những chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung với một đội quân được luyện tập nhuần nhuyễn về võ thuật. Câu ca dao đầy khí phách của đất Bình Định vẫn còn lưu truyền cho thấy võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng dấp của võ cổ truyền dân tộc: Ai vô Bình Định mà coi/Con gái Bình Định múa roi đi quyền.

* Phát tích của võ thuật

Võ thuật là bản năng sinh tồn của nhân loại. Lúc đầu lập quốc tổ tiên ta đã phải chống chọi với biết bao sự vật đổi sao dời của thiên nhiên cùng nguy hiểm do bầy ác thú gây ra. Có một rẻo đồng bằng ven biển chật hẹp ba bề núi chắn con người dân không lúc nào không dùng võ thuật chiến đấu với ác thú với ngoại xâm để sinh tồn. Như vậy gọi võ thuật là bản năng là lợi khí sinh tồn của nhân loại không phải là không đúng! Ba anh em nhà Tây Sơn thời đó được gửi học võ tại võ đường của một bậc trượng phu - võ sư Trương Văn Hiến. Ông dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm võ. Người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Vị sư phụ họ Trương dẫn dắt trai tráng đến đất võ bằng đường văn! Trong dân gian từng gia đình có sự truyền thụ rất công phu để cháu con lên rừng ra rẫy không e ngại muông thú có việc đi đường xa không sợ đạo tặc. Giỏi võ trước hết là để giữ mình để làm người trượng phu không làm kẻ giặc bạo tàn! Do đó nhân nghĩa lễ trí tín là những quy pháp trong võ thuật.

Võ Bình Định ra đời rất sớm quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái sáng tạo những bài quyền bài kiếm bài roi độc đáo... Những làng võ một thời như Thuận Truyền An Thái An Nghi Bình Nghi của đất Tuy Viễn Bình Khê; những bậc thầy như võ sư Hồ Ngạnh Hà Trọng Sơn... đã rèn luyện nên nhiều thế hệ học trò hiện vẫn kế tục và phát triển võ nghiệp. Ngày nay nếu về thăm Tây Sơn gặp cụ Phan Thọ tuổi ngoại 70 và có dịp xem cụ biểu diễn bài "Trường đao hiệp nghĩa" mới cảm nhận được phút giây như sóng dâng bão cuốn gió mây vần vũ mà bài võ thể hiện!

* Đặc điểm của võ Tây Sơn

Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiếp thu tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác nhau để xây dựng dòng võ Tây Sơn với những đặc điểm riêng.

Tính dân tộc: Trong các chiến công của Hoàng đế Quang Trung người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp giữ vai trò rất quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh biến hóa khôn lường lấy thủ làm công lấy công giữ thủ song toàn hư thật bất phân khéo léo trăm bề tư thế nghìn nẻo làm cho đối phương rất khó chống đỡ. Ông Nguyễn Lữ em Nguyễn Huệ đã làm cho võ thuật Việt Nam trở thành một trường phái độc đáo không kém võ Trung Quốc. Người Việt ta có thân hình bé nhỏ sức khỏe hạn chế so với người Tàu. Võ Trung Quốc phải luyện từ 10 năm trở lên. Muốn cho các chiến sĩ Tây Sơn tinh thông võ nghệ trong một thời gian ngắn thì phải luyện theo cách khác. Nguyễn Lữ nghiên cứu các thế gà đá nhau áp dụng vào võ thuật từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh dùng mềm thắng cứng. Ông cũng nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn xỏ vỉa từ đó tạo ra các thế lặn hụp tránh né đến phản công. Cuối cùng ông đã sáng tạo ra bài quyền mang tên "Hùng Kê Quyền". Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm".

Tính truyền thống: Trước đây người dân Bình Định đều biết võ để tự vệ. Họ truyền cho nhau trong thôn xóm bản làng. Với người thân thì cha truyền cho con chồng truyền cho vợ anh truyền cho em... Nhờ đó những bài võ từ thời xa xưa vẫn được lưu truyền. Võ Bình Định đã có nhiều môn phái khác nhau nhưng tựu trung vẫn giữ truyền thống của miền đất võ. Cách đây hơn sáu năm đoàn võ thuật Bình Định gồm Kim Dũng Đinh Tuấn Văn Cảnh... nhiều lần sang Pháp giảng dạy theo lời mời của Liên đoàn Võ thuật Paris Marseille Orion và nhiều địa phương khác đã để lại niềm tự hào cho những người đồng hương sống trên đất khách quê người. Các nữ võ sĩ thuộc Câu lạc bộ Võ thuật Paris rất thích thú thán phục bài thảo "Ngọc trản" đầy biến hóa mềm mại như điệu múa khi sử dụng nhu công và hài hòa như một bức tranh khi cương nhu phối hợp. Bài thảo được trình diễn một cách hoàn hảo về nghệ thuật về sức mạnh thể hiện nét đẹp vốn có của võ Tây Sơn - Bình Định. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ võ đạo xưa. Những điều nên làm nên tránh đối với các môn sinh vẫn giữ nguyên và ba điều tâm niệm chính là: Kính tổ - Trọng thầy - Mến bạn.

Tính đa dạng và liên hoàn: Võ Tây Sơn - Bình Định rất đa dạng và phong phú. Bất cứ môn phái nào cũng theo bí quyết quyền thuật một sức mạnh tổng hợp dung hòa trên dưới trái phải trước sau. Phép dùng liên quan với nhau của lực họp chia ra nội tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên trong là tinh khí thần. Ngoại tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên ngoài là thủ nhãn thân. Trong ngoài hợp với nhau đó là lục hợp. Có được như vậy mới đủ khả năng thắng địch thủ. Tính liên hoàn rõ nét trong việc sử dụng 18 ban binh khí chia ra 9 loại võ khí dài và 9 loại võ khí ngắn. Dù bất cứ loại võ khí nào cũng đều không ra ngoài 6 điểm: chém xuống chém ngang hất lên gạt xuống lướt qua và đè. Từ khi nhà Tây Sơn sập đổ Nguyễn Gia Long vẫn sợ "oai hùm" nên cấm ngặt toàn bộ 18 ban binh khí của quân đội Tây Sơn - những vũ khí lợi hại làm nên sự bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung ở thế kỷ 18. Mãi đến khi Bảo tàng Quang Trung được thành lập năm 1979 mới thu gom được 9 môn. Hiện nay các võ sinh ở Bảo tàng Quang Trung thường biểu diễn khi khách trong và ngoài nước đến tham quan.

* Sự liên quan giữa võ Tây Sơn và võ Bình Định

Trước thời Tây Sơn ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những người này có thể là tướng sĩ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp cũng có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam trú ngụ tại vùng Quy Nhơn An Nhơn. Người Bình Định vốn ưa học võ đã học thầy học bạn rồi dung hòa cải tiến dần. Theo cụ Hồ Ngạnh ba anh em Tây Sơn cũng học võ như mọi người nhưng nhờ óc phán đoán thiên tư võ thuật nghiên cứu tinh thâm đã gạn lọc được những tinh hoa võ thuật hệ thống lại và tạo thành phái võ riêng. Công trình này cũng có sự đóng góp của nhiều tướng lĩnh Tây Sơn. Sau đó võ Tây Sơn được phổ biến hạn chế trong quân đội. Những người này nắm được một số chân truyền của môn phái rồi truyền dạy lại cho con cháu học trò. Lại pha trộn thêm võ Bình Định hoặc cải cách ít nhiều để tránh sự nhòm ngó của triều Nguyễn. Cũng theo cụ Hồ Ngạnh võ Tây Sơn võ Bình Định đều là võ dân tộc Việt Nam. Môn phái nào cũng hay. Tuy nhiên có vài đặc điểm khác nhau là võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý được biến đổi qua các dòng họ được chân truyền của môn phái; còn võ Bình Định được truyền dạy tương đối tùy tiện thêm bớt sửa đổi những điều mình đã học để dạy lại cho học trò. Lâu dần võ Bình Định chuyên về cương công - công phu cứng rắn xa dần nhu công - công phu mềm dẻo. Võ Bình Định thích hợp với người có thể chất khỏe mạnh nên mới có câu "Võ dĩ dũng vi bán" - võ lấy sức mạnh làm một nửa những người ốm yếu khó học được. Ngược lại võ Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu. Càng luyện tập võ sĩ thuộc phái Tây Sơn càng mềm dẻo nhưng càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên về ngoại công - công phu luyện tập bằng chân tay võ khí ít chú trọng về nội công hít thở vận khí như võ Tây Sơn.

. Theo Thiếu Lâm

More...

XỨ NẪU - PHAN THANH BÌNH

By Tinh Khuc Quy Nhon

Trách Thân

Trình bày: Ca sĩ Hoài Linh

Thân trách thân nè. Thân sao ch ln đn nè
Mình trách mình nè s
phn ch sao hm hiu
Ch
bi thân tui Tui cc kh tui eo nghèo
Nên v
tui nó mi không na
Mà nó theo N
u ri...

Em
ơi ch bây gi
Em
kìa nơi đâu?
Ch
đ
cho anh nè
Anh trông đ
ng na trông ngi

R
i canh khuya ch hi nào
Qua Phú L
ăn i chua
Ch
xung Đi Lãnh ung nước ngót
Ch
qua Hòn Da ăn mc nang
Ch
bây gi em không ngó na

Em không ngàng đ
ến
Ch
ng nghèo nó cc kh
Mà gian nan nó c
ơn...

H
i nào ch em tht nghiêp em đi lang
thang
Ch
anh thy em na ti nghip

Anh v
i má anh nuôi ry
Ch
hi nào em bán nước đá
Cái r
i anh đi may
Hai đ
a mình nè chung sng
Ch
không biết ngày ri
Mai sau
Ch
hi nào em bt c. Cái ri anh hái rau.
Bây gi
em đ li mi su ...cho Qua

H
i nào trái chui chín... Cũng cn làm ba
Ch
trái cam tươi cũng cn... Làm bn
N
a trái cà cũng cn làm năm
Ch
bây gi em ly Nu

Em ăn n
m em b Qua
Ch
Qua hiu qunh Vì năm canh mt mình...

Anh bây gi
khoé mt su c rung rinh
Có gi
t l su git l than
Nh
ư nước trong bình nó tuôn ra
Anh bây gi
như con Cuc nó kêu tù qua
Ch
nó l đôi nó l bn
Í qu
ơ chú cha ơi.... là bun! 
 
Xứ Nẫu  
PHAN THANH BÌNH
 
 
Ảnh: ĐÀO TIẾN ĐẠT

Bạn bè phương xa hay gọi Phú Yên quê tôi là xứ Nẫu. Một lần đồng nghiệp phương Nam du thuyền trên biển Vũng Rô vui miệng hỏi rằng: "Vì sao quê ông được gọi là xứ Nẫu. Nẫu có nghĩa là sao?". Ba Đà Rằng tôi toát mồ hôi hột lúng túng như gà mắc tóc định bụng giải thích ấm ớ cho qua thế nhưng mồm miệng cứ lúng búng lùng bùng như ngậm hột thị bởi chưng quá bí nói chẳng nên lời. Vậy là đành cất công tìm hiểu một từ phương ngữ đặc trưng của quê mình và cũng vỡ ra đôi điều. Xung quanh chữ Nẫu dài lắm xin tóm lược như sau: Năm 1558 chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào nhận trọng trách Tổng đốc Thuận Quảng (Thuận Hóa Quảng Nam) ra sức củng cố cơ nghiệp đất phương Nam theo lời dạy của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân" (Một dải hoành sơn đủ để tạo cơ nghiệp muôn đời). Lúc ấy Thừa Tuyên (đơn vị hành chính cấp tỉnh) Quảng Nam kéo dài từ nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông. Năm 1578 chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan đưa lưu dân (người nghèo không sản nghiệp) khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả. Sau 33 năm khai phá vùng đất mới hình thành làng mạc năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên (trực thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam) gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629 chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh. Cả xứ Đàng Trong từ Quảng Bình vào Phú Yên có bảy dinh). Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hóa dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như phường nậu man. Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề người đứng đầu gọi là đầu nậu. Sách Đại Nam Thực Lục (tiền biên) ghi rõ: "Nậu nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng rồi chỉ làng xóm và sau nữa thành tên một đơn vị hành chính quản lý một nhóm người có cùng một nghề". Ví dụ: "Nậu nguồn" chỉ nhóm người khai thác rừng "Nậu nại" chỉ nhóm người làm muối "Nậu rổi" chỉ nhóm người bán cá "Nậu rớ" chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ "Nậu cấy" chỉ nhóm người đi cấy mướn "Nậu vựa" chỉ nhóm người làm mắm... Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong năm 1726 chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như "Thuộc" "Nậu" bị xóa bỏ. Khái niệm thành tố chung cấp hành chính "Nậu" được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba. Từ "Nậu" không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ: Ví dụ: - Chiều chiều mây phủ Đá Bia Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng Mất chồng như nậu mất trâu Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm. - Tiếc công anh đào ao thả cá Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu. - Ai về nhắn với nậu nguồn Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên. Từ chữ "Nậu" ban đầu phương ngữ Phú Yên-Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy bà ấy được thay bằng: "ổng" "bả". Anh ấy chị ấy được thay bằng: "ảnh" "chỉ". Và thế là "Nậu" được thay bằng "Nẩu". Nẫu đã đi vào ca dao Bình Định Phú Yên khá mượt mà chân chất: Thương chi cho uổng công tình Nẩu về xứ nẩu bỏ mình bơ vơ. Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam) với "mô tề răng rứa chừ" vượt qua đèo Bình Đê (ranh giới Bình Định - Quảng Ngãi) được đổi thành "đâu kia sao vậy giờ". Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (Bình Định - Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu-Phú Yên) các âm dấu ngã đều phát âm thành dấu hỏi. Riêng đồng bằng Tuy Hòa khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã. Bởi vậy "Nẩu" hay được phát âm là "Nẫu". Đồng bằng Tuy Hòa trù phú nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ "Nẩu" theo phát âm quen miệng thành chữ "Nẫu". Một thời cơ cực thành ngữ "buồn nẫu ruột" "trái cây chín nẫu" (chín úng)... cũng góp phần hóa thân chữ "Nẩu" thành chữ "Nẫu". Vậy là chữ "Nẫu" theo kiểu phát âm phương ngữ trở thành từ cửa miệng đi vào thơ ca báo chí. Đặc biệt chữ "Nẫu" chết tên với vùng đất Phú Yên khi nhạc sĩ Phan Bá Chức ký âm bài Trách phận (còn gọi là "Nẫu ca") dân ca Phú Yên theo điệu Xuân Nữ của dân ca bài chòi Khu V do Nguyễn Hữu Ninh sưu tầm trong dân gian được thể hiện bởi nghệ sĩ Hoài Linh - Việt kiều gốc Phú Yên. Hồi còn tỉnh chung Phú Khánh Ba Đà Rằng này làm thư ký giúp việc cho nhà thơ Văn Công (quyền chủ tịch tỉnh) theo ông về các địa phương thúc giục chuyện nghĩa vụ "lúa lang lợn lạc" cho tỉnh. Tỉnh quá xa địa phương nào cũng có nhu cầu phát triển riêng của mình tìm mọi cách giữ lại chút ít để "lo phận mình" tỷ như xây dựng trụ sở UBND thị xã Tuy Hòa năm 1985 bị quy chụp là cục bộ. Bà con không buồn phiền gì chuyện đó và bào chữa thật dễ thương: Tỉnh dài huyện rộng xã to Nẫu lo phận nẫu mình lo phận mình. Còn nếu cán bộ cấp trên về ép việc này việc nọ thì cũng có câu phản kháng nhẹ nhàng: Nẫu dìa (về) thì mược nẫu dìa Lăng xăng lít xít nẫu chê nẫu cười. Còn Ba Đà Rằng này tài sơ trí thiển Nẫu nói gì mược Nẫu (người ta nói gì mặc người ta) cũng bạo gan trao đổi đôi điều về "Nậu-Nẩu-Nẫu" như một nhàn đàm vui đón xuân. Rất mong các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo để sáng tỏ thêm một từ phương ngữ đặc trưng của Nam Trung bộ.
(Nguồn Pháp Luật TPHCM Online)

More...

Comment hay lời tự tình cùng quê hương yêu dấu của Uyên Phương

By Tinh Khuc Quy Nhon

Comment hay lời tự tình cùng quê hương yêu dấu của Uyên Phương

Uyên Phương | 11/04/2009 09:44

Hôm nay bỗng dưng mình lạc vào trang web này . Thật vui khi đọc xong mấy bài thơ và nghe bản nhạc : Thương về Bình Định Quy Nhơn và xúc động khi nghe xong bản nhạc : Thương về Bình Định Quy nhơn .

Mình xin góp mấy vần thơ cóc nhái của mình về Bình Định dấu yêu .


Trời wơi ! Ai ngờ nẫu cũng đồng hương
Nghe qua sao thấy mến thương quá trời !
Hôm nào nẫu ghé sang chơi
Kể chuyện xứ nẫu rầu mình cùng đi
Dzề quê ăn bữa củ mì
Cho đã cái bụng mấy khi có ngừ
Rầu ra thăm biển Quy nhơn
Dạo này bờ biển đẹp hơn thở nào
Chiều dzề dạo biển ui chao !
Con còng nhỏ lớn thi nhau bò đầy .

Uyên Phương
















Và mình xin góp thêm bài nữa :


Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy vợ Bình định cho dài đường đi " ( ca dao )
Đi xa nhớ xứ củ mì
Tình người xứ nẫu khắc ghi trong lòng
Mỗi năm vài bận về thăm
Quê Mẹ yêu dấu bao năm xa rời
Câu thơ xứ nẫu bồi hồi
Khiến tôi nhớ Mẹ đứng ngồi không yên
Rời quê mấy chục năm liền
Tôi đi xa xứ đến miền sơn khê
Giờ đây tôi cũng muốn về
Để nghe tiếng nẫu chân quê thật thà
Mai này dù tận trời xa
Nghe giọng xứ nẫu sao mà thân thương !


Chúc các đồng hương xứ nẫu luôn An lành Hạnh phúc và Thành công trong cuộc sống
Uyên Phương

More...

Lối nay… xe ngựa

By Tinh Khuc Quy Nhon

Lối nay... xe ngựa

Cách đây chừng hơn chục năm trên các nẻo đường vẫn thấy hình ảnh những chiếc xe ngựa hòa nhịp cùng tiếng lục lạc; những con ô con tía... nhẩn nha gặm vệt cỏ ven đường. Thế nhưng càng ngày hình ảnh ấy càng thưa vắng. Sợ rồi đến một ngày chẳng còn vết tích của chiếc xe ngựa ngày xưa...

 
 

Phút nghỉ ngơi bên đường.

* Quá vãng vàng son

Ông Năm Bình ở thôn Tây Phương Danh thị trấn Đập Đá huyện An Nhơn là một trong những người có thâm niên bậc nhất trong nghề cầm cương. Ông Năm lái xe ngựa từ năm 18 tuổi chính thức "nghỉ hưu" từ năm 1999. Ban đầu ông theo người đi đua ngựa khắp Phù Mỹ Tây Sơn... Qua đó ông học được cách chăm sóc ngựa. Tiếp đến ông nhận chạy xe ngựa cho Hợp tác xã 30 tháng 3. Ông nhớ lại thời hoàng kim của xe ngựa cách đây chừng 9 - 10 năm khi nhà ông có tới 5 cỗ xe ngựa cho 5 người con trai. Những cỗ xe ngựa nhà Năm Bình nổi tiếng cả một vùng. "Dạo ấy còn những con đường đất đầy ổ trâu ổ gà xe ngựa là phương tiện cơ động nhất. Ngày nào cha con tôi cũng tất bật phải dậy từ lúc tờ mờ sáng đi chở hàng đến tối mịt mới về nhà. Vậy mà còn bị khách hàng la ó nài nỉ vì không đáp ứng đủ nhu cầu" ông kể.

Hai địa điểm tập trung xe ngựa nhiều nhất là ngã ba Bến Xe Ngựa (nay thuộc thôn Cẩm Văn xã Nhơn Hưng) và ngã tư thị trấn Bình Định mỗi bến tập trung hơn 50 xe. Trong ký ức của ông Sáu Thẹo (ở thôn Phương Danh thị trấn Đập Đá) vào thời Pháp thuộc tuyến đường xe ngựa nổi tiếng nhất là ngã ba Bằng Châu đi Bồng Sơn. Tại bến ấy lúc nào cũng sầm uất tấp nập ngựa xe người đi buôn và hàng hóa. Thời chống Mỹ và sau giải phóng có 4 tuyến đường chính. Tuyến thứ nhất từ Đập Đá đi Tháp Trụ (Nhơn Hậu) từ đó lội qua sông Côn đi An Thái. Tuyến thứ hai từ Bình Định đi An Thái. Tuyến thứ ba từ Bình Định đi Gò Bồi. Tuyến thứ tư từ Cẩm Văn (Nhơn Hưng) đi Nhơn Hạnh.

Ông Sáu Thẹo thường được gọi bằng cái tên thân mật "ông Sáu xe ngựa" bởi cả đời gắn bó với con ngựa và chiếc xe ngựa chở hàng hóa. Năm nay gần 70 tuổi nhưng ngày nắng cũng như mưa ông và con Kim vẫn rong ruổi khắp nơi. Ông Sáu cũng một thời là thành viên của Hợp tác xã 30 tháng 3. "Hồi ấy hàng hóa nhiều lắm cứ một ngày xe lam một ngày xe ngựa thay phiên nhau chuyên chở chẳng anh nào dám lấn anh nào. Những năm đầu sau giải phóng xe ngựa rất có giá. Người ta vẫn ví von: Một chiếc Toyota không đổi được một con ngựa ông Sáu. Khi đường sá chưa được bê tông hóa cầu cũng chưa được làm kiên cố thì sõng và xe ngựa là hai phương tiện thuận lợi nhất. "Nhất sõng nhì ngựa mà lại" ông nháy mắt hóm hỉnh.

Cứ thế sớm ngày đến tận đêm ngựa chở bắp mì khoai lang giấy bản tơ lụa bún Song Thằn rượu Bàu Đá... từ An Thái Cây Bông lộc cộc chạy xuống; ngựa thồ cá tôm nò rẩu lúa nếp nước mắm chiếu cói... từ Giã vạn Gò Bồi chợ Nước Mặn... hộc tốc chạy lên. Cũng trên những con đường xe ngựa đó những cỗ xe bánh gỗ lắc lư chồn chân ngựa kéo chở chật cứng người và đủ các loại hàng đi về các nẻo trong những ngày chợ quê họp. Người xưa đôi khi vẫn giật mình thức giấc vì một tiếng ngựa hí dài vẳng xa tiếng nhạc ngựa lốc cốc lòng nôn nao hoài niệm về những ngày thơ ấu đu xe ngựa chạy bộ theo xe ngựa mệt nhưng lòng ngập tràn niềm vui...

 
 

Ông Sáu Thẹo đang chăm sóc chú ngựa Kim của mình.

* Đìu hiu xe ngựa

Con Kim của ông Sáu Thẹo đã hơn 20 tuổi nhưng vẫn rắn rỏi oai phong lắm. Ông bảo đó là nhờ ông biết cách chăm sóc. Ngựa có thể chở tối đa 1 5 tấn hàng nhưng mình thường cho chở khoảng 800 kg đến 1 tấn thôi. Ngựa có thể chạy tối đa 10 km/h nhưng nên duy trì ở mức 7 km/h. Cách chăm sóc ngựa tốt nhất là cho ăn no uống kỹ. Thức ăn chủ yếu là cỏ tươi và lúa ngâm gạo nấu cháo. Ngựa rất thích uống nước mật đường đen hòa loãng. Vào những ngày làm việc nặng nhọc nên bổ sung vào thực đơn cho ngựa ít trứng gà.

Thường ngựa khoảng hơn 5 tuổi là bắt đầu kéo xe được. Tuổi thọ làm việc của ngựa phụ thuộc vào cường độ làm việc của ngựa và sự chăm sóc của chủ xe. "Những hôm chở hàng nặng thời tiết nóng bức phải có chế độ bồi bổ riêng. Kinh nghiệm của tôi để ngựa phục hồi nhanh cứ trước bữa ăn chừng nửa giờ lấy lòng đỏ trứng gà đánh với bia cho ngựa uống. Mùa mưa lụt lội không có cỏ tươi thì cố gắng bù bằng cháo nếp đừng để ngựa bị đói. Ngựa "khó tính" hơn trâu bò nhiều cỏ hôi cỏ úa nước dơ nó hất đổ chứ nhất quyết không chịu uống" ông Sáu cho biết. 

Quãng 10 năm trở lại đây thu nhập từ xe ngựa không đủ sống con cái của ông Năm Bình đều đã chuyển nghề. Chỉ có người con thứ năm anh Nguyễn Ngọc Đức còn theo nghề xe ngựa. Năm 2004 anh Đức mua con Kim dự định gắn bó với nghề xe ngựa. Không lâu sau anh ốm nặng qua đời. Vợ anh chị Cao Thị Thu Tâm vừa nối nghề chồng lái chiếc xe ngựa mưu sinh vừa tập cho hai con trai. Giờ hai anh em Lộc Lợi đã lái xe thành thạo thay phiên nhau một buổi đi học một buổi chở hàng. "Thu nhập ngày càng giảm nếu trước đây chở một tấn gạo từ thị trấn Đập Đá về Cảnh Hàng được trả ba chục ngàn nay xe độ "phá giá" chạy có hai chục vậy là xe ngựa cũng đành hạ xuống. Giờ người ta cũng ít kêu xe ngựa chúng tôi chủ yếu chở giỏ tre đựng trứng gà trứng vịt. Đến mùa dịch cúm người ta không kêu chở nữa thì không biết gì mà chở. Ngày có hàng chở thu nhập chừng năm chục ngàn nhưng cũng phải mua thức ăn nước uống cho ngựa hết mười lăm ngàn" chị Tâm chia sẻ.

Hiện giờ trên toàn tỉnh số lượng xe ngựa có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thị trấn Đập Đá 3 xe; thị trấn Bình Định xã Nhơn Hạnh An Thái mỗi nơi còn 2 xe; Nhơn Thành còn 1 xe... Ở Quy Nhơn Phù Cát cũng còn vài chiếc. Ngay cả xóm ngựa ở thôn Trung Lý xã Nhơn Phong cũng chẳng còn mấy ai làm nghề. Cha và anh trai ông Sáu cũng gắn bó với nghiệp xe ngựa. Vậy nhưng 6 người con của ông chẳng ai theo nghiệp cha. Ông Sáu bảo chạy xe ngựa không tốn xăng dầu tuy không giàu nhanh được nhưng mỗi khi ngặt nghèo chịu khó làm cuốc xe thì cũng có cân gạo ký thịt cho đậm đà bữa cơm gia đình. "Bao năm nay từ chuyện nhà cửa con cái học hành đều từ cái xe ngựa này mà ra" ông huơ tay giữa ngôi nhà khang trang nói.

Ngựa là giống khôn. Có lần ông Sáu gặp bạn cũ nhậu "quắt cần câu" lúc nửa đêm con Kim vẫn dò dẫm đưa ông vượt qua những nhịp cầu bị đốt dang dở về đến nhà trước sự "tá hỏa" của vợ con. Khi con Kim già yếu thay vì bán xẻ thịt như người ta thường làm ông lại nuôi nó cho đến khi nó chết và chôn cất tử tế con vật nghĩa tình ấy.

 
 

Xe ngựa sẽ tham gia vào hoạt động tổ chức đám cưới và phục vụ khách du lịch.

* Vĩ thanh

Vừa rồi tình cờ gặp được một chiếc xe ngựa giữa đường phố Quy Nhơn. Chiếc xe ngựa lộng lẫy chở hai cặp nam thanh nữ tú người đánh xe cũng mặc trang phục của nài ngựa. Chiếc xe ngựa vòng quanh khắp phố xá làm nhiều người đổ ra đường tròn xoe mắt nhìn. Hỏi ra mới biết chiếc xe ngựa ấy của ông Trần Văn An 53 tuổi ở thôn An Hòa xã Nhơn Khánh huyện An Nhơn. Ông được Công ty TNHH Cali Hotel mời xuống Quy Nhơn để tham gia một mô hình kinh doanh mới. Bà Đỗ Thị Tiềm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của công ty cho biết: "Ở nước ta đã có nhiều nơi như Hội An Đà Lạt Nha Trang... sử dụng xe ngựa làm du lịch tại sao ở Quy Nhơn mình lại không thể? Chúng tôi sẽ thành lập một đội xe ngựa khoảng 5 chiếc phục vụ hai hoạt động chính là rước dâu trong tổ chức đám cưới và phục vụ khách du lịch có nhu cầu đi dạo khắp thành phố. Các điểm đến có thể là Ghềnh Ráng cầu Nhơn Hội. Hiện tại chúng tôi đang tiến hành xin giấy phép của Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch...".

Khi chúng tôi đem chuyện này kể ông Sáu nghe ông vỗ đùi đánh đét sung sướng: "Mừng quá thỏa ước nguyện những người cầm cương chúng tôi rồi. Bao năm nay bọn tôi mong mỏi Bình Định mình tổ chức được hình thức xe ngựa làm du lịch như trong Nha Trang trên Đà Lạt Gia Lai... Những nơi đó lễ tết vẫn mướn bọn tôi lên chở khách đấy chứ. Chạy xe ngựa như hiện nay kể ra thì thu nhập cũng tạm nhưng cũng không nên duy trì mãi trong thời buổi giao thông hiện đại này".

Khi chúng tôi thực hiện phóng sự này đã có những khách hàng đầu tiên đến đăng ký dịch vụ trên. Hy vọng rằng cũng như con trâu với cái cày xe ngựa khi đã làm tròn "sứ mệnh lịch sử" là phương tiện vận tải trong thời buổi đất nước còn nghèo thì ngày nay tiếng nhạc ngựa "đất Vua" sẽ còn được gìn giữ trong một chiếc áo mới...

  • Văn Trang - Sao Ly

More...

THƯ QUY NHƠN - BÌNH ĐỊNH - Miên man tháng Tư

By Tinh Khuc Quy Nhon

THƯ QUY NHƠN - BÌNH ĐỊNH
Miên man tháng Tư


Những ngày cuối tháng Tư về trong miên man nắng. Đất trời Quy Nhơn vào hạ với sắc tím bằng lăng trên từng con phố nhỏ cái sắc tím nao lòng lung linh trong nắng thuỷ tinh như màu thời gian giữa ngút ngàn chồi lá. Và hoa như muốn nói bao điều như muốn chuyển tải bao thông điệp cho tâm hồn người. Nghe ra trong gió những lời của hoa đồng vọng trong tiếng thì thầm hoa lá cỏ cây ngày hè.

Nắng và hoa vẻ đẹp của đất trời. Giữa mùa hạ đến với người trong những khoảnh khắc bất chợt. Những chiều lang thang trên từng con đường nhỏ và đầy chất thơ như một khuôn nhạc của phố biển tâm hồn dễ thường tràn ngập trong những sắc màu thiên nhiên. Tôi yêu con đường Trần Phú với sắc phượng và bằng lăng trải dài năm tháng học trò đường Lê Hồng Phong với hàng xà cừ nhuộm màu ký ức đường Xuân Diệu với những thân dừa vươn cao trong gió biển lá dừa như chiếc lược cài vào tóc gió... Và biết bao con đường nhỏ ngõ khác như những nốt trầm bình lặng giữa một tháng Tư dịu dàng. Đẹp trong đôi mắt nhìn cả những buổi sớm hay khi chiều buông tháng Tư mướt xanh màu lá đong đầy những nụ hoa khoe sắc. Lắm khi chỉ riêng nhành hoa e ấp giữa một ngõ vắng xôn xao cũng đủ để làm chậm lại bước chân người đi. Một vẻ đẹp đơn sơ giản dị nhưng lại thanh khiết vô ngần.

Tháng Tư biển cũng chan hoà trong nắng. Mặt nước như một tấm thảm diệu kỳ được dệt nên bởi muôn vàn ánh sáng. Còn nhớ trong tác phẩm tuyệt đẹp viết cho thiếu nhi của một nhà văn Nhật "Kira - kira" là tiếng gọi của mặt biển lấp lánh của đôi mắt em của những ánh sao giăng trên trời và của một trái tim không khi nào tắt những hy vọng và tình yêu của cuộc sống. Biển của tháng Tư tràn đầy những hoài nhớ và cả niềm tin. Nhịp sóng biển cũng chính là nhịp của đất trời hoà cùng với nắng và gió làm nên nhịp điệu riêng của phố biển miền Trung.

Tháng Tư còn gắn với niềm vui lớn của đất nước. Ngày 30 - 4 đẹp trong niềm vui trong niềm tự hào dân tộc. Niềm vui ấy như hoà vào trong vẻ đẹp của thiên nhiên của đất trời để tạo nên những dấu ấn thật khó quên trong tâm hồn mỗi người. Những bước đi của ngày hôm nay đều gắn liền với những ký ức với bề dày lịch sử - văn hoá với những ngày tháng đã qua.

Tháng Tư Quy Nhơn đẹp và căng đầy nhựa sống. Những xúc cảm miên man giữa tháng Tư về cũng muốn cùng cánh gió lan xa....

  • Lê Minh Kha
  • qn_2567-1.jpg image by ngocviendesign

More...

Yến Lan bến sông và phố huyện - NGUYỄN THANH MỪNG

By Tinh Khuc Quy Nhon

Yến Lan bến sông và phố huyện
NGUYỄN THANH MỪNG

           Bến My Lăng của Yến Lan là cái bến sông huyền ảo đầy vang bóng trên thi đàn gắn liền với tên tuổi nhà thơ mỗi khi người ta nhắc đến. Đã hơn một lần Yến Lan giải thích rằng nó bắt nguồn từ một bến đò thật bến Trường Thi cách thị trấn Bình Định nơi ông ở khoảng mấy dặm đường. Mỗi lần qua bến sông này nhìn doi cát cong cong tựa bờ mi thiếu nữ lòng khách văn chương không thể không thao thiết cùng những dòng thơ xa xăm: Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách - Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu - Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách - Ông lái buồn để gió lén mơn râu...

          Đó là một bến sông đẹp đẹp đến não lòng nơi xưa kia người cha của Yến Lan đã lần theo tiếng hát để đến với mẹ ông một thôn nữ quay xa dệt lụa thường gửi hồn cùng những khúc dân ca say đắm. Mối tơ duyên đẫm đầy thi vị ấy đã sản sinh ra một người con thi sĩ ngay thuở mới vừa lọt lòng: Quê ngoại bên kia bãi cát vàng - Mẹ tôi về lỡ chuyến đò ngang - Cơn đau trở dạ không giường chiếu - Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng - Vẫn đôi bầu ấy sữa căng đầy - Nuôi lớn hồn nhiên cả một bầy - Sao đến lượt tôi thành trái chứng - Ngọt ngào thoắt đã đổi chua cay.

          Năm Yến Lan lên sáu mẹ ông ốm nặng nằm liệt giường. Gần ba năm Yến Lan được cha sai hàng ngày đưa cơm cho mẹ và thỉnh thoảng xế chiều lại thêm bình tích bánh canh. Cha Yến Lan làm nghề đậu hoa trên vải. Một hôm cha ông nhận được một mẫu hàng từ Thượng Hải hoa văn rất phức tạp. Hai ngày liền cha ông không đậu được hoa. Mẹ ông từ buồng bệnh bước ra cửa hỏi và dùng tay ra hiệu cho chồng cách đậu hoa. Quả nhiên hoàn tất được mẫu hàng. Như mọi hôm Yến Lan đưa cơm vào cho mẹ. Nhưng hôm đó mẹ ông không còn ăn được nữa. Máu bà ra từ mũi miệng. Đến cuối chiều thì bà đã lạnh cứng tay chân.

          Đêm đó Yến Lan đi cùng người láng giềng đưa tin về quê ngoại. Đến đoạn đường qua Gò Tập là nơi người ta đồn đại rất nhiều về chuyện ma đưa võng Yến Lan quýnh chân. Người láng giềng cất tiếng gọi đò. Ông cậu của Yến Lan nằm ngủ trong thuyền giật mình chống đò hớt hải sang. Ấn tượng về tiếng gọi đò não ruột trong đêm trăng sương lạnh lẽo ấy ám ảnh Yến Lan đến suốt đời. Những năm vào tuổi bát tuần ông vẫn còn thường nhắc đến chuyện này với đôi mắt ngấn lệ. Ông thú nhận rằng ngày xưa bài thơ Bến My Lăng của ông ra đời trong lúc xuất thần có cả sự hô hấp tinh thần của ấn tượng tiếng gọi đò thuở bé.

          Mẹ Yến Lan mất ít lâu cha ông lấy vợ kế. Yến Lan phải chịu đựng cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông chia bùi sẻ ngọt với cây thị chùa Ông nơi ông trải qua tuổi thơ cay đắng. Cây thị ngót trăm tuổi như người bạn lớn vỗ về chở che và lòng ông ràn rụa thương cảm: Đêm mưa tí tách nhà tranh giột - Thị nới mình che nửa mái ngoài - Sáng dậy nghe chim run tiếng hót - Mới hay cây lạnh suốt đêm dài... Và cậu bé Yến Lan rách rưới thiếu thốn nhờ cây thị mỗi mùa trái hái bán dành dụm tiền may áo: Trái ra chợ bán lành thân áo - Ơn thị thay phần mẹ dưỡng nuôi...

          Thị trấn Bình Định có thành cổ rêu phong có vó ngựa rời rạc có tiếng trống thu không có những trái thị vàng đầy ân tình như thế là nơi Yến Lan tạo dựng nghiệp thơ. Bóng dáng một thời là những con đường nhễ nhại dưới trăng lầu Cửa Đông nơi ông và Chế Lan Viên thường trèo lên và gọi là Lầu Tư Tưởng mái chùa cổ và nếp nhà tranh đón những bạn thơ Quách Tấn Hàn Mặc Tử Bích Khê Hoàng Diệp Quỳnh Dao... "Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt - Đàng chờ xe sông nước ước mong thuyền - Tịch dương liễu không biết mình đương biếc - Tương tư trời tương tư nhạc triền miên" Yến Lan đã mô tả về một Bình Định 1935 như thế. Một Bình Định có người con trai đơn lẻ: "Áo chàng xanh lam lũ - Trời ơi trời đừng mưa" trước cuộc tình rụt rè không dám nói. Một Bình Định với không khí trầm buồn nhưng đầy quyến luyến trăn đi trở lại trong thơ Yến Lan ngày ông tập kết sống trên miền Bắc: Thương tuổi nhỏ ta nghèo - Thầy giáo già nghiêm khắc - Đời phố huyện đìu hiu - Trăng tình lên ngơ ngác - Những vần thơ ban đầu - Từ bóng cô hàng xén - Đến tiếng vọng còi tầu - Không một lời hứa hẹn.

          Bến sông cũ phố huyện xưa mở rộng vòng tay đón người thi sĩ sau cuộc chiến tranh trở về. Cuộc sống đã đổi khác nhưng khung trời kỷ niệm còn đó những mùa bông gòn bay những cánh chim mòng két thiên di chuyến xe ngựa mỗi hoàng hôn và sớm mai leng keng tiếng nhạc. Giống như nhà Quách Tấn bên chợ Đầm Nha Trang nhà Yến Lan kề ngay chợ Bình Định hai ông đều thường nhắc câu "Thị náo cư di tịnh" của bậc tiền bối Đào Tấn như một phương pháp sống. Bởi vậy dù khi ốm đau thiếu thốn hay giữa huyên náo của quang cảnh ông vẫn tìm được chất thơ của đời: Nhà không vườn không gác không sân - Tôi nợ đời rau trái tôi ăn - Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát - Nợ em cài bên cửa một vầng trăng. Trên mảnh đất này vầng trăng của Yến Lan cái "vầng trăng vẫn thường ám ảnh các nhà thơ Bình Định" như Hoài Thanh đã nhận xét trong Thi nhân Việt Nam lại khi hao khuyết khi viên mãn theo từng cung bậc của hoài niệm và dự tưởng. Trong những vần thơ của ông bóng trăng vừa lay động vừa an tĩnh trong từng hơi thở. Và bản thân nó toát lên linh hồn của con người con người đa cảm và dầu dãi trong khung cảnh vừa thanh thoát vừa trần thế. Những tâm tình thật sâu thật nặng của trọn một kiếp người mặn nhạt chua cay ngọt bùi từng nếm trải Yến Lan gọi là Chút lòng để lại:

Nhìn nhau cho tận mặt mày

Hành trình còn một quãng này nữa thôi

Sơn thanh thủy tú qua rồi

Chỉ là suối trũng đá lồi đợi ta

Chần chừ bước nhọc khó xa

Ngày thời dằng dặc cái già hẩm hiu

Tâm tư gói loãng sương chiều

Còn đâu buông thả ít nhiều ước mong

Đi còn ngoảnh mặt ngùi trông

Cái qua đã khuất biệt dòng thời gian

Lòng thôi tròn khuyết theo trăng

Tình còn cắm Bến My Lăng gọi đò

Trăm năm làm mốc hẹn hò.


NGUYỄN THANH MỪNG

More...

Duyên Dáng Miền Trung

By Tinh Khuc Quy Nhon

Duyên Dáng Miền Trung
Thân tặng các Bạn Quê Hương Bình Định.


"Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền"...

Anh hùng bên dáng thuyền quyên
Con gái xứ võ nét duyên mặn mòi
Nhơn Hội mở lối xa khơi
Mắt em trong vắt nét ngài thanh xuân
Biển Quy Nhơn lượn phố gần
Cánh bay Phù Cát tiêu ngân gió chiều.
Sóng oà Gềnh Ráng trăng xiêu
Quy Hoà trắng cát phiêu diêu Lầu Hoàng
Diêu Trì trải gió mênh mang
Nón nghiêng mềm sóng lúa vàng thân thương

Dù ai bốn bể ngàn phương
Bóng dừa duyên dáng Quê Hương đợi chờ.

(Thơ ENSM)

More...

Tháp Dương Long - “viên ngọc quý” chờ “tỏa sáng”

By Tinh Khuc Quy Nhon

Tháp Dương Long - "viên ngọc quý" chờ "tỏa sáng"

Sau khi tiến hành ba cuộc khai quật khảo cổ học đến nay có thể nói khu tháp Dương Long đã hiện rõ phần lớn diện mạo bị chôn vùi trong lòng đất từ hàng thế kỷ qua. Để có thể giúp "viên ngọc quý" Dương Long "tỏa sáng" cần có những kế hoạch trùng tu tôn tạo hợp lý hơn...

 

Để có thể giúp "viên ngọc quý" Dương Long "tỏa sáng" cần có những kế hoạch trùng tu tôn tạo hợp lý hơn.

 

* "Bức tranh" toàn diện về tháp Dương Long

Hai cuộc khai quật năm 2006 và 2007 với nhiều phát hiện giá trị là cơ sở để cuối năm 2008 đầu năm 2009 cuộc khai quật khảo cổ học tháp Dương Long lần thứ ba đã được tiến hành với yêu cầu tìm kiếm những phần còn lại của Dương Long đang nằm trong lòng đất.

Tại các hố khai quật ở mặt Tây phía sau lưng ba tháp đã phát hiện được hai kiến trúc đài thờ hình vuông cùng với các pho tượng góc hình tu sĩ. Kiến trúc thứ nhất nằm sau tháp Bắc và tháp Giữa ở hai góc Đông Nam và Tây Bắc còn một phần sàn gạch móng lót đá ong. Đặc biệt ở trung tâm kiến trúc này có một bệ thờ hình vuông xây bằng gạch và đá ong hết sức kiên cố trên bệ đặt tượng Yoni bằng đá sa thạch khá lớn lần đầu tiên được tìm thấy ở Bình Định. Kiến trúc thứ hai cũng nằm ở mặt Tây thẳng hàng với kiến trúc thứ nhất nhưng đã bị phá hủy nhiều chỉ còn lại một số dấu vết tường móng bằng gạch đá ong.

Theo nhận định của các nhà khảo cổ hai kiến trúc trên chính là hai đài thờ mở thờ thần Siva có kỹ thuật gia cố móng bằng đá ong tương tự như ở cụm ba tháp nên đều thuộc tổng thể chung của khu tháp Dương Long. Tuy nhiên có khả năng hai kiến trúc này được xây trước và những ngôi tháp Dương Long được xây sau nhưng sự khác biệt niên đại là không lớn. Các hố khai quật cũng được mở tại khu vực phía Đông khu tháp Dương Long một trục thẳng hướng Đông - Tây tính từ cửa chính tháp Giữa. Qua đó đã xác định được hệ thống đường dẫn vào tháp với các cao trình phân bậc khác nhau.

Ngoài ra trong khai quật còn tìm thấy đến 700 hiện vật điêu khắc đá trang trí trong đó có hàng chục tượng thần còn nguyên vẹn có giá trị nghệ thuật cao. TS Bùi Chí Hoàng (Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ) người chủ trì khai quật lần thứ hai và ba nhận xét: "Qua ba lần khai quật thì bình diện cơ bản của cụm tháp Dương Long đã gần như được trở về nguyên trạng từ những kiến trúc ban đầu như hai kiến trúc dạng đền mở ở phía Tây ba tháp rồi đường dẫn vào trung tâm khu tháp dù bị phá hủy nghiêm trọng nhưng cũng đã xác định được một hệ thống các cao trình để làm cơ sở cho việc trùng tu tôn tạo. Kết quả khai quật cũng đã xác định cơ bản không gian phần tiền sảnh cho từng tháp và cả một hệ thống nền gạch bao xung quanh chân tháp. Sau các cuộc khai quật kết hợp với việc phục chế sơ bộ các phần bị đào phá trước đây cho thấy các mảnh ghép của một bức tranh toàn diện về cụm tháp Dương Long trung tâm gần như đã hoàn tất...".

 

Tượng Yoni bằng đá sa thạch khá lớn tìm thấy ở tháp Dương Long.

 

* Cần được trùng tu tôn tạo hợp lý

Trong những năm qua khu tháp Dương Long vẫn chưa được phát huy đúng giá trị do vừa tiến hành trùng tu tôn tạo vừa khai quật khảo cổ học. Do vậy sau đợt khai quật khảo cổ học lần thứ ba đã đến lúc nên tập trung cho công tác trùng tu tôn tạo. Tuy nhiên có thể vẫn còn không ít những kiến trúc phụ xung quanh ngôi tháp mà các cuộc khai quật chưa tìm thấy hết. Bởi vậy thời gian tới cần kết hợp tôn tạo di tích với việc tiếp tục thám sát và khai quật nhỏ khi phát hiện dấu tích kiến trúc.

Ông NGUYỄN AN PHA Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL:

"Sắp đến sẽ có những điều chỉnh mới. Lãnh đạo tỉnh cũng đã có ý kiến chỉ đạo giải tỏa toàn bộ khu vực phía Đông khu vực tháp Dương Long để làm con đường chính lên tháp. Nhưng việc thực hiện quy hoạch mới không thể vội vàng mà cần nghiên cứu kỹ để có phương án cụ thể và hợp lý để bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của di tích...".

TS Bùi Chí Hoàng đề xuất: "Đối với khối lượng hiện vật khổng lồ có được sau khai quật nên lập một vườn điêu khắc Champa ngay trong khuôn viên tháp Dương Long. Để phục vụ dự án cần phải mở rộng diện tích khu di tích tháp Dương Long chủ yếu là về khu vực phía Tây của cụm tháp. Hai góc phía Tây Nam và Tây Bắc sẽ là hai khu vực được bố trí chính là các vườn hiện vật điêu khắc cổ xen lẫn với một số mảng vườn tượng nhỏ ở phía Nam và phía Bắc. Như vậy hiện vật khảo cổ sẽ phát huy tính hiệu quả cả trên góc độ nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị phục vụ du lịch...".

Khu tháp Dương Long đã tiến hành trùng tu tôn tạo từ trước nên sau đó khi tiến hành liên tiếp ba cuộc khai quật khảo cổ học với nhiều phát hiện mới quy hoạch cũ đã bộc lộ những hạn chế cần phải điều chỉnh lại. Việc xử lý gần 3.000 hiện vật thu được sau ba cuộc khai quật cũng là vấn đề đáng quan tâm. TS Đinh Bá Hòa Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh cho rằng: "Cần có một dự án quy mô nghiên cứu phân loại phục chế các hiện vật một cách bài bản để nếu đủ cơ sở khoa học thì đưa các hiện vật trở lại vị trí cũ trên tháp khi trùng tu...".           

  • Hoài Thu

More...

Có một nhà thơ cầm… búa

By Tinh Khuc Quy Nhon

Có một nhà thơ cầm... búa

Ông Trần Ngọc Thạch. Ảnh: N.V.T

Ở xóm 3 thôn Hy Tường xã Hoài Sơn huyện Hoài Nhơn có ông Trần Ngọc Thạch vừa chẻ đá vừa... làm thơ. Đến nay thơ ông "xuất khẩu" rải rác khắp các hang cùng ngõ xóm nếu "tuyển" lại ít ra cũng được một tập vài trăm trang...

Thợ chẻ đá kiêm... "nhà thơ" Trần Ngọc Thạch năm nay đã ngoài bốn mươi nhưng nhìn ông lúc nào cũng vui vẻ trẻ trung như thanh niên đôi mươi. Gọi "nhà thơ" cho oai vậy chứ thực ra ông Trần Ngọc Thạch chỉ học hết lớp 7 cũng không hề cầm bút mà chỉ quen cầm... búa - bởi ông sống bằng nghề chẻ đá và ngay cái tên ông cũng sặc mùi đá.

Ông Thạch bắt đầu "mần thơ" cách đây hơn năm năm. Ông có biệt tài "xuất khẩu thành thơ" thơ có thể tuôn ra bất cứ lúc nào bất kể nơi nào và bất kỳ một đề tài nào. Thơ ông tuy chưa hề được xuất bản nhưng hễ nghe đọc qua một lần ai cũng nhớ cũng thuộc. Ông Cao Văn Hóa người cùng xóm cho biết anh em hay đem thơ ông ra đọc xem như một hình thức giải trí mỗi khi làm việc mệt nhọc. Điều đặc biệt nữa là dù không hề ghi chép ông Thạch vẫn thuộc nằm lòng có thể đọc vanh vách "khi chén rượu lúc cuộc cờ" với bạn bè hoặc khi có người "mến mộ" yêu cầu. Thơ của ông tập trung phê phán lên án những thói hư tật xấu trong thôn xóm một cách cụ thể sinh động. Tuy hay bông đùa nhưng ông cũng rất cẩn thận thường nhắc đi nhắc lại: "Bài nào do tôi "xuất khẩu" thì tôi chịu trách nhiệm còn nếu ai "độ" hay thêm bớt gì đó thì tôi vô can à".

Trăm nghe không bằng một thấy hôm ấy chúng tôi trực tiếp gặp nhà thơ "bút mồm" tại nơi làm việc. Vừa khuân đá ông Thạch vừa đọc thơ. Ông trăn trở bức xúc trước nạn say xỉn mỗi ngày một nhiều hơn ở các miền quê hậu quả dẫn đến những vụ tai nạn giao thông đáng tiếc:

"Uống chi cho nhiều vậy hả anh

Một mai thần xác chẳng còn lành

Say rồi đất đá không hề tránh

Quan tài mở nắp đợi chờ anh"

Ông Thạch có người cậu ruột vốn hay bia rượu. Một hôm ông cậu nổi hứng bảo cháu làm tặng mình mấy câu thơ. "Nhà thơ" ứng khẩu đọc:

"Ông chưa cất tiếng "a lô"

Đã nghe mùi rượu xông vô tận nhà

Biết ngay thôn trưởng gọi loa

Kéo nhau đi họp dù xa hay gần"

Vào vụ mùa ông Thạch thường "gác búa" đi gặt lúa trỉa đậu phộng hoặc cày thuê cuốc mướn cho bà con thôn xóm. Thời điểm nạn cúm gia cầm H5N1 đang bùng phát mà bữa cơm nào chủ nhà cũng bắt ăn chả trứng đến phát ngán ông Thạch phản ứng:

"Vụ cá năm nay rất được mùa

Đàn bà đi chợ chẳng biết mua

Sáng chả trưa chả chiều cũng chả

Chả rồi chả nữa chả xoay tua"

Thấy trong thôn xóm có đám trẻ choai choai học đòi ăn chơi học hành không đến nơi đến chốn ông động viên nhắc nhở:

"Quê ta xóm dưới làng trên

Tăng gia sản xuất xây nên cuộc đời

Ai ơi chớ có ham chơi

Bỏ nhà bỏ ruộng bỏ đời thanh xuân"

Nghe ông Thạch có tài làm thơ một hôm chị Tám Thơm cán bộ phụ nữ thôn năn nỉ ông Thạch: "Anh làm cho em một bài thơ kỷ niệm. Nếu nghe hay thì em thưởng xị rượu". Được dịp ông Thạch bật ngay một bài thơ dí dỏm:

"Xóm hai còn chút Tám Thơm

A lô khan cổ rát cả mồm

Công việc cô làm đâu có dỏm

Nhiều lúc a lô quên cả... cơm"

Không những "lọt tai" mà khoái quá chị Tám Thơm liền dốc túi đãi nhà thơ một tuần rượu say quắc cần câu.

  • Lê Thanh Sơn - Văn Trang

More...

Canh rau tập tàng - NGUYỄN VĂN NGỌC

By Tinh Khuc Quy Nhon

Canh rau tập tàng


       Nhân một lần tôi đưa các đồng nghiệp từ Sài Gòn về công tác ở Bình Định đi khảo sát thực tế đến bữa tôi trong vai "chủ nhà" mời cơm. Các anh bảo nên chọn một điểm bình dân để thưởng thức những món ăn đồng quê. Tôi đã đưa các anh vào một nhà hàng luôn có các món ăn dân dã như rau lang luộc chấm mắm cua tươi canh chua lá giang cá rô nướng trui dầm nước mắm nhỉ canh rau tập tàng... Các anh chọn ngay món canh rau tập tàng là món đầu tiên.

       Trên thực tế món ăn này được sử dụng nhiều loại rau khác nhau như rau lang rau má rau sam rau mồng tơi rau bồ ngót lá lốt rau trai mã đề ngò tàu lá ngổ... Tất cả chúng đều hiện diện khắp nơi trong những khu vườn quê đồng ruộng hoặc mọc trên gò bãi cát bên bờ sông dưới lòng con mương như những loài cỏ dại.

       Về tên gọi Đại từ điển tiếng Việt có giải thích "tập tàng" là hỗn hợp lẫn lộn nhiều thứ vốn có giá trị không đáng kể vào nhau. Canh tập tàng là cóp nhặt toàn những thứ rau tập tàng. Nhà nghiên cứu Hoàng Phủ Ngọc Tường thì nói rằng chữ "tàng" có bộ thảo đầu là cỏ hoang. Với cách lý giải này chúng ta cũng có thể suy luận một cách nôm na rằng tên gọi "tập tàng" có nghĩa là món ăn mà trong đó tập hợp nhiều loại rau cỏ.

       Xét về sự đa dạng thành phần nguyên liệu đã phản ảnh sự cầu kỳ của bát canh rau tập tàng. Tính dân dã của món ăn được thể hiện cụ thể ở các loại rau luôn có sẵn xung quanh vườn nhà làng xóm. Do chúng là những loại rau mọc không tập trung ở một khu vực nào cho nên khi hái phải cóp nhặt ở khắp nơi. Thời điểm hái cũng rất quan trọng người ta thường hái vào lúc tảng sáng khi sương trên lá cây vẫn chưa tan hết lúc này tinh hoa của cây rau chứa đựng đầy đủ nhất ở trên lá chưa bị các yếu tố khác làm phân tán đi và có lẽ thời điểm ấy rau có chất lượng nhất.

       Cầu kỳ là thế nhưng nếu chỉ có vậy vẫn chưa đủ. Ở đây nghệ thuật nấu cũng đóng vai trò quan trọng. Mới nhìn người ta vẫn nghĩ đây chỉ là món canh rau như nhiều món canh rau khác nhưng nấu với thứ gì là đúng cách và như thế nào để được bát canh mà trong đó các thứ rau cùng chín tới nước canh trong làn hơi tỏa ra sự đượm đà hòa quyện của nhiều hương vị mới là nghệ thuật. Canh tập tàng tập hợp trong đó nhiều loại rau khác nhau người đầu bếp phải biết loại nào là nhanh chín loại nào lâu chín để khi nấu xong mọi thứ đều vừa chín.

       Cách nấu cũng không có gì là phức tạp. Các loại rau rửa sạch để ráo nước. Con tôm cua đồng vừa bắt về đem rửa sạch bóc vỏ ướp với nước mắm hành tiêu cho thấm. Phi thơm hành cho một ít ớt vào để có màu sau đó cho tôm đã ướp thấm vào xào qua tiếp đến thêm một ít nước ruốc (mắm ruốc ủ chín lâu ngày lấy ra một ít cho vào bát đổ nước lã vào đánh tan lọc lấy nước chừa cặn lại) đổ vô xào độ hai hoặc ba phút rồi cho thêm nước lạnh vào tùy theo lượng rau đun sôi đều với lửa vừa phải để tránh nước sôi ở độ cao quá sẽ làm nước đục. Nước sôi cho lần lượt các loại rau vào tùy theo độ mềm của rau. Trước tiên là bồ ngót tiếp đến có thể là rau lang rau má mồng tơi mã đề... Khi các loại rau trên vừa chín tới thì cho tiếp lá lốt rau sam ngò tàu... rồi trộn đều trước khi nhắc xuống để tránh rau khỏi bị nhũn tất cả đều vừa chín tới là đạt được bát canh rau tập tàng ngon nhất.

       Sự đa dạng cầu kỳ của nguyên liệu cũng như khi chế biến đã biểu hiện một phong cách trong nghệ thuật nấu ăn bên bếp lửa hồng dưới những lũy tre làng. Ấy là một sắc thái riêng một nét văn hóa ẩm thực đã có từ lâu trên các miền quê Bình Định.

       Có lẽ chúng ta cũng rất hãnh diện khi bát canh rau tập tàng được du khách mến mộ khi về thăm vùng đất thượng võ.

       Nguyễn Văn Ngọc

More...