Quê dừa lại có đoàn tuồng

By Tinh Khuc Quy Nhon

Quê dừa lại có đoàn tuồng


Hoài Nhơn từng có ba đoàn tuồng nhưng đã từ hơn mười năm qua cả ba đoàn này không hoạt động. Người mộ điệu xứ dừa lâu nay vẫn canh cánh một nỗi niềm: Quê mình có đền thờ Đào Duy Từ - ông Tổ của nghệ thuật hát bội thế mà lại không có được một đoàn tuồng. Thế nên khi Sở VH TT &DL cấp giấy phép thành lập Đoàn Nghệ thuật Tuồng Trường An 1 (thôn Trường An 1 xã Hoài Thanh huyện Hoài Nhơn) lòng nhiều người như "gióng trống mở cờ".


* Xế chiều lại có đoàn tuồng
Sự xuất hiện của ÀĐoàn tuồng Trường An 1 là một tín hiệu vui trong bối cảnh một số đoàn tuồng không chuyên của tỉnh đang đối mặt với nguy cơ bị mai một. Hàng năm cả 6 xã miền biển của Hoài Nhơn tổ chức lễ cầu ngư trong đó có cúng vạn cúng lăng và tổ chức hát bội cho dân xem phải mời các đoàn không chuyên từ Tuy Phước An Nhơn ra. Chi phí là một chuyện tự ái lại là chuyện khác. Thế nên khi có đoàn tuồng của địa phương lòng người cũng phấn khởi lắm.

Tìm đến nhà vợ chồng nghệ sĩ kiêm Trưởng đoàn Trường An 1 ông Phạm Văn Thao (nghệ danh là Hoàng Thao) và bà Nguyễn Thị Lan đúng lúc hai vợ chồng đang sửa soạn lại phục trang đạo cụ chuẩn bị cho chuyến lưu diễn ở đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi). So với lần gặp nhau cách đây một năm trông họ ốm và hốc hác hơn nhiều. Thế nhưng gương mặt từng người lại rạng rỡ niềm vui và ánh mắt lấp lánh sự hạnh phúc khi kể về những đêm diễn. Ông Thao kể: "Lúc trước thi thoảng CLB mới đi biểu diễn loanh quanh ở các lăng vạn trong huyện nên đồ đạc không có nhiều chắp vá lắm. Bây giờ khi được Sở VH TT&DL cấp giấy phép hoạt động tụi tui tính đường lâu dài. Muốn vậy cần đầu tư nhiều hơn về mọi thứ để nâng cao chất lượng vở diễn tạo uy tín cho đoàn".

Để hoạt động ổn định vợ chồng ông Thao vừa bỏ ra gần 100 triệu đồng để mua sắm dàn âm thanh cùng nhiều phục trang đạo cụ mới. Ký được hợp đồng ở đâu là thuê xe chở đầy đủ mọi thứ đến. Cả đoàn có khoảng 20 người mỗi đêm diễn trên dưới chục diễn viên. Để tạo uy tín đoàn đã hợp đồng dài hạn với một số "ngôi sao" không chuyên trong tỉnh. Đáng chú ý là nghệ sĩ được nhiều người mến mộ Bùi Thị Kim Oanh đã nhận lời chỉ đạo nghệ thuật cho đoàn.

Nở nụ cười thật tươi bà Lan khoe từ Tết đến giờ đoàn đi diễn ở nhiều nơi như Tây Sơn Phù Mỹ Quy Nhơn Hoài Nhơn Phú Yên Quảng Ngãi... Đi đến đâu các nghệ sĩ cũng được người dân địa phương chào đón nhiệt thành. Đáng nhớ nhất là hai đêm diễn tại đền thờ Đào Duy Từ (xã Hoài Thanh Tây) nhân ngày giỗ tổ gia tộc họ Đào vào ngày 10.2. Rất đông người dân đã ngồi xem trong màn mưa cho đến cuối vở. Ông Thao cho biết các anh em nghệ sĩ đã diễn bằng tất cả tấm lòng tri ân đến ông tổ của nghệ thuật hát bội.

Giữa lúc xế chiều khi mà nghệ thuật truyền thống phải vật vã để tồn tại bỗng dưng lại có người đầu tư hàng trăm triệu đồng để hát tuồng không phải chỉ là chuyện hy hữu mà nhiều hơn đó là dấu hiệu khiến những người có trách nhiệm nhưng nhạt lòng với nghệ thuật truyền thống phải suy nghĩ lại.
* Ước mong
câu hát ngân nga

Suốt 8 năm qua vợ chồng ông Thao đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi tiền của và cả nước mắt để xứ dừa lại có đoàn tuồng. Ông Thao gốc người An Nhơn mê hát bội từ nhỏ theo nghệ sĩ Long Trọng học hát sau đó đầu quân cho nhiều đoàn tuồng không chuyên trong tỉnh. Bà Lan cũng mộ ca mộ diễn đi học thành đào hát. Họ gặp nhau rồi nên duyên. Sau một thời gian theo các đoàn hát rong ruổi khắp nơi đến năm 2001 họ quyết định về quê của bà Lan (ở thôn Trường An 1) tập hợp những nghệ sĩ chân đất trong thôn để thành lập một CLB tuồng.

Nhớ lại khoảng thời gian đầu thành lập CLB đến giờ ông Thao vẫn còn rùng mình: "Các thành viên mỗi người một nghề cuộc sống người nào cũng chật vật. Suất diễn thì không có nhiều chủ yếu diễn tiểu phẩm tuyên truyền cho các phong trào. Lắm lúc thu không đủ chi nên cát sê chỉ ba cọc ba đồng. Lắm khi CLB gần như tê liệt. Hai vợ chồng từng nghĩ đến chuyện giải tán CLB. Nhưng đã trót mang nghiệp con tằm phải rút ruột nhả tơ cho đến chết. Vợ chồng tui làm đủ nghề để trang trải cuộc sống và duy trì CLB để có chỗ mà ca mà diễn cho thỏa. Vậy thôi...".

Sự góp mặt của Đoàn Nghệ thuật Tuồng Trường An 1 đã nâng tổng số đoàn tuồng không chuyên trong tỉnh lên 12 đoàn. Sự ra đời này là một tín hiệu vui thể hiện tình yêu nghệ thuật truyền thống của dân tộc không bao giờ cạn kiệt. Tuy nhiên tình yêu này vẫn cần các cơ quan có chức năng liên quan ngành VH TT&DL hỗ trợ để có thể bền vững ổn định lâu dài.

  • Ngọc Tú

More...

Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

Vào đầu tháng 7 năm nay UBND tỉnh Quảng Ngãi sẽ tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh. Trong dịp này Bình Định là một trong những tỉnh được mời tham dự hội thảo và trưng bày những cổ vật về Văn hóa Sa Huỳnh được khai quật và phát hiện trong những năm qua trên địa bàn tỉnh.

 
 

Đồ gốm tùy táng khai quật tại Động Cườm.

 

Những dấu tích văn hóa thời tiền sử ở khu vực miền Trung lần đầu tiên được biết từ năm 1909 và đã được một học giả người Pháp thông báo sơ lược với việc phát hiện khoảng trên 200 quan tài bằng gốm (gọi là mộ chum hay mộ vò) tại cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh (thuộc huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi) từ đó những khu di tích mang yếu tố mộ chum này được gọi tên chung là Văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng cuộc tìm kiếm lúc đó chỉ là những cuộc đào bới tìm đồ cổ chứ không mang tính khoa học về khảo cổ học. Từ năm 1954 trở về trước người ta chỉ biết được một cách tương đối về sự phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 với nhiều phát hiện mới đã khẳng định thêm sự có mặt của những nhóm văn hóa này ở cả vùng Đông Nam bộ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng giới khảo cổ học nước ta đã tiến hành phúc tra những địa điểm khảo cổ học cũ đồng thời phát hiện nghiên cứu và khai quật thêm nhiều địa điểm mới. Cho đến nay giới nghiên cứu đã thống nhất cho rằng Văn hóa Sa Huỳnh là một tập hợp di tích khảo cổ học từ thời đại Đồng thau và Sắt sớm phân bố trong một khu vực liền khoảnh từ Quảng Bình cho đến Đồng Nai và có những đặc trưng văn hóa giống nhau phát triển theo từng thời gian.

Đối với Bình Định việc nghiên cứu điều tra khảo cổ học chỉ mới được tiến hành sau năm 1975 với nhiều di chỉ đào thám sát và khai quật trong những năm qua cũng đủ cứ liệu để khẳng định từ hậu kỳ Đồng thau và Sắt sớm cách ngày nay khoảng 2.000 đến 3.500 năm vùng đất Bình Định đã có con người tiền sử đến định cư và sinh sống. Cho đến nay trên vùng đất Bình Định đã phát hiện được khá nhiều các di tích thuộc Văn hóa Sa Huỳnh cũng như những nơi khác con người Sa Huỳnh có một đặc điểm chung là họ sống ở những cồn cát và chết vùi trong cát ven biển miền Duyên hải các rìa cạnh đầm nước ngọt. Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định tập trung nhiều nhất ở hai huyện Hoài Nhơn Phù Mỹ và thành phố Quy Nhơn.

Tại các di tích Truông Xe Gò Lồi Thuận Đạo Chánh Trạch thuộc các xã Mỹ Thắng Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ); Hội Lộc Núi Ngang Đồi Điệp (thuộc TP Quy Nhơn) (các di tích này đã được phát hiện năm 1977 - 1978) Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. Trong các lần khảo sát và khai quật tại các di tích này trong tầng văn hóa đã thu được hiện vật thuộc nền Văn hóa Sa Huỳnh nhiều loại hình như: rìu đá hình răng trâu rìu tứ giác đục nhỏ hình lưỡi xòe bàn mài chày nghiền vò táng bằng gốm chôn đứng có dáng hình trứng và mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm: bình gốm nồi minh khí rìu đá hình chữ nhật rìu hình răng trâu vòng tay đá hòn kê mảnh vòng đeo tay bằng gốm hoa văn hình sống trâu và nhiều mảnh gốm hoa văn trang trí trên gốm là các kiểu hoa văn như: khắc vạch chấm đôi văn chải cắt chéo hình ô trám. Theo giới nghiên cứu trong  các di tích trên hai di tích Truông Xe và Gò Lồi thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại Đồng thau; các di tích Thuận Đạo Chánh Trạch Hội Lộc Núi Ngang Đồi Điệp có  niên đại muộn hơn - sơ kỳ đồ Sắt.

 
 

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Giai đoạn sơ kỳ đồ Sắt cách ngày nay từ 2.500 năm đến đầu Công nguyên dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh còn tìm thấy ở huyện Hoài Nhơn địa điểm này đã được Colani (học giả Pháp) thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ khảo sát và khai quật năm 1934. Qua nhật ký của bà ghi chép ở Hoài Nhơn có các điểm: Động Cườm (Tăng Long 2 - Tam Quan Nam) Phú Nhuận động Bàu Năng ở làng Ca Công (Hoài Hương) và động Công Lương (Hoài Mỹ) Bà Ná Đông Phù. Di chỉ Động Cườm đã được Bảo tàng Bình Định đào thám sát năm 2001 và năm 2002 -2003 phối hợp với Viện Khảo cổ học Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức khai quật với diện tích đào trên 300 m2 đã phát hiện được trên 50 mộ chum và mộ nồi chôn úp nhau mật độ phân bố mộ chum khá dày khoảng cách từ 20-35cm. Giới nghiên cứu cho rằng sự táng tục thành cụm là sự thể hiện dấu vết của tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tính cộng đồng của cư dân Sa Huỳnh trong khi sống và đến lúc chết. Mộ Động Cườm với hai kiểu dáng: dáng thân hình bầu tròn miệng bẻ loe xiên; và một loại mộ thân hình trụ đáy bầu tròn vai hơi bóp vào miệng bẻ loe xiên. Nắp đậy hình nón cụt miệng bẻ loe thành hơi bóp vành vê tròn rồi bẻ loe ra ngoài bên ngoài phía trên trang trí hoa văn khắc vạch mô típ hình thoi cách điệu.

Hiện vật thu được tại Động Cườm là những đồ tùy táng chôn theo trong mộ trong đó có nhiều hiện vật nguyên bao gồm: nồi bát bồng dao găm kiếm dọi xe sợi. Hàng ngàn mảnh gốm bao gồm các loại hình như thân nắp mảnh nồi mảnh miệng... Với những kết quả thu được đã khẳng định Động Cườm là một khu mộ táng và có thể là cả nơi cư trú của cư dân Sa Hùynh một di tích rất có giá trị nghiên cứu về những cư dân tiền sử trên đất Bình Định nói riêng và cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam nói chung. Người ta chôn theo người chết đồ gốm đồ trang sức công cụ lao động vũ khí như một hình thức chia của để người chết sử dụng trong "thế giới bên kia". Nhiều đồ gốm được tìm thấy bên trong và quanh các mộ chum. Đồ gốm giai đoạn này có độ nung khá cao hoa văn trang trí không còn được chú trọng như ở giai đoạn trước gốm tô thổ hoàng và than chì nhiều dọi xe sợi bằng đất nung được tìm thấy đồng thời dấu vết của vải cũng in lại trên một số đồ gốm và sắt cho thấy vào giai đoạn này người ta đã biết dệt vải. Đồ trang sức rất phong phú về loại hình lẫn số lượng gồm có: hạt chuỗi được làm bằng thủy tinh xanh đá màu vàng nâu trắng tím nhiều hạt chuỗi được làm bằng mã não; khuyên tai 3 mấu bằng gốm bằng đá; vòng đeo tay bằng thủy tinh. Ở Bình Định hiện nay chưa phát hiện được loại hình trang sức khuyên tai hai đầu thú - đây là loại trang sức rất phổ biến của cư dân Sa Huỳnh.

Qua các di vật tìm thấy cho ta những nhận thức về Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định có hai giai đoạn: Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh muộn. Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh người ta còn sử dụng nhiều những công cụ bằng đá đến giai đoạn Sa Huỳnh muộn công cụ sản xuất bằng đá không còn thay vào đó là những công cụ bằng sắt. Đồ sắt được chôn theo gồm các loại dao rìu kiếm dáo... là những loại công cụ lao động và vũ khí phổ biến trong giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh. Đồ sắt được làm bằng phương pháp rèn nóng người ta đã biết làm tăng độ cứng của sắt bằng phương pháp thấm than.

Trong các mộ chum ở Động Cườm có thể thấy sức sản xuất của người cổ Sa Huỳnh khá cao họ là những cư dân nông nghiệp biết trồng lúa nước biết khai thác những sản vật của rừng và biển biết dệt vải rèn sắt nấu thủy tinh làm đồ trang sức... Sức sản xuất phát triển của cải vật chất ngày càng nhiều tất yếu dẫn đến sự phân hóa xã hội điều này thể hiện qua các di vật được chôn theo có chum chôn  nhiều đồ mã não đồ sắt đồ trang sức có chum chỉ chôn vài món đồ gốm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ở giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh khu vực này đã có những nhà nước sơ khai vào những thế kỷ I-II trước Công nguyên vùng Đông - Nam Á đã xuất hiện những cảng thị làm nơi giao dịch của cư dân lục địa với cư dân các hải đảo những nhà nước sơ khai ấy đã chi phối mọi hoạt động của các cư dân trong một khu vực rộng lớn từ khu vực vùng cửa sông đến vùng thượng nguồn sản vật ở vùng thượng nguồn được vận chuyển xuống vùng hạ lưu để trao đổi với các nơi khác.

 
 

Mộ chum mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Nói về phong tục mai táng trong vò của cư dân Sa Huỳnh hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có đủ cứ liệu về tục cải táng hay hỏa táng chôn nguyên hay chôn từng bộ phận xác. Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh - chôn đứng có nắp đậy - là một trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông - Nam Á trong thời đại Kim khí. Các vò táng Sa Huỳnh kể cả chum lớn cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn nguyên thi thể người lớn. Việc bố trí đồ tùy táng đặc biệt là đồ gốm cho thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò. Các bình gốm tùy táng được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát chứng tỏ không có trường hợp chôn người trên các bình gốm tùy táng và việc không có xương người lớn cũng nói lên điều này. Tuy nhiên trong các khu mộ Sa Huỳnh không thấy khu mộ nào chôn nguyên xác do vậy nhiều khả năng cư dân Sa Huỳnh đã "trả" xác về với thần Biển. Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc sống của họ luôn gắn với biển phụ thuộc vào biển vì vậy họ tôn thờ thần Biển. Đưa người chết về với biển có thể hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hóa: Con người từ tự nhiên sinh ra và trở về với tự nhiên (biển). Những ngôi mộ vò trên mặt đất có lẽ là những mái nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán. Vì vậy không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà người ta tìm thấy các mộ Sa Huỳnh tập trung theo từng nhóm nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn ra vào; còn trẻ thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của người lớn do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú.

Cũng trong giai đoạn tiền sử một loại hình di tích khác cũng được phát hiện trên đất Bình Định đó là những điểm phát hiện trống đồng Đông Sơn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định đã phát hiện được 14 chiếc trống đồng. Sự xuất hiện của trống đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn đã phản ánh một thực tế từ sơ kỳ Đồng thau và Sắt sớm cư dân Sa Huỳnh đã có mối giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông - Nam Á. Sự tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với các nền văn hóa rực rỡ trong khu vực kế cận như Đông Sơn (phía Bắc) Dốc Chùa (phía Nam) và cả với Thái Lan đã cho đỉnh cao Sa Huỳnh một mô thức văn hóa đa dạng với sắc thái riêng. Rõ ràng trong mối quan hệ qua lại nhiều chiều của Văn hóa Sa Huỳnh người ta đã thấy bóng dáng của Văn hóa Đông Sơn in đậm trên vùng đất Bình Định.

Tham gia Hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh sẽ được UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức vào tháng 7 năm nay là dịp để Bảo tàng Bình Định mở rộng phạm vi hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc theo định hướng xã hội hóa các hoạt động bảo tàng trong giai đoạn hiện nay.

  • Hồ Thùy Trang

More...

Con gái Bình Định thời nay đi quyền

By Tinh Khuc Quy Nhon

Con gái Bình Định thời nay đi quyền

Ở Bình Định câu ca "Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền" không chỉ là ký ức. Đến với những võ đường tại gia những CLB võ thuật ở Quy Nhơn ta vẫn có thể bắt gặp hình ảnh những cô gái say mê với từng đường thương thế quyền.





Một nữ võ sinh
đang biểu diễn võ tại võ đường Lý Xuân Cảnh (An Nhơn).



* Khi con gái "bỏ roi đi quyền"

    Theo chân anh Hồ Sỹ (con trai võ sư Hồ Sừng thôn Hòa Mỹ xã Bình Thuận Tây Sơn) chúng tôi tìm đến nhà nữ võ sinh Phạm Thị Nhượng ở cùng thôn. Nhượng đang học lớp 12 Trường THPT Tây Sơn là "đệ tử ruột" của thầy Hồ Sỹ cũng là thành viên đội tuyển võ thuật của huyện. Nhượng bắt đầu học võ từ hè năm 1994. Lúc ấy không hiểu sao Nhượng lại bỗng thấy thích thú lạ kỳ với những cú đánh đường roi... Mỗi ngày học lỏm một nét đến khi Nhượng nhớ trọn một bài quyền bèn lẻn ra góc vườn đánh thử. Mải mê Nhượng đâu biết phía sau lưng ba anh em Hồ Cương Hồ Bé Hồ Sỹ đứng khoanh tay trước ngực nhìn con bé nhỏ choắt huơ tay múa chân. Họ nhìn nhau gật gù. Từ đó Nhượng chính thức trở thành đồ đệ bé của võ đường họ Hồ.

    Điều thú vị là trong ngôi nhà của gia đình Nhượng không chỉ mình Nhượng biết võ. Bà nội của Nhượng là Nguyễn Thị Thùy vốn là người làng An Vinh cũng từng học võ. Bà cụ đã hơn 80 tuổi lưng còng tóc bạc đi phải dò dẫm từng bước. Cây thương Nhượng dựng nơi góc nhà với bà nay cũng quá sức. Nhưng những chiều tắt nắng dưới tán xoài bà lại bắc cái ghế đẩu ngồi xem cháu múa võ rồi dò dẫm bước lại cầm tay chỉ bảo rằng tay giương thế nào chân tấn ra sao cho đẹp mắt phải nhìn như thế nào mới toát hết cái thần thái đường thương thế võ...

    Chúng tôi lại đến nhà bé Phan Thị Ngọc Cầm một nữ võ sinh nhí trong thôn. Tiếp chúng tôi anh Phan Văn Lập cha của Cầm cho biết: Ba thế hệ trong gia đình anh đều là võ sinh võ đường Hồ Sừng. Năm Cầm 5 tuổi anh gởi con sang nhà chú Sỹ nhờ dạy võ. Ban đầu anh cũng chỉ nghĩ là cho con theo học vài tháng cho biết để có chút võ phòng thân; sau thấy con có năng khiếu anh tiếp tục cho con theo học. Đến giờ Cầm học võ đã 5 năm. Cô bé cao khoảng 1 2m trong khi cây thương lại dài 1 4m vượt quá đầu. Thế nhưng trước sự chứng kiến của thầy Hồ Sỹ em biểu diễn bài "Độc long thương" rất thuần thục và có thần thái. Tôi hỏi Cầm vì sao thích võ cô bé thật thà: "Con thấy các chú các anh chị múa võ đẹp quá nên xin ba má cho đi học. Con thấy thích muốn được học hoài chứ cũng hổng biết tại sao mình lại thích nữa!".



Võ sinh nhí Phan
Thị Ngọc Cầm biểu diễn "Độc long thương".



* Mạch nguồn vẫn chảy

    Người dân làng võ An Vinh vẫn tương truyền giai thoại về cô Tám Cảng con gái của võ sư Hương mục Ngạc. Vóc dáng mảnh mai vậy mà cô từng hạ hàng chục võ sĩ. Còn thế hệ nữ võ sinh hôm nay khi chúng tôi tìm đến có em đang nấu cơm có em đang mải chơi nhảy dây hay trốn tìm. Nét hồn nhiên đời thường khác hẳn khi các em thượng đài trên sàn đài mỗi mùa xuân: mắt sáng quắc cương nghị tay vung mạnh mẽ.

    Người dân Hòa Mỹ vẫn kể nhau nghe chuyện chị Đ.T.Y. Thời con gái chị Y. cùng mẹ xuôi ngược đi buôn liên tỉnh. Những lần buôn xa mẹ con chị đều bị các bạn buôn khác cậy thế bắt nạt. Ức quá chị đến lò võ Hồ Sừng xin học vài thế hộ thân. Mang cái vốn ấy chị tiếp tục hành trình mưu sinh.Đến các chợ Sài Gòn bạn trong nghề quen thói bắt nạt. Biết mình là người phương xa chị lấy dĩ hòa vi quý làm thân. Tuy nhiên họ càng hung hăng đạp bể bánh tráng vứt hàng họ của mẹ con chị. Vậy là giữa chợ chị rút đòn gánh tả đột hữu xông thân hình xoay chuyển nhanh như cắt. Các bạn buôn ỷ thế đông xông vào chị tung các đòn thế khiến họ lăn kềnh. Người trong chợ ai nấy chỉ trỏ thán phục. Từ đó dân buôn bán với nhau mỗi khi nhắc đến tên chị đều không quên "đính" theo thương hiệu "gái Bình Định". Đó là lần đầu và cũng là lần cuối chị vận dụng các thế võ trong cuộc mưu sinh.

    Võ sư Hồ Sừng (làng võ Thuận Truyền thôn Hòa Mỹ xã Bình Thuận huyện Tây Sơn) cho biết: không có sự khác biệt giữa võ dành cho con trai hay con gái. Tùy vào sự tiếp thu của võ sinh người thầy có cách dạy cho phù hợp. Con gái thường thua con trai về thể lực nhưng bù lại rất mềm dẻo quan sát tốt lại hiền ngoan.

    Theo anh Hồ Sỹ phong trào nữ học võ những năm gần đây sôi động hơn chủ yếu là do sự thay đổi quan niệm ở các bậc phụ huynh. Lối suy nghĩ "con gái mà suốt ngày võ nghệ có khi... ế" phần nào đã thay đổi trước sức sống của tinh thần thượng võ. "Khoảng mươi năm trước tìm một đồ đệ nữ để truyền võ và thuyết phục cha mẹ cho đi thi đấu khó như... mò kim đáy bể. Giờ thì vui rồi tụi nó xắn quần bó gối hăng say kiên trì tập không thua gì con trai không xấu hổ chi hết"- anh Hồ Sỹ phấn khởi.

    Mà phong trào nữ nhi theo võ học cũng không chỉ phát triển mạnh ở các làng võ thuộc các huyện Tây Sơn Tuy Phước An Nhơn; đến các CLB võ thuật ở Quy Nhơn chúng tôi cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh các cô bé tuổi lên 7 lên 10 trong trang phục võ cổ truyền quen thuộc đang tập những bài cơ bản trong thập nhị yếu pháp. Ở những lớp này số nữ võ sinh thường chiếm đến một phần ba. Những nữ võ sinh mà tôi gặp hết thảy đều rất dịu dàng hồn nhiên có phần bẽn lẽn khi "bị" người lạ phát hiện là mình biết võ.

    Bé Trương Thị Mỹ Thơ (nhà số 140 đường Bạch Đằng Quy Nhơn) đang học võ cổ truyền do thầy Nguyễn Thành Viện phụ trách tại Sân vận động Quy Nhơn hớn hở khoe: "Sau 5 tháng học em biết được các bài như đinh tấn ngựa kim kê ngựa chảo mã bài lão hổ thần đồng tứ linh đao. Thấy em học được ba mẹ vui lắm. Mấy tháng nay ngày nào ba bận thì mẹ đưa đón em đến lớp võ".

Sao Ly (Theo Báo Bình Định)

More...

Thiếu nhi Bình Định cần nhiều ca khúc của riêng mình

By Tinh Khuc Quy Nhon

Thiếu nhi Bình Định cần nhiều ca khúc của riêng mình
Đề tài thiếu nhi luôn khơi gợi nhiều cảm hứng cho nhạc sĩ. Các nhạc sĩ Bình Định đã sáng tác nhiều ca khúc hay khắc họa một cách chân thực và sống động thế giới tuổi thơ hồn nhiên... Nhưng mấy năm nay những ca khúc hay mới phù hợp với thiếu nhi đang ít dần.
 
 

Các em thiếu nhi đang thiếu những ca khúc hay phù hợp với lứa tuổi. - Trong ảnh: Các em thiếu nhi múa hát tại Hội Báo Xuân 2009. Ảnh: Văn Lưu

* Viết cho các em

Nhạc sĩ Bùi Tuyên Đông là người luôn chuyên tâm sáng tác ca khúc thiếu nhi với nhiều bài hát được ưa thích phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhạc sĩ tâm sự: "Tôi thấy các nhạc sĩ ít viết ca khúc về lứa tuổi thiếu nhi nên muốn tìm tòi sáng tác cho các em. Tôi mong các em có được các bài hát gần gũi dễ nhớ để bồi đắp niềm đam mê và năng khiếu âm nhạc...".

Bài hát nổi tiếng "Những con đường quê em" in trong tập bài hát thiếu nhi cùng tên của nhạc sĩ Bùi Tuyên Đông cũng là bài hát tiêu biểu cho phong cách sáng tác dân dã mang đậm hồn quê: "Có con đường mới đắp cho em vui đến trường. Có con đường rợp bóng mát trâu ra đồng cỏ non. Có con đường hoa sắc thắm bướm ong rộn ràng bay. Có con đường trưa nắng tiếng chim hót vang ngọn tre..." (Những con đường quê em).

Trong một số ca khúc thiếu nhi nhạc sĩ Bùi Tuyên Đông còn chuyển tải những vấn đề mang tính giáo dục cao. Bài hát "Cây phong ba trên đảo xa" (giải Khuyến khích Hội Nhạc sĩ Việt Nam ) sáng tác cách đây đã rất lâu nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự qua việc ca ngợi các chiến sĩ bộ đội ở Trường Sa: "Cây phong ba trên đảo Trường Sa. Như chú hiên ngang đêm ngày giữ đảo. Mắt vẫn đăm đăm chắc súng trong tay. Cho cánh hải âu yên lành bay trong nắng...".

Các nhạc sĩ Lý Anh Võ Nguyễn Văn Xứng (Đức Tuấn) Hà Chí Hiếu... cũng có nhiều đóng góp trong việc sáng tác ca khúc thiếu nhi. Đáng tiếc là nhạc sĩ Hà Chí Hiếu lại đột ngột mất đi khi tập ca khúc thiếu nhi "Hãy hát lên" đã hình thành để lại nhiều tâm huyết vẫn còn dang dở... Vài năm gần đây nhạc sĩ Dương Viết Hòa cũng nổi lên với nhiều sáng tác cho thiếu nhi.

Nhìn chung ca khúc thiếu nhi của nhạc sĩ Bình Định tương đối nhiều nhưng nếu điểm lại thì phần lớn lại là những bài hát đã ra đời từ hàng chục năm.

* Cần thêm nhiều ca khúc mới

Các sáng tác mới cho thiếu nhi ngày càng ít đi nếu có thì cũng không được phổ biến rộng rãi so với trước. Nhạc sĩ Bùi Tuyên Đông cho biết: "Nhu cầu bài hát mới của các em thiếu nhi hiện nay là rất lớn. Trong thời gian tới tôi sẽ cố gắng sáng tác thêm nhiều ca khúc thiếu nhi mới về chủ đề quê hương Bình Định. Đồng thời sẽ viết ca khúc thiếu nhi trên làn điệu dân ca khu V để lôi cuốn các em thiếu nhi đến với dân ca...".

Hơn 30 năm làm giáo viên dạy nhạc đã giúp cho nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thuần nắm bắt và thể hiện sinh động chân thực lứa tuổi học trò trong các tác phẩm của mình. Không gian tuổi thơ hiện lên trong nhạc của anh thật sống động và hồn nhiên. Anh tâm sự: "Gần gũi và gắn bó với các em thiếu nhi tôi như tìm về lại với khoảng trời trong xanh của tuổi thơ đã đi qua. Ở đó lấp lánh vẻ đẹp của sự hồn nhiên ngây thơ sự háo hức rung động trước bao điều mới lạ... đem đến nguồn cảm hứng dồi dào thôi thúc tôi sáng tác. Tôi đã có hơn 50 ca khúc thiếu nhi với nhiều bài hát được học trò yêu thích nhưng tôi vẫn còn muốn viết thêm thật nhiều cho các em".

Cuộc thi sáng tác ca khúc thiếu nhi gần nhất mà tỉnh ta tổ chức cũng đã cách đây gần... 20 năm. Trong tương lai cần có kế hoạch tổ chức định kì nhiều cuộc thi hay các hoạt động sáng tạo âm nhạc tập thể về đề tài thiếu nhi. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thuần Chi hội trưởng Chi hội Âm nhạc Bình Định cho biết: "Chúng tôi đã có thông báo với các hội viên về việc sáng tác các ca khúc thiếu nhi trên cơ sở đó tuyển chọn tác phẩm để in thành tập ca khúc thiếu nhi chung của nhiều tác giả. Sắp tới Câu lạc bộ Văn nghệ của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh cũng sẽ phối hợp với Nhà Văn hóa Lao động tỉnh mở các lớp âm nhạc thiếu nhi thành lập đội ca khúc ca măng non để có điều kiện trình diễn giới thiệu thường xuyên các ca khúc thiếu nhi...".

Các em thiếu nhi đang thiếu nhiều ca khúc hay và mới phù hợp với lứa tuổi của mình. Hy vọng các nhạc sĩ Bình Định sẽ sớm chia sẻ nỗi thiếu thốn này với các em.

  • Hoài Thu

More...

Trần Quang Diệu - Truyện ngắn của TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

By Tinh Khuc Quy Nhon

Trần Quang Diệu


Truyện ngắn của TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
 
Mùa xuân ở vùng thượng nguồn sông Kim Sơn năm ấy khác hẳn mọi năm. Cỏ cây ngái ngủ. Mây trắng cứ sà xuống ôm vai núi Kim Bồng một cách ủ dột. Từ hạ lưu nhìn lên ngọn núi xanh sẫm với vầng mây bông lãng đãng có vẻ đẹp vừa thơ mộng lại vừa u hoài. Nó xui người ta nhớ nhung rất nhiều điều lo nghĩ rất nhiều điều nhất là khi người ta lại sinh sống trên một dải đất sơn phòng có ít nhiều đặc sản trời cho tức là có cái để sợ mất. Cheo leo trên tất cả mọi nỗi sợ là tội chết chém lơ lửng trong không trung chưa biết sẽ rơi xuống đầu mình vào lúc nào. Số là ở đây có ba thứ tuyệt phẩm. Thứ nhất là người đẹp thứ nhì là trà cam khổ thứ ba là cá bống cát. Trong đó người đẹp là thứ quý nhất cực hiếm trăm năm mới có một người nhưng đã xuất thế thì phi phàm dáng như tiên mặt như ngọc hương như sen. Song đó chỉ là truyền thuyết từ vài mươi năm trở lại đây chưa thấy. Dân chúng một dải dọc sông như Vạn Hội Thanh Lương Năng An Đại Định chưa nếm cái đại phúc hoặc đại họa về người đẹp. 
Còn hai thứ sau là có thật đã làm nên sự thao thức sảng khoái của người thưởng lãm đồng thời làm hao tổn không ít mồ hôi nước mắt và cả máu dân lành. Cá bống cát tên chữ là Bình Giang sa ngư con lớn nhất chỉ nhỉnh hơn ngón tay út người đẹp một tị tì teo đánh từ sông lên còn giẫy tanh tách. Làm qua một lượt ướp nước mắm nhỉ gia thêm hành tiêu An Lão lập tức con nào con nấy thân rướn cong như một dấu phẩy. Ướp độ nửa khắc trong trã đất đem kho trên lửa than riu riu mùi thơm bốc lên tận thiên đình Ngọc Hoàng đang bệnh cũng lồm cồm trở dậy đòi ăn cá bống cát kho tiêu với cơm gạo Thần Nông. Mà phải đúng cá bống cát sông Lại (một đoạn dưới của sông Kim Sơn) thì mới tuyệt ngon. Ăn xong lại không muốn uống một thứ bồ đào mỹ tửu nào ngoài trà cam khổ hái trên các triền núi Vạn Hội. Thứ trà này được chế biến từ ngọn cây chè núi chỉ vùng này mới có cọng lớn lá thô ngắt vào quãng mờ sáng phơi trở chín sương chín nắng rồi sao đảo liên tục thâu đêm trên lửa đã hãm nhiệt cho đến khi lá săn lại khô giòn mà không bị sém. Nâng một cốc trà cam khổ bốc khói ngửi qua như có mùi mốc nhưng nhắp thử một ngụm cổ họng ngọt thơm đến hàng giờ không dứt. Đối với người đã nghiện trà này mọi thứ danh trà quý hiếm từng được các văn sĩ cổ kim truyền tụng như Ô Long Trảm Mã Bạch Mao Hầu Mẫu Đơn đều xếp hàng thứ phẩm. Sở dĩ trước kia nó chưa nổi tiếng vì sơn dân thích dùng nước suối hơn dùng trà hoặc giả có dùng thì họ cũng chỉ ưa loại nước chè tươi không qua sao tẩm cầu kỳ uống bằng bát lớn bọt trắng chấp chới viền quanh mặt nước sóng sánh màu mắt mèo.
Một vài nhà quan đã quen nếm trà sao tẩm lúc về vườn thừa nhàn bèn nghĩ cách huy động lũ con ở phục dịch cho thú cao sang. Ban đầu cũng thử chơi thôi không ngờ trà chế được từ thứ chè quê ngon quá sướng lên các cụ mới khoe nhau và cứ thế kháo rộng ra ngoài. Quan hưu thử rồi nho sinh thử đương chức thử. Gần đồn xa đến phủ đến dinh đến tận tai chúa Nguyễn. Chúa muốn ngự lãm tất cả của ngon vật lạ trong giang sơn mình. Chúa chỉ cần nói một quan Quốc phó Trương Phúc Loan hiểu mười quan Tổng đốc dinh Quảng Nam hiểu trăm quan Tuần phủ Hoài Nhơn Nguyễn Khắc Tuyên hiểu nghìn và cấp số nhân cho phép nhu cầu nở ra một cách kinh khủng tùy theo túi tham cũng như sự nịnh hót của bọn tham quan ô lại.
Thế là hằng năm trong vô vàn của cải sản vật tiến kinh của dân phủ Hoài Nhơn thế nào cũng có hai món Bình Giang sa ngư và trà Cam khổ. Tên trà Cam khổ do đâu mà có? Người thì bảo do vị trà ngòn ngọt đăng đắng người thì bảo do nghề phu trà cam chịu khổ ải. Có một người phu trà tên Tỵ người Thanh Lương quanh năm suốt tháng quần đảo khắp các triền núi để canh chè vì loại chè này chỉ mọc hoang không cách nào trồng được mà giống khỉ rừng ở đây rất hảo lá chè non. Một bữa nọ nhân lúc ông Tỵ ngủ quên bọn khỉ kéo nhau về chén  sạch đọt chè không chừa một ngọn. Kết quả  năm  ấy không có trà khô dâng chúa. Ông Tỵ bị chém đầu bêu giữa chợ một quan chức họ Trần quê ở Vạn Hội thương xót mới đặt tên trà là trà Cam khổ. Bọn đồng liêu thóc mách méc lên thượng cấp ông Trần suýt bị vạ miệng. Tương truyền năm ông Tỵ chết oan mây trắng không chịu bay cứ quấn quanh ngọn Kim
Bồng.
Vị quan chức họ Trần đó văn võ kiêm toàn cụ tổ là người miệt ngoài chán thế sự nhiễu nhương đưa gia đình vào đây khẩn hoang lập ấp. Thấy cuộc đất quá đẹp cụ tổ dành ra tám mẫu đất dặn con cháu để làm sanh phần. Trước lúc quy tiên cụ tổ dặn con chôn mình ở đấy. Mộ phát con cháu nối đời làm quan đến ông Trần là đời thứ ba. Giấc mộng công hầu khanh tướng trong thời buổi loạn ly xem chừng không đủ sức hấp dẫn ông Trần. Ông tìm cách rút khỏi hí trường về Vạn Hội chăm sóc khu mộ Trần gia tổ sơn và mở trường dạy học cho dân nghèo. Hồi đó dân vùng này rất khổ cực thường xuyên bị bọn cướp đêm cướp ngày quấy nhiễu nhiều người tay trắng đường cùng lại bỏ vào truông làm nghề ăn cướp. Ngoài nạn cướp còn có nạn cọp. Truông Mây hồi ấy có đôi cọp trắng khét tiếng dữ dằn vẫn thường mò sang Vạn Hội bắt người và gia súc. Có đêm cọp tha mất hai ba mạng người. Ông Trần và dăm tay thợ săn can trường tình nguyện đi giết cọp dữ cứu dân làng. Sau mấy tháng dai dẳng luồn rừng họ đã giáp chiến với đôi cọp trắng. Một người trong đoàn săn bất cẩn bị con cọp cái đang có mang vồ chết tươi. Bạn săn mất tinh thần tên bắn cứ rơi rụng vào khoảng không. Thấy vậy ông Trần liền rời chỗ nấp lách qua một gộp đá giương cung nhằm vào trán con cọp đực. Vút một cái mũi tên độc xé gió cắm phập ngay khoảng giữa hai hố mắt con thú. Nó rống thảm thiết và hứng thêm mấy mũi nữa của phường săn vào bụng vào đùi. Thấy chồng bị hại con cọp cái nhào qua tát ngang vào mặt ông Trần. Ông vừa rùn chân né người tránh được thì nhanh như cắt nó đã quay ngoắt lại chộp cả bộ vuốt trước vào ngực ông xé toạc một vạt áo. Ông Trần không dám khinh suất liền lộn người mấy vòng để thoát hiểm. Bạn săn bắn như mưa để hỗ trợ cho ông nhưng cơn say mồi đã làm con cọp cái không còn biết hoảng sợ. Nó điên cuồng lăn xả giữa làn tên độc quyết truy đuổi ông Trần. Giữa lúc nó giương hết nanh vuốt để theo đuổi mục đích thì con cọp đực kêu lên một tiếng ai oán làm nó khựng lại. Hình như tiếng kêu của chồng nhắc nó nhớ rằng cần phải giữ đứa con trong bụng. Và thế là nó cũng đáp lại chồng bằng một âm thanh da diết vừa đau xót vừa vâng chịu lại vừa như một lời từ biệt buốt cả ruột gan. Con cọp đực thấy vợ đã dừng lại thì có vẻ yên tâm mắt nó dại đi mình giật liên hồi rồi duỗi ra im phắc. Con cọp cái đau đớn đi quanh xác chồng gí mũi vào mắt vào tai vào nách. Nó còn cắn thử vào vai cọp đực. Thế rồi nó sững sờ nhận ra rằng con cọp đực đã chết.
Đoàn thợ săn lúc ấy đã trèo lên các chạc cây cao ai nấy phấp phỏng  nhìn xuống chỗ đôi cọp. Họ thấy con cọp cái dùng hai chân trước ôm lấy mặt chồng gục mặt mình vào đấy như một con người tuyệt vọng. Giữa lúc mọi người đang sững sờ vì cảnh thương tâm trước mắt thì nó đã buông xác bạn đời đứng vụt dậy ngoạm lấy vạt áo dính máu của ông Trần phóng thẳng vào ngàn xanh khuất dạng.
Đoàn thợ săn trở về. Nhiều tháng trôi qua bình yên.
Bọn cướp truông mấy lần đọ sức với đám võ sinh trong làng bị thua cạch hẳn không dám bén mảng. Con cọp cái có lẽ bận sinh nở và nuôi con. Sức  khỏe ông Trần dần dần bình phục. Thế nhưng khi chú cọp con vừa biết nhai thịt rừng do mẹ săn về thì cọp cái lại nhớ mối thù chồng chưa trả. Nó thường đi đi lại lại dưới bóng trăng khuya một cách day dứt. Một đêm nọ nó mang con đến trước một hang động. Đợi khi con ngủ say cọp trắng bỏ đi một lúc rồi lôi về một chú nai tơ nó vừa quật chết đặt trên miếng vải bên cạnh. Nó còn liếm con nó hồi lâu rồi dứt khoát quay đầu. Nó xuống núi.
Buổi sớm định mệnh. Cửa động sịch mở. Sơn ông ở trong động vừa bước ra thì thấy chú cọp con lông trắng như tuyết đang ngủ ngoan bên cạnh một xác nai sóng soài tươi máu. Nhưng điều làm ông chú ý hơn cả là miếng vải lót. Ở đâu ra thế nhỉ? Ông thầm hỏi và cúi xuống nhìn thì ra là vạt áo người bị cọp xé rách. Một chữ Trần thêu bằng chỉ xanh đã bạc màu làm ông giật mình. Nhốt chú cọp con vào một  gian nhỏ trong thạch động ông hối hả băng ngàn.
Linh cảm đã không đánh lừa ông. Thôn dân vùng Vạn Hội còn đang kinh hoàng vì đại nạn vừa qua. Con cọp cái tấn công bất kỳ ai trên đường tới gia trang họ Trần. Bà Trần trước đó mấy hôm đã dẫn hai đứa con lớn về thăm quê ngoại chưa trở lên nên thoát nạn. Ở nhà còn ông Trần lão bộc chị vú và đứa con trai nhỏ của ông Trần đương tuổi nằm nôi. Con cọp cái gầm rít từng hồi dài đòi mạng. Chị vú cuống cuồng trèo lên bồ lúa quấn chiếu rên khừ khừ. Ông Trần bèn giao đứa con nhỏ cho lão bộc rồi nhảy ra đương đầu cùng cọp dữ. Người và cọp quần nhau chí tử. Bụi đất bốc mù. Cây lá trong vườn tối mặt. Lão bộc thông minh mang chiếc nôi tre treo lên chạc dừa cao. Lão vừa treo xong thì con cọp cái trả được thù. Ông Trần bị nó móc vỡ ngực máu loang ướt cả mặt đất. Lão bộc thương chủ liền rút dao găm nhảy xuống tử chiến cùng con cọp hung hăng. Biết mình không đủ sức đánh trả con cọp sung sức và quỷ quyệt này lão bèn đứng tấn hơi khom người chờ đợi. Con cọp cái sau một lúc gầm ghè quan sát liền lùi lại lấy đà rồi nhảy dựng lên. Cú vồ từ trên xuống như núi sập. Những chiếc vuốt đầy sát khí của nó vừa bập vào tấm lưng gầy của con người nhỏ thó tức thì lão bộc dồn hết sức tàn đâm mạnh vào giữa tim mãnh thú.
Sơn ông và một vài thôn dân đến nơi thì con cọp cái đã tắt cơn giẫy chết. Nằm cạnh nó lão bộc chỉ còn là cái xác rách bươm nhầy nhụa máu. Cả khu vườn như nín thở chỉ có bọn kiến đất nghe hơi máu hối hả chạy tới chạy lui như hội chợ. Giữa lúc ấy tiếng khóc của cậu bé từ chạc dừa cao vọng xuống. Sơn ông che trán nhìn khắp vườn tìm kiếm. Chiếc nôi tre như chiếc tổ dồng dộc khổng lồ đang động đậy. Tà áo vàng phất nhẹ một cái sơn ông đã ở trên ngọn dừa có buộc tao nôi nhanh chóng đưa đứa trẻ sơ sinh xuống đất. Chị vú cho tới lúc ấy mới lóp ngóp trèo khỏi bồ lúa lấp ló nhìn qua cửa. Sơn ông vẫy chị ta ra ngoài bảo chị bồng đứa nhỏ còn ông và các thôn dân chôn cất ông Trần và những người thiệt mạng. Con cọp cái cũng được chôn gần đó. Trong khu mộ địa Trần gia tổ sơn có một nấm mộ đất không bia trên đó cỏ không mọc được người đời sau gọi là mả
cọp.
Lúc mọi người lo xong việc chôn cất người chết thì thằng bé nhà họ Trần đang khóc ngằn ngặt. Chị vú dỗ cách nào nó cũng không nín. Sơn ông nghe nó khóc mãi thì động tâm bèn đỡ lấy nó trên tay chị vú đểnh đoảng. Lập tức thằng bé nín bặt nó hấp háy đôi mắt hạt tiêu nhìn lên mái tóc bạc phơ và toét miệng cười. Một tình cảm trìu mến lạ thường dâng lên trong lòng sơn ông khi ông cúi xuống nhìn kỹ mặt nó. Trán phẳng mày dài mũi thanh môi đỏ hứa hẹn một trang nam nhi anh tú. Có lẽ trời xui ta gặp nó chăng? Nhưng nó còn có mẹ. Sơn ông thở dài. Ông se sẽ chuyển đứa bé cho chị vú. Nó lại khóc thét lên như có ai đánh ông bế lên thì nó lại cười những người đứng quanh đấy đều cho là lạ. Ông nói với họ:
- Phiền quý vị nhắn lại với Trần phu nhân rằng ta xin nuôi dạy đứa bé này. Sau này trời thương mẹ con sẽ đoàn tụ!
Mọi người còn chưa kịp thưa lại điều gì thì ông đã nhún mình phóng đi. Trong nháy mắt tà áo vàng chỉ còn in một dấu chấm phía trời tây rồi mất hẳn.
*
- Phu nhân này mới đó mà ta và nàng đều già cả rồi. Bạn cũ bao kẻ đã ra người thiên cổ...
Trần Quang Diệu gối đầu lên đùi vợ. Bà Xuân cúi xuống bỏ một sợi tóc bạc vừa nhổ được lên bàn tay ông bàn tay đầy vết chai của một đại tướng xông pha đông tây nam bắc chẳng mấy lúc thư nhàn bàn tay đựng bao nhiêu nhọc nhằn thao thức của một đời người. Có lẽ không phải thế bàn tay ấy không chỉ đựng một đời người bàn tay ấy đã đựng rất nhiều cuộc đời rất nhiều số phận. Hình như đấy không phải là ý nghĩ của riêng bà. Hình như ai đó đã nói như vậy và câu nói ấy trùng hợp với ý nghĩ thầm kín của bà nên bà nhớ. Ai nhỉ? À phải Quang Trung Nguyễn Huệ đã nói như vậy khi cầm tay Trần Quang Diệu trong lần trò chuyện cuối cùng. Hoàng đế đã nói rằng ông không chỉ muốn gửi Quang Toản cho Diệu dạy dỗ mà muốn gửi cả xã tắc cho Diệu lo toan. Đó là lời nói chân thành của tình bạn trái tim bà mách bảo như vậy. Bà đã chia với  hai người đàn ông đó - Huệ và Diệu - những khoảnh khắc sinh tử. Bà biết họ đã gắn bó nhau ra sao cho nên bà hiểu lời nói của Huệ với Diệu trước phút lâm chung không phải là lời nói thử lòng kiểu Lưu Huyền Đức thử Khổng Minh cũng không phải là lời thắt buộc lòng người cốt để bạn tận tụy hơn nữa với con mình. Đó là lời gan ruột.
Những ngón tay thon dài của bà luồn vào tóc chồng mái tóc đẫm hương rừng núi dù ông có về kinh thành và đồng bằng bao lâu hương rừng núi vẫn không phai. Bà nhớ rằng từ lần đầu tiên gặp nhau lần bà cứu ông thoát chết dưới vuốt bạch hổ cõi lòng nhi nữ thanh tân đã xao xuyến đến thế nào vì mùi tóc hoang dã ấy.
- Nhanh thật đấy! - Giọng Bùi Thị Xuân trở nên xa xôi - Bạch hổ có lẽ đã về trời rồi cũng nên mình nhỉ?
- Không không đâu! Bạch hổ chết thế nào được! Chính Bạch hổ giúp ta mở con đường rừng từ Tây Sơn thượng đạo ra Nghệ An. Mấy lần tiên đế trẩy quân ra Bắc khi diệt Trịnh lúc đánh Thanh đều đi bằng con đường này. Hồi mở đường bao phen ta bị lạc những lúc ấy lại thấp thoáng Bạch hổ trước mặt. Cái bóng trắng của nó dắt ta tìm ra phương hướng mà đi tới cho tới khi đường được thông suốt mới thôi. Bạch hổ hiếu nghĩa hơn cả người. Vào mùa xuân năm ngoái ta về thăm mộ thầy đã thấy bên mộ đặt sẵn những quả rừng ngày xưa thầy ta thích. Không hiểu nó kiếm bằng cách nào. Nhất định nó biết ta về nhưng lánh mặt.
Giọng Trần Quang Diệu không giấu nổi bùi ngùi. Ông như thấy rõ cái hang núi ấm áp đầy bóng dáng của người thầy yêu kính. Trong vòng tay chăm bẵm của thầy Diệu và Bạch hổ đã lớn lên khi Diệu trở thành chàng trai cường tráng thì Bạch hổ cũng đương nhiên là một đấng mày râu đường bệ. Suốt bao nhiêu năm Bạch hổ chỉ tỏ tình yêu mến với sơn ông còn với Diệu thì nó rất lạnh nhạt thậm chí còn thù hằn. Chàng không hiểu nhưng sơn ông thì hiểu rõ rằng chú cọp nhỏ này từ trong bụng mẹ và trong những tháng đầu tiên được mẹ nuôi dưỡng nó được mẹ truyền cho lòng căm thù đối với con người có hơi hướng đọng ở vạt áo mà mẹ nó xé được. Trớ trêu thay Bạch hổ lại nhận ra hơi hướng ấy nơi Diệu. Đã mấy lần con linh thú toan giở trò với cậu bé nhưng ý định rồ dại của nó không qua nổi mắt sơn ông. Hễ bắt được nó chơi xấu với Diệu là sơn ông lại phạt nó nhịn ăn hàng tuần trong mật thất.
Lần nào cũng thế nó cúi đầu nhận hình phạt của thầy không nửa tiếng than van nhưng khi đối diện với riêng Diệu thì mối hận thù ma quỷ lại làm nó mờ mịt tinh thần. Một lần sơn ông hái thuốc về muộn nó đã quần Diệu suốt buổi. Tất cả những miếng võ sở trường của Diệu do sơn ông truyền dạy con linh thú đều học lỏm được và nó rất biết cách vận dụng để tấn công cậu bé. Diệu lúc ấy háo thắng đã bị Bạch hổ lừa bằng một thế trá bại. Giữa lúc Diệu đang thích chí thì đột ngột Bạch hổ hoành thân chộp từ phía sau vai trái cậu bé bị nó bấu chặt không thương tiếc. Diệu cuống lên vì vẻ hung hãn khác thường của con thú may sao sơn ông về tới. Ông quát rất to làm Diệu lịm người vì sợ mừng lẫn lộn còn Bạch hổ thì vội buông cậu bé rồi ren rén tự đi vào thạch động đinh ninh thầy sẽ phạt nhịn ăn như cũ. Nhưng không lần ấy sơn ông lạnh lùng đuổi Bạch hổ ra khỏi núi Kim Bồng. Con cọp trắng quỳ mọp ăn năn mong thầy tha thứ cả Diệu cũng đã khóc lóc xin tội cho nó nhưng sơn ông không đổi ý. Ông không muốn con đường định mệnh của hai đứa trò yêu sẽ cắt nhau thê thảm ngay tại mật thất nơi ông đã tâm nguyện lánh đời và gieo trồng niềm thiện. Mãi đến khi hấp hối sơn ông mới cho Diệu biết toàn bộ sự thật và bảo Diệu đốt trầm đầu gió gọi Bạch hổ về gặp ông lần cuối. Bạch hổ sẽ không quên mối thù truyền kiếp - bản năng thôi thúc và trói buộc nó. Đã có lúc thầy định giết nó để trừ hậu họa cho con nhưng lòng thầy không nỡ. Con hãy cố giải oán thù và bảo trọng lấy thân để hiến cho đại cuộc.
Đã ba mươi năm trôi qua Diệu vẫn ghi tâm khắc cốt lời dặn của thầy. Oán thù được cởi tại cánh rừng An Khê. Lần ấy Trần Quang Diệu tuân lệnh Nguyễn Huệ đi chiêu mộ anh tài trong thiên hạ. Chàng vừa đi vừa nghĩ mông lung thình lình Bạch hổ xuất hiện. Nó vờn lượn như mây sà sóng cuốn trút xuống chàng những cú chụp như sấm rụng sét rơi nếu trúng được chỉ có nước xanh xương. Chàng càng nhượng bộ thì con mãnh thú càng lấn tới. Trong một thế nhảy lùi để tránh đòn Diệu bị hụt chân ngã ngửa. Trong lúc chàng chưa kịp lấy thăng bằng thì Bạch hổ lao vút tới như một tia chớp kinh người. Chàng chống trả một cách lúng túng trong khi Bạch hổ mỗi lúc một ngập vào cơn say máu. Máu từ cằm từ vai từ hông Diệu tuôn ra như suối. Chàng nhắm mắt chờ chết thì vang lên một tiếng phập khô rực. Bạch hổ bất ngờ bị trúng tên ở sau cổ. Đau điếng nó liền buông chàng ra. Diệu mơ màng thấy một bóng hồng lướt tới với hai lằn thanh quang chập chờn bủa lưới xuống mỗi lúc một sát đầu Bạch hổ. Chàng vội vàng thét lớn: Dừng tay! Không được giết Bạch hổ chạy đi! Bạch hổ chạy đi! Cùng với tiếng thét chàng đưa tay nhặt một viên sỏi búng thẳng về phía trước. Hai lằn thanh quang đã sắp bổ ngay đầu Bạch hổ khựng ngay lại. Người con gái áo hồng dậm chân la lớn: Súc sinh còn chưa đi cho khuất mắt ta! Âm thanh của nàng có một thứ uy lực lạ thường. Bạch hổ hốt hoảng cong đuôi chạy trốn. Trong khi đó Diệu đã ngất đi vì mất máu quá nhiều...
- Phu tướng chàng nghĩ gì vậy? Có nghe thiếp hỏi không? 
- À à ta vẫn nghe. Nàng vừa hỏi gì?
- Thiếp muốn hỏi xem chàng đã định thế nào rồi chuyện ông Sở bị giết oan ấy mà. Trời đâu trời không có mắt vậy! Ông Sở theo phò nhà Tây Sơn một ngày với thiếp công hãn mã đã dày. Khi không bị ông Dũng lập mưu hạ ngục rồi dìm xuống sông. Chẳng lẽ mình để vậy ngồi nhìn?
Trần Quang Diệu lắc đầu:
- Mọi chuyện cũng do Thái sư lộng quyền mà ra.
Nghe nhắc đến chú mình Bùi Thị Xuân chán ngán thở ra. Đã bao phen bà khuyên Bùi Đắc Tuyên giữ đúng đạo vua tôi đừng lấn lướt Cảnh Thịnh đừng ép vua làm chuyện bất nghĩa. Lúc vui Tuyên chỉ gật gật chiếu lệ. Lúc sẵn chuyện bực mình Tuyên quát:
- Mày liệu thân mày đấy con gái đàn bà mà cứ muốn đái đứng. Rặt một giọng của lũ gàn thần. Thằng chồng mày binh quyền lớn quá thành thử mày muốn lên giọng với cả chú mày chứ gì? Tao mà không nghĩ chút tình máu mủ thì tao vả cho rớt răng.
Tuyên vẫn hay đổi ân ra oán nhanh như chảo chớp. Hồi tiên đế còn sống có lần Quang Trung định giáng chức Tuyên vì tội hối lộ. Chính cung hoàng hậu là em gái Tuyên xin mãi không được bèn cầu quan Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ nói giúp. Nể Kỷ Quang Trung cho Tuyên được giữ nguyên chức nhưng phải nộp bản tự cáo và làm cam đoan đọc trước bá quan văn võ. Bùi Thị Xuân còn nhớ Tuyên đã cóm róm tỏ vẻ hàm ơn Kỷ như thế nào. Thế mà cách đây không lâu sợ Kỷ ở vị trí phụ chính cho Cảnh Thịnh sẽ làm lu mờ mình Tuyên đã kiếm cớ hại Kỷ. Tuyên xúi Cảnh Thịnh giết Lê Văn Hưng vì tội tạo phản khi Hưng vừa thắng quân Nguyễn ở Phú Yên hăm hở về kinh báo tiệp. Biết Hưng bị oan quan Phụ chính Trần Văn Kỷ và đô đốc Lộc đứng ra can thiệp. Tuyên phao luôn rằng Kỷ và Lộc cùng cánh với Hưng xin vua giáng chức Kỷ Lộc đổi làm lính. Kỷ bị đày ra coi trạm Hoàng Giang. Triệt được các nhân vật không ăn ý với mình xong Tuyên tính đến chuyện thu dần binh quyền một số tướng lĩnh ở xa. Việc đổi Ngô Văn Sở ra Thăng Long gọi Võ Văn Dũng về Phú Xuân chính là mưu đồ của Tuyên. Dũng về đến trạm Hoàng Giang gặp Trần Văn Kỷ bèn nghỉ đêm ở đấy. Kỷ cho Dũng biết  âm mưu của Tuyên và khuyên Dũng nên sớm trừ kẻ loạn thần. Nghe lời Kỷ Dũng gấp rút về kinh hợp mưu với Thiếu bảo Huấn bắt Tuyên hạ ngục đoạn sai Huấn vào Quy Nhơn bắt con Tuyên là Trụ lại đưa chiếu giả ra Thăng Long bắt trói Ngô Văn Sở giải về. Sở chịu chung số phận với cha con Bùi Đắc Tuyên bị bỏ cũi sắt dìm xuống sông Hương. Trần Văn Kỷ được đón về kinh lật đật nói cho Dũng hay rằng Sở vô tội. Đến lúc ấy Dũng mới biết mình giết nhầm người ngay.
Cách đây mươi hôm Diệu đang thống suất đại binh đánh thành Nha Trang vụt nghe Sở bị giết lòng như lửa đốt bèn họp chư tướng lại bảo rằng:
- Chúa thượng không cương quyết đại thần giết lẫn nhau tai biến không gì lớn hơn thế nữa. Nay chúng ta hãy kéo về kinh dẹp yên cuộc biến loạn ở bên trong rồi sau lại vào đánh giặc cũng chưa muộn.
Các tướng dưới quyền Diệu đều cho là phải. Diệu về đến Quảng Nam thì gặp vợ. Bùi Thị Xuân thương tiếc anh nuôi là Ngô Văn Sở mấy ngày liền mất ăn mất ngủ. Diệu nhìn dáng vẻ bơ phờ của vợ lòng xót xa vô hạn. Ông bảo:
- Hay nàng cứ ở đây. Để một mình ta đưa quân về  kinh xem sự thể ra sao.
- Không được đâu! Chàng đi một mình lỡ có bề gì thì làm thế nào?
- Hôm qua ta ngồi bên tràng kỷ rượu cầm trên tay mà miệng đắng lòng đau không sao uống nổi. Ta ngủ quên lúc nào không hay. Nàng biết không tiên đế hiện về. Ta và tiên đế uống rượu y như hồi người còn sống y như hồi Người bàn với ta xẻ Trường Sơn mở con đường thượng đạo để quân ta hành quân bí mật. Hai chúng ta tiên đế và ta ấy như sinh ra là để hiểu nhau... Phu nhân ạ điều ấy chúng ta đều cảm thấy nhưng không ai nói ra. Tiên đế thì giữ cho ta Người sợ có kẻ ghen ghét mà hại ta. Còn ta thì... Ta thì phải luôn luôn nhớ rằng tiên đế không chỉ là bạn ta mà còn là người gánh cái gánh nặng hơn ta nặng hơn gấp nhiều lần. Hoàng  thượng bất minh không nối nổi chí cha nhân tâm ly tán giặc đến thì lấy ai chống đỡ đây? Đêm qua trong chiêm bao tiên đế cười cười nói nói với ta nhưng mắt Người buồn lắm. Trước lúc đi Người chợt bảo ta: "Ông Diệu này ta có một câu ông nghe thử có phải là thơ không hay là thứ gì?". Rồi Người đọc: "Trẫm lạc nhân hoàn lưu chính trị". Chui cha phu nhân! Phía Nam Nguyễn Ánh đang lựa gió nồm. Tiên đế nằm chắc không yên giấc ta phải làm sao đây? Giết thêm một Võ Văn Dũng ư? Giết thêm một Nguyễn Văn Huấn ư? Ta gặp Huấn ở Quy Nhơn Huấn sợ nhưng ta lờ đi không hỏi. Ông Dũng là một tướng giỏi của tiên đế. Ta không muốn triều đình mất thêm người tốt.
Trần Quang Diệu ngồi dậy đưa tay vuốt ngược mái tóc búi gọn trên đỉnh đầu. Bùi Thị Xuân im lặng không hỏi gì thêm. Bà hiểu chồng mình. Diệu sẽ về triều về để nhắc vua chứ không phải để gây náo loạn triều đình cho hả giận. Bà cũng sẽ về triều bà muốn gặp lại những người đã từng rau cháo thời mới họp nhau ở Tây Sơn thượng đạo. Nhạc Huệ Lữ Diệu Xuân Dũng Sở Tuyết Lộc Long Minh... Lòng bà ngân lên từng cái tên thân thuộc. Bỗng dưng bà áp mặt lên vai chồng khóc òa như một đứa trẻ. Ông dịu dàng ôm lấy bà dỗ dành:
- Nín đi nào phu nhân nín đi! Sau này khi nào đất nước yên hàn ta sẽ đưa nàng và con về Vạn Hội lo khói hương cho tổ phụ. Mình sẽ về thăm đỉnh Kim Bồng nơi ta đã cùng Bạch hổ lớn lên dưới nách thầy ta cùng ngắm mây trắng bay về núi. À phu nhân ta vừa nghĩ ra một khúc ca mới để ta hát nàng nghe.
Và ông cất tiếng hát. Tiếng ông như một ngọn gió núi thổi cuộn lên rất nhiều kỷ niệm. Ông hát:

Gió bụi khốc liệt
Quân lính ở đâu?
Anh hùng ở đâu?

Máu họ dính trên mũi giáo nhọn.

Dân chúng ở đâu?

Thây họ chất đầy đồng.

Ôi núi sông cũ

Ngàn xóm tiêu điều

Ngày nào xin dây trói giặc cất quân tinh nhuệ

Một ngọn roi thẳng hướng tảo thanh kinh khuyết.

Rồi trở về

Cưỡi hạc vàng

Nối lại cuộc rong chơi qua nhiều ngọn núi...
Trong khi ông hát bàn tay nhiều vết chai của ông nắm lấy tay bà. Từ bàn tay ấy những con đường đã mở ra những con đường bất tận của non sông chẳng con đường nào là không nhuộm mồ hôi và máu chẳng con đường nào là không đầy nhớ thương vẫy gọi.

          Trần Thị Huyền Trang

 

More...

Tin Buồn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Tin Buồn

Vô cùng thương tiếc báo tin:
Tiến sĩ VÕ LÝ HÒA bút danh PHỔ ĐỒNG
Sinh ngày 16-2-1963
Tại xã Phước Thắng huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định
Thường trú tại Lô 37 Chương Dương phường Nguyễn Văn Cừ TP Quy Nhơn
Nguyên Chủ nhiệm Câu lạc bộ Văn học Xuân Diệu
Hội viên Hội VHNT Bình Định
Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Giảng dạy tại Đại học Quy Nhơn
Đã từ trần lúc 17 giờ 15 phút ngày 24 -5-2009 sau cơn đột quỵ vì bệnh tim đã được chữa chạy tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định và Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh.
Linh cửu được quàng tại tư gia: Lô 37 đường Chương Dương phường Nguyễn Văn Cừ TP Quy Nhơn
Lễ Viếng bắt đầu từ 16 giờ ngày 25-5-2009
Di quan 15 giờ ngày 26-5-2009
An táng tại nghĩa trang Bùi Thị Xuân TP Quy Nhơn.

Chùm thơ  của Phổ Đồng

Làng ung thư
Đất nước hơn ngàn năm trận mạc
Còn đây muôn thuở nỗi đau dân...                                                                                                                                    


Mục

ruỗng
cứ thế
mục

ruỗng...

cả bầu trời mưng mủ
cả mặt đất sần sùi
đến cỏ
cũng nổi u nổi nhọt...

nước - dòng hóa chất đen kịt
sông - một hỗn hợp tanh hôi
loài ký sinh không sống nổi
huống nữa là muỗi ruồi...

không khí - một mùi lợm mửa
xạm mốc da dẻ mặt người
chỉ tiếng rên van không dứt
chỉ nỗi đau câm nghẹn lời

những ống khói nham nhở
dựng đứng che khuất mặt trời
những chiếc vòi bạch tuộc
vẫn đêm ngày sinh sôi...

hỡi ôi chỉ mong tồn tại
còn đâu là kiếp con người !

Phổ Đồng


Gió mây òa vỡ

Em dịu dàng cây lặng gió
Em ngọt ngào bao nổ vỡ
Em nồng nàn những đau mê

Em òa đến nhẹ trên cỏ lướt
Cuốn tròn anh men say
Hồn như gió
Tình như mây
Tháng năm cháy bùng bão rớt
Em phủ ngợp anh
Trận - mưa - ngọc -trai - hạnh - phúc

Và anh biết
Với trái tim lạc đà khao khát
Với cơn mơ ban ngày day dứt
Với vòng tay tóc rối ngỡ ngàng
Anh
Con ngọc trai bàng hoàng
Buốt giữa tim mình hạt cát...

Phổ Đồng


Qua tháp cánh tiên

Nghìn năm rồi tháp vẫn cứ bay lên
Như niềm tự hào của cỏ xanh như nỗi đau như hạnh phúc...
Bao vương triều cứ thay nhau đổ nát
Còn nhân dân tồn tại đến muôn đời!

Phổ Đồng

Những đồng bạc lẻ

Những đồng bạc lẻ
em trai tôi
vẹt chân trên mọi ngả đường thành phố
bán từng tấm vé số
đánh từng chiếc giày... 

Những đồng bạc lẻ
em gái tôi
đêm từng đêm đứng đường
bán thân mua vui cho khách 

Những đồng bạc lẻ
chị tôi
mòn đêm gánh hàng rong kĩu kịt
bỏ đàn con nheo nhóc
bơ vơ thiếu hơi ấm mẹ hiền 

Những đồng bạc lẻ
mẹ tôi
bán từng mớ rau con cá
Chiều mùa đông lạnh giá
co ro góc chợ tồi tàn 

Những đồng bạc lẻ
cha tôi
bán mặt cho đất bán lưng cho trời
chắt chiu từng củ khoai hạt thóc
đẫm mồ hôi sôi nước mắt 

Những đồng bạc lẻ
không ai thèm nhặt
không ai thèm dùng
Nhưng những đồng bạc lẻ
không tanh mùi máu
không tanh mùi tiền! 

Phổ Đồng




Mẹ ơi!

Mẹ ngồi bệt xuống sàn xe
sau tháng năm dài đơn độc
trên chuyến xe đời cơ cực
thăm đứa con
         nấm mồ hoang
                           bên rừng 

Hành lý mẹ mang những gì?  
ngoài đôi chân già lẩy bẩy    
ngoài bàn tay già nhăn nheo
ngoài đôi mắt già mờ đục 
        một tấm lưng còng
                  một nải chuối mốc 
                            một nắm nhang gầy                    
và cả một đời
                                   mòn đợi 

Mẹ mơ một thằng cháu nội
một cô con dâu thật hiền
vậy mà chiến tranh để lại
bên rừng một nấm đất hoang 

bây giờ chiến tranh để lại
mẹ già mòn mỏi lang thang 

Những mồ liệt sĩ vô danh
đâu mồ con yêu của mẹ?
Trường Sơn thì dài rộng thế
Mẹ ơi!
Mẹ ơi!
Mẹ ơi!
 

Phổ Đồng

Mưa trước Hoàng thành

Vạn niên là vạn niên nào...
Ta những muốn hét to lên một tiếng
Nhưng không.

Mưa đã át mất rồi
Mưa như nước mắt người đã khuất
Vạn niên ròng tiếng nước vẫn chưa nguôi... 

Phổ Đồng
 

Nghe nhạc Văn Cao ở Huế

Con hằng biết không phải là Kinh Phật
Con hằng biết dẫu con tu chín kiếp
Con hằng biết dẫu con tắm suối trăm nguồn... 

Xác thân phàm tục này
trái tim bụi bặm này... 

Ôi nếu như con không được tắm
nếu như con không được uống
dòng ánh-sáng-thanh-âm trong vắt của Người?! 

Phổ Đồng


Người cầm đèn
Hãy cám ơn ngọn đèn vì ánh sáng của nó
nhưng chớ quên người cầm đèn đang đứng kiên nhẫn trong đêm
R. Tagor

Không tự ru mình huyễn hoặc
không mặc cảm tự tin
người cầm đèn
        đang đứng kiên nhẫn trong đêm

mặc bóng tối trùng trùng vây tỏa
mặc vần xoay phù thế
mặc giông gió thét gào
mặc ánh thép ngôi cao
mặc ánh kim huyễn dụ
người cầm đèn
         đang đứng kiên nhẫn giữa ban ngày 
                 soi rõ mặt người mặt thú 

Không cao đàm khoát luận
không hư nguỵ xảo ngôn
người cầm đèn
           đang đứng kiên nhẫn giữa thời gian
                    mong giữ vẹn nguồn ánh sáng! 

Phổ Đồng

More...

Chùm thơ xứ Nẫu

By Tinh Khuc Quy Nhon

Một thoáng Quy Nhơn

Ư! thì thôi rồi sẽ phải chia tay

Xin đừng vẫy và nói lời giã biệt
Cho tôi nhớ một cái nhìn tha thiết
Của con người vùng đất võ Tây Sơn 

Ánh mắt nghĩa nhân từ thuở nằm nôi

Dường ẩn chứa bao điều sâu thẳm
Và có lúc nghe như bình lặng
Cả biển tình trong sóng mắt long lanh 

Ừ! thì thôi rồi sẽ phải chia tay

Xin nhớ mãi giọng ngâm bài thơ cũ
"Trời đất mang mang ai là tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường" (*) 

Mưa thấm chân người màu đất Quy Nhơn

Nên cứ mãi dùng dằng không bước
Ghét cái gió nhưng cũng thương cái nắng

Sợ cơn mưa nhưng cũng thích mây mù 

Ừ! thì thôi rồi sẽ phải chia tay

Xin đừng nói hộ tôi lời giã biệt...

Mai Trầm
(*) Thơ Nguyễn Bá Trác
tu thap nho nhin qua phan de cua thap lon -  thap banh it- a

Tuy Phước


Ngày anh về Tuy Phước

Trời cuối xuân nắng dệt kín những lối đi trong xóm
Mùi của rạ rơm của khói đồng của bùn non
Làm anh ngây ngất...
Làng em nằm phía sau lũy tre xanh ngăn ngắt
Đường vào lối yêu trong vắt tiếng chiều
Những con người thương mến biết bao nhiêu
Họ quẩy trên vai gánh lúa vàng bội hạt

Lũ trẻ trâu đùa nhau bằng dăm ba câu hát... 

Trước mắt anh
Một bức tranh?

Một bản hòa âm?
Một ngôi làng trong tiểu thuyết?
Không!
Đó là quê hương có thật
Nơi em chào đời cho anh đến kết duyên.

Đặng Thiên
Sơn

More...

Bất chợt phượng hồng

By Tinh Khuc Quy Nhon

Bất chợt phượng hồng

Có những khoảnh khắc đến với ta trong những dịp thật tình cờ như ánh cầu vồng mọc nơi đỉnh núi chiều mưa như cơn gió bất chợt cho hàng cây thay lá như vạt nắng lung linh những đốm sáng trên biển. Và một sắc hoa ta vô tình bắt gặp giữa đâu đó phố phường...

Những ngày Quy Nhơn tháng Năm khi hè đã theo bước chân ai gọi về trong nắng trong mưa cũng là mùa cho hoa khoe sắc thắm. Một chiều dừng chân bên đường ngửa mặt nhìn đám mây trôi bình lặng màu phượng hồng vô tình rơi vào trong ánh nhìn của ta với bao bâng khuâng xao xuyến. Phải rồi phượng hồng - màu tháng Năm hoa học trò trinh nguyên bừng cháy một góc trời. Vậy mà quá lâu rồi giữa bao bận bịu dòng đời ta vô tâm không để ý. Cho đến một ngày sắc hoa lại bất chợt đánh thức một miền tâm cảm trong ta với những rung động tế vi nhẹ nhàng.

Một chiều bắt gặp sắc hoa - và lòng sống dậy cảm xúc cái tứ ấy dễ thường ngưng đọng thành thơ thành nhạc - những nhạc và thơ trong khoảnh khắc chạm mặt Cái Đẹp chạm mặt bước đi của thời gian. Màu phượng hồng của tuổi thơ của tháng ngày cắp sách đến trường của tiếng ve tiếng trống tan trường của những mối tình còn "ép hoài trang vở" của điệu nhạc ngân nga e ấp trong mối tình đầu "Ngày xưa Hoàng thị" : "Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ...".

Trong sắc hoa trên những đường phố quen ta thấy thời gian đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại; giữa hôm qua - hôm nay. Những "hoa năm ngoái" nói với ta biết bao điều. Nhịp điệu vũ trụ hiện hình trong lá trong hoa trở thành tín hiệu của mùa. Mùa hè - mùa hoa phượng đỏ bao khát khao xanh tươi những vòm lá nhịp nhàng trong nắng gió và sắc biển xanh quê mình. Những người xa Quy Nhơn hè đến nhìn thấy phượng lòng lại nao nao tìm về. Cũng là phượng đấy mà sao sắc phượng Quy Nhơn có sức ám ảnh riêng không thể lẫn nó kết tinh vẻ hồn hậu và dáng trữ tình của phố. Nó đẹp trong vẻ đẹp giản dị mà nồng thắm trong cái duyên ngầm mặn mòi bên sóng. Những mùa phượng là những mùa trong nắng nhưng tôi lại hết sức ấn tượng với dáng phượng sau những cơn mưa ngày hè. Khi trời tạnh ráo và những tia nắng nhẹ những làn gió mát mơn man trong không gian mang theo chút hơi nước phảng phất trên lá cành tôi thấy phượng dịu dàng như vừa được tắm gội đẹp như một thiếu nữ trinh nguyên...

Bất chợt phượng hồng lại cảm thấy đời thêm nhiều ý nghĩa theo sắc hoa bàng bạc giữa dòng thời gian. Chiều nay Quy Nhơn đẹp trong cái nhìn và tâm cảm của người. Mây vẫn cứ trôi và nắng vẫn hồng trên đôi má em. Gót chân phượng phiêu du qua phố với hơi thở nồng nàn của sự sống như đã thắp lên tự bao đời...

  • Lê Minh Kha

More...

Món canh chua khế chuối chát Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Canh chua khế chuối chát


Canh chua là món phổ biến cả nước. Nhưng canh chua truyền thống của Bình Định không nấu giấm như miền Bắc không nấu me như Nam bộ mà nấu bằng khế chua kết hợp với chuối chát (chuối hột non).

Ở Sài Gòn tôi đã quen với canh chua me nhưng tôi vẫn thích canh chua khế chuối chát hơn vì nó có vị đặc biệt.

- Vị chua của khế khác chua me. Chua của me là chua hẳn chua của khế có lẫn vị ngọt cho nên không quá chua như me.

- Vị chát của chuối pha vào ức chế bớt vị chua của khế tạo nên vị "chua - chát" rất dễ chịu - mặt khác vị chát có thể làm giảm mùi tanh của cá.

Canh chua hầu hết nấu với cá trầu (cá quả) hay cá chép cá măng... nhưng người Bình Định sành ăn lại thích nhất canh chua cá chạch lá tre. Cá chạch lá tre da trắng mình dẹt sau đuôi có hoa to nhất cũng chỉ dài hơn gang tay toàn thân giống hình lá tre - Loại này chỉ sống ở các sông ngòi nhỏ. Ở các sông lớn Nam bộ có giống tương tự nhưng lại to dài đến 0 5 mét. Cá to quá nấu canh khế - chuối chát kém ngon.

Canh chua me thì chỉ bỏ trái me để lấy vị chua còn thức nấu chung với cá là giá tàu môn bạc hà (dọc mùng). Canh chua khế - chuối chát thì khế và chuối chát thái lát bỏ đầy nồi canh thay cho giá và món bạc hà. Tôi đã đi tứ xứ đã ăn canh chua me Sài Gòn canh cá nấu giấm Hà Nội nhưng tôi vẫn thấy canh chua chạch lá tre khế - chuối chát Bình Định là ngon nhất. Những năm trước 1975 ở Hà Nội không có chuối chát (người Hà Nội để chuối hột chín không ăn xanh) nhà tôi thay thế chuối chát bằng chuối sứ xanh mặc dù không đúng vị như chuối chát nhưng tôi vẫn thích hơn canh chua me. Vả lại ở Hà Nội không hề thấy cá chạch lá tre để nấu được món canh chua khế chuối chát ngon như ở Bình Định.
Mịch Quang

More...

Góp nhặt thơ võ…

By Tinh Khuc Quy Nhon

Góp nhặt thơ võ...

Trong kho tàng văn hóa dân gian Tây Sơn - Bình Định có một mảng thơ rất đặc biệt đó là nguồn thơ ca phổ biến trong các dòng võ võ đường... còn gọi là thơ võ. Trong khi các bài thiệu võ được ngành TDTT Bình Định sưu tầm tổng hợp tương đối bài bản thì nguồn thơ này vẫn chưa được chú ý.

 
 

Nguồn thơ võ hiện còn lưu giữ tản mát trong những lão nông một thời mộ võ như ông Điểu đợi chờ các nhà nghiên cứu văn học dân gian đến "góp nhặt". - Trong ảnh: Ông Giả Văn Điểu (ở thôn Phú An xã Tây Xuân huyện Tây Sơn) được mệnh danh là người nói "võ mép" giỏi nhất vùng.

1.

Trò chuyện với tôi nhà viết kịch bản phim Lê Hoàng Khải (thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn) người rất tâm huyết với đề tài phim võ Tây Sơn "mở màn" góp vào vốn liếng góp nhặt thơ võ bài "Song xỉ" (xỉ là một loại binh khí kích thước nhỏ gọn khi đánh có thể cầm gọn trong lòng bàn tay).

"Song xỉ ẩn tại trong mình/ Xem người dáng hạ rùng mình nổng ra/ Nổng rồi chân hữu sang qua tả/ Sắp lấy chân sau đẵng rồi đá mà cho xinh/ Rồng bay phượng múa tứ linh/ Ra tài chưa mấy đã xưng anh hùng".

Ông Giả Văn Điểu (ở thôn Phú An xã Tây Xuân huyện Tây Sơn) được mệnh danh là người nói "võ mép" giỏi nhất vùng. Ông có vóc dáng thấp bé nhưng lại mê học võ từ nhỏ thích túm tụm cùng trai tráng nói chuyện võ nghệ nên thường bị cánh đàn ông trong làng "chọc quê". Những lần như thế ông trả đòn bằng món "võ mồm" vốn là sở trường của mình. Ngoài ra trong trí nhớ ông Điểu là hàng trăm câu thơ võ nôm na bình dân. Ví như một bài ca dao về giai thoại Dư Đành: "Dư Đành sức mạnh như trâu/ Kiền kiền bảy thước cán ngay yết hầu/ Cái đồ nó mạnh như trâu/ Nó vùng nó dậy súng đâu bắn vào...".

2.

Theo võ sư Phan Thọ thơ võ khác hẳn với các bài thiệu võ nên cần có sự phân biệt để tránh nhầm lẫn. Bài thiệu được xem như tư liệu giáo khoa về võ miêu tả từ đầu đến cuối trình tự các động tác cách di chuyển thế đánh của một bài võ chủ yếu viết bằng chữ Hán. Võ sư võ sinh thường là chủ nhân sáng tác ra các bài thiệu và nắm rất rõ nằm lòng từ đầu đến cuối để vận dụng. Trong khi đó thơ võ thường là những bài câu cảm tác xuất phát trong một hoàn cảnh không gian võ cụ thể (ví dụ xem đấu đài...) nói về một giai thoại ca ngợi về vùng đất võ nói lên sự hâm mộ của công chúng với võ thuật... Những câu ca như thế thường không có tính hệ thống logic bài bản mà thiên về ứng khẩu đậm chất bình dân mộc mạc. Nói rồi như để làm bằng chứng võ sư ngâm nga: "Múa kiếm trên lưng voi/ Múa roi trên lưng ngựa/ Đánh dựa vào gốc cây/ Giặc có bao vây ta dựa vào cung ná nỏ...". Võ sư giải thích đây là một trong rất nhiều câu ca dao mà lúc còn nhỏ ông được nghe người lớn ngâm ngợi nói về đặc trưng trong đánh giặc của hai tướng Bùi Thị Xuân (múa kiếm trên lưng voi) và Võ Văn Dũng (múa roi trên lưng ngựa).

Võ sư Phan Thọ:

Ngày còn nhỏ khi "nghe lỏm" các bậc cha chú đàm đạo võ nghệ hoặc trong bà con thôn xóm tôi vẫn thường nghe thấy họ xen vào những câu thơ võ. Nay hầu như không thấy ai đọc lên những câu như thế nữa. Từ những câu thơ ấy có thể hình dung đời sống sinh hoạt luyện tập của con nhà võ ngày xưa nhiều lắm.

Nhà giáo Nguyễn Xuân Nhân (Trường Đại học Quy Nhơn) người có thâm niên gần 40 năm điền dã sưu tầm biên soạn các công trình nghiên cứu về văn hóa văn nghệ dân gian Bình Định cho rằng nguồn thơ võ vẫn còn tản mát lưu truyền trong khắp làng quê Bình Định đặc biệt ở vùng Tây Sơn. Thơ võ Tây Sơn ngoài nguồn thơ ca dân gian nôm na bình dân còn có mảng thơ võ bác học bằng chữ Hán và thơ võ bác học được dân gian hóa. Từ nhiều năm tập thể cán bộ giảng viên và sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Quy Nhơn từ khóa I đến khóa X đã có nhiều đóng góp trong công tác điền dã sưu tầm biên soạn văn học dân gian Bình Định trong đó có mảng thơ ca dân gian và truyền thuyết lịch sử Tây Sơn. Cuốn "Văn học dân gian Tây Sơn" (NXB Trẻ 1999) do Nguyễn Xuân Nhân biên soạn là một công trình hiếm hoi phản ánh thành quả sưu tầm ấy trong đó có trích đăng một số bài thơ võ.

3.

Ngày xưa khi phong trào học võ còn sôi nổi rộng khắp nguồn thơ võ có không gian điều kiện chất xúc tác để nảy sinh diễn xướng ngâm ngợi truyền khẩu nên đa dạng. Ngày nay khi ngay cả ở hai làng võ An Vinh và An Thái phong trào và cả tinh thần học võ cũng im ắng thì nguồn thơ này cũng không có môi trường để "sống". Nơi lưu giữ nhiều nhất là ký ức những người già ở địa phương; tuy nhiên không phải dễ dàng và trong chốc lát mà đánh thức được trí nhớ ấy bởi hầu hết họ đã già cả không còn minh mẫn. Mặt khác thơ võ cũng theo chân một bộ phận người dân đất Tây Sơn đi lập nghiệp làm ăn sinh sống khắp nơi nên có thể tìm thấy nguồn thơ này trên khắp đất nước.

Trữ lượng văn hóa dân gian Tây Sơn chắc chắn vẫn còn dày. Tuy nhiên nó đang bị thất truyền mai một theo thời gian. Trong đó thơ võ - vốn được coi là đặc sản Bình Định - cần tiếp tục được sưu tầm nghiên cứu và đầu tư xuất bản lưu trữ bằng văn tự.

  • Sao Ly

More...