Tháng Chạp này ở làng lá xóm Soi

By Tinh Khuc Quy Nhon

Tháng Chạp này ở làng lá xóm Soi

  Quê tôi có nghề truyền thống rất thú vị mà hễ khách lạ nào về thăm cũng reo lên thích thú khi thấy câu thành ngữ về tình đoàn kết của người Việt "lá lành đùm lá rách" được tường minh một cách vô cùng sống động dưới bàn tay điệu nghệ của người làm nghề.
 
   Đó là "nghề" của vùng đất chuyên canh chuối lấy lá. Gọi là "làng" cho... xôm chứ thực chất những hộ trồng chuối lấy lá ở đây chỉ gói gọn trong một xóm nhỏ chừng hai chục nóc nhà nằm Quốc lộ 1A đoạn chạy qua xã Cát Hanh huyện Phù Cát tỉnh Bình Định. Xóm có cái tên hành chính rất đẹp là Hanh Thiện nhưng bà con vẫn quen gọi là "xóm Soi" theo tên gọi cũ từ thời mới lập xóm. 
 
Ở làng lá chuối được trồng ở mọi chỗ mọi nơi. (Ảnh: VN)
 
1.
Xóm cũ nhà cũ và dường như chẳng có gì thay đổi kể từ khi đường lớn mở từ Quốc lộ đâm thẳng ra bãi cát từ dạo những năm 90 của thế kỷ trước. Khác chăng là "lối cũ ta về dường như nhỏ lại" vì đường làng đường ngõ ít người đi lại nên không có người phát quang cây cối hai bên đường cứ tự nhiên chĩa cành chìa lá ra ngoài. Những vườn lá chuối từ hồi nào đến giờ vẫn vậy vẫn lào xào bao quanh mỗi nhà.

Từ nhỏ tôi đã quen với "không khí" làng nghề: những vườn lá chuối xanh mướt bao quanh nhà những ngày đến phiên chợ nhà nhà rộn ràng rọc lá và những trò chơi thuở nhỏ cùng bạn bè thời niên thiếu cũng gắn chặt với vườn chuối. Ấy là khi người lớn thu hoạch lá bọn trẻ con thường được cho những tàu chuối rách để quàng vào người rồi cũng múa hát say sưa như đang xúng xính trong áo kim tuyến các đào kép trên ti vi. Xưa Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau làng lá chuối có tập trận bằng bẹ chuối cũng chẳng kém tưng bừng bởi thêm tiếng kèn được quấn từ những mảnh lá vụn. Rồi những chiếc răng sữa rụng hay những lọn tóc được cắt bởi "thợ nhà" đều được người lớn dạy phải "giấu" trong bẹ chuối để răng mau mọc tóc mau dài...

Khác với những loại chuối lấy quả chỉ thu hoạch một lần khi chín chuối lấy lá túc tắc cho thu hoạch quanh năm từ việc tỉa lá để bán mỗi ngày. Chuối lấy lá phải là loại chuối chát (có nơi gọi là chuối hột) loại chuối này cho lá to bản mướt có độ dẻo cần thiết và đặc biệt khi luộc lên không bị chát xít hoặc ra màu làm xấu bánh. Loại chuối này sống rất khoẻ bà con gần như không phải chăm bón gì ngoài việc gánh đất ruộng vào vun gốc chuối.

Cũng như tất cả mọi đứa trẻ trong làng từ nhỏ tôi đã được học cách rọc thu gom và xếp lá những công đoạn chuẩn bị trước khi mang lá ra chợ bán. Lá chuối đạt yêu cầu phải lành lặn khổ lớn không quá tươi sinh giòn hay quá héo làm mất nếp và mất màu xanh nên lá thường được rọc vào buổi sáng khi sương đêm vừa tan hết và nắng chưa kịp gay gắt hoặc lúc chiều tà. Người làng dùng những con dao cán dài độ 3 4 m tuỳ độ cao của từng vườn chuối để tách lá ra khỏi tàu chuối ngay trên cây. Đó là công việc không chỉ đòi hỏi sự khéo léo mà cả sự "quen tay" bởi chỉ cần lơ là một chút lá sẽ rách ngay không dùng được. Trẻ con sẽ được "tập sự" trên nhưng cây chuối thấp và những tàu lá xấu cho đến khi nào thuần thục mới được phép đụng đến những cây chuối tốt.

Đất miền Trung vốn lắm gió nhiều bão đến nỗi lá dừa còn bị tướt nên chuyện lá chuối mảnh mai bị xé rách trên cây là điều hiển nhiên. Chỉ có rất ít tàu lá lành lặn nhờ ở nơi khuất gió. Vì vậy mới nảy ra câu chuyện "lá lành đùm lá rách" theo nghĩa đen thực thụ. Lá chuối ở đây không được cuộn tròn và cân ký bán như các nơi mà được xếp theo từng xấp một mỗi xấp gói được 2 cây bánh tét (mỗi cây 2 lon gạo). Trong mỗi xấp lá đều có đủ loại: lá to lá bé lá rách lá lành để người gói bánh có thể liệu mà kết hợp mà dùng sao cho thật vừa vặn. Những tấm lá đẹp nhất bao giờ cũng được chọn để khoe bên ngoài những lá xấu hơn sẽ được lót bên trong không những thế người làng nghề còn kê lá lên làm hai tầng để tạo cảm giác lá to bản hơn và xếp lá chắc chắn chứ không mảnh mai dễ rách như khi chúng ở riêng rẽ nhau. Nói thì dễ nhưng tất cả những công việc này chỉ có dân trong làng mới làm được người bên ngoài chỉ biết đứng... ngó bởi không khéo hành động phụ giúp sẽ trở thành phá hoại. Khi lá ra chợ cũng được  

dặn dò nhẹ tay cẩn thận kẻo rách cứ như thế từng tấm lá được nâng niu từ lúc còn ở trên cây cho đến khi đến tay người dùng.

Và các vườn chuối tuy không nhiều lắm nhưng cũng đủ túc tắc cho bà con tiền chợ mỗi phiên.
 
Lá chuối được phơi sơ trước khi gói bánh. (Ảnh: VN)
 
2.
Nhưng đó là chuyện của mấy năm về trước khi lá chuối còn là mặt hàng thiết yếu dùng để gói từ quà bánh đến thịt cá rau quả... Còn bây giờ khi túi ni-lông thế chỗ lá chuối chỉ còn được dùng ít ỏi vào việc gói một số loại bánh. Có lúc người ta còn dùng giấy báo bọc bao ni-lông bên ngoài để gói chả hàng chợ nên những vùng chuyên canh chuối lấy lá cứ co hẹp dần. Ngày thường lá chuối rẻ nên người ta không cần phải "nhẹ tay" như trước nữa vì họ cứ mua dôi dư ra thừa thì vứt. Người thợ làm bánh cũng không phải so đo tính toán để dùng lá sao cho tiết kiệm nữa. Ít bán được nên vườn lá cuối cứ rậm rạp thêm nhiều tàu già cứ tự động khô héo. Tuy vậy người làng vẫn giữ vườn không chặt bỏ bởi tiếc khoảng xanh và mấy món rau đặc sản từ chuối chát (bắp chuối và trái chuối non) đã quen dùng. 
 

Giờ đây làng nghề lá chuối chỉ trở về đúng nghĩa vào tháng Chạp tháng có nhiều đám tiệc và đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán khi nhà nhà rộn ràng gói bánh chưng bánh tét để bày lên mâm cỗ ba ngày xuân. Người làng lại náo nức chuẩn bị hàng hoá ra chợ để bán lá và sắm Tết. Nhưng "nghiệt" một nỗi là năm nào trước Tết cũng bão to vườn lá xơ xác chưa lú ra kịp lứa lá mới thay thế nên lá ra đến chợ vẫn cứ phải "lá lành đùm lá rách". Để lại phải cần đến bàn tay của những người gói bánh thiện nghề giỏi chắp nối gói ghém làm sao cho lá dẫu rách dẫu lành vẫn tròn trịa những chiếc bánh ngày Tết bay ra mùi thơm dễ chịu của nếp đậu xanh mỡ và hạt tiêu quyện lẫn vào nhau rất ấm cúng...

Tôi nhìn vườn lá chuối bên nhà sau những trận bão liên miên: xác xơ tiêu điều nhưng chỉ độ một hai hôm trời nắng hửng đã thấy những tàu lá vươn cao đón gió. Xen giữa các tàu te tua đã thấy bừng lên tàu chuối mới: non tơ và nguyên vẹn. Cũng như sức sống của con người miền Trung quê mình vậy dẫu thiên tai lũ lụt con người vẫn sống và tin tưởng vào ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm qua.

Vương Nguyên

More...

Tết này đi hội Đống Đa

By Tinh Khuc Quy Nhon

Tết này đi hội Đống Đa

Lễ hội (LH) Kỷ niệm 220 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa sẽ diễn ra tại thị trấn Phú Phong huyện Tây Sơn trong hai ngày mùng 4 và mùng 5 Tết Kỷ Sửu (29 và 30.1.2009). Với nhiều hoạt động đặc sắc LH sẽ tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống tạo nên một không khí tưng bừng sắc xuân trên quê hương người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ...

 
 

Tái hiện hình ảnh Vua Quang Trung tiến quân đại phá quân Thanh tại Festival Tây Sơn - Bình Định. Ảnh: Trần Sự

* Tưng bừng sắc xuân trên quê hương người áo vải

Hai hoạt động chính trong chương trình LH là Lễ Dâng hương - Dâng hoa và Lễ hội Kỷ niệm 220 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa. Lễ Dâng hương -  Dâng hoa sẽ diễn ra tại Bảo tàng Quang Trung vào chiều mùng 4 Tết (từ 15 giờ 30 phút đến 17 giờ). Đây là một hoạt động tâm linh quan trọng trong LH. Để tạo sự trang nghiêm và mới lạ Lễ Dâng hương - Dâng hoa sẽ được tổ chức theo trình thức nghi lễ truyền thống kết hợp với nghệ thuật sắp đặt. Dự kiến sẽ có 100 chiếc trống được sắp thành hai hàng dài từ cầu cảnh đến đền thờ Tây Sơn tam kiệt. Cạnh mỗi trống là một vệ binh Tây Sơn. Đại biểu và du khách tiến vào dâng hương dâng hoa sẽ được chào đón bằng tiếng trống hòa với tiếng cồng chiêng và bài văn tế hào sảng. Tất cả sẽ tạo cảm xúc về khí thiêng sông núi tri ân công ơn của tiền nhân.

LH Kỷ niệm 220 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa sẽ chính thức diễn ra vào sáng mùng 5 Tết (từ 7 giờ đến 9 giờ) tại sân khấu chính trước Bảo tàng Quang Trung. Mở đầu chương trình là lễ thượng cờ Quang Trung và cờ Tổ quốc. Nghi thức này sẽ được dàn dựng trang trọng nhằm tạo nên một sự kiện độc đáo vừa mang tính chính trị vừa mang tính tâm linh và nghệ thuật cao. Phần hội là chương trình nghệ thuật tổng hợp đặc sắc với phần biểu diễn trống trận Tây Sơn múa cờ "Nghĩa khí Tây Sơn" múa võ "Quang Trung hành binh thần tốc"... Chương trình này sẽ có sự kết hợp giữa nghệ thuật sắp đặt và biểu diễn tạo hiệu ứng kết nối toàn thể khán giả thông qua cấu trúc sân khấu mở.

Ngoài các hoạt động chính diễn ra tại Bảo tàng Quang Trung Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao huyện Tây Sơn sẽ hợp đồng với Công ty TNHH Hoàng Ngọc (Long An) tổ chức chương trình ca múa nhạc tổng hợp vào tối ngày mùng 3 Tết; đồng thời tổ chức thi đấu Giải Võ cổ truyền Liên tỉnh vào các đêm mùng 4 5 và 6 Tết tại Sân vận động huyện Tây Sơn.

LH sẽ thêm rộn ràng với ba hoạt động hưởng ứng. Trong đó từ mùng 4 đến mùng 5 Tết tại nhà Rông trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung sẽ diễn ra chương trình diễn tấu cồng chiêng và múa dân gian Bana. Tối mùng 4 Tết tại sân khấu chính trước Bảo tàng Quang Trung sẽ là chương trình ca múa nhạc "Mùa xuân chiến thắng - Khát vọng ngày mới" với nhiều tiết mục nghệ thuật tổng hợp đặc sắc. Kết thúc chương trình này sẽ là màn pháo hoa rực rỡ.

Một hoạt động khác rất mới mà lại mang đậm ý nghĩa tâm linh là chương trình nghệ thuật sắp đặt "Cội nguồn" diễn ra vào ngày mùng 5 Tết (từ 10 giờ đến 12 giờ) tại khu vực cây me cổ thụ và giếng nước cổ trong Bảo tàng Quang Trung. Mỗi người đến điện thờ Tây Sơn tam kiệt trong thời gian này sẽ dạo một vòng quanh gốc me cổ thụ lấy một hạt me để làm giống và uống ngụm nước giếng mấy trăm năm như hưởng "lộc" từ tổ tiên từ nơi chôn nhau cắt rốn của Tây Sơn tam kiệt...

 
 

Du khách tham quan Bảo tàng Quang Trung tại LH Kỷ niệm 219 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa. Ảnh: H.T

* Tiết kiệm nhưng vẫn hoành tráng có chất lượng

Ông Văn Trọng Hùng Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Trưởng Ban Tổ chức LH cho biết: "Do tỉnh ta vừa tổ chức Festival Tây Sơn - Bình Định 2008 nên LH sẽ được tổ chức với quy mô vừa phải trên tinh thần tiết kiệm. Tuy nhiên các hoạt động chính trong LH vẫn có sự hoành tráng mới lạ có chất lượng nghệ thuật và ý nghĩa giáo dục cao". Với kinh phí dự kiến không quá 1 5 tỉ đồng nên ở LH lần này từ việc dàn dựng kịch bản đến lực lượng tham gia trang thiết bị phục vụ biểu diễn... sẽ chủ yếu là huy động "cây nhà lá vườn". Tổng đạo diễn LH là đạo diễn Lê Quý Dương (TP. Hồ Chí Minh) người đã tạo dấu ấn qua các chương trình dàn dựng trong Festival Tây Sơn - Bình Định 2008.

Đạo diễn Lê Quý Dương cho biết: "Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng để tổ chức tốt LH nhằm đáp ứng mong đợi của người dân trong dịp đầu năm mới; trong đó sẽ tập trung khai thác chiều sâu yếu tố tâm linh đối với Tây Sơn tam kiệt nói riêng và phong trào Tây Sơn nói chung". Cũng theo đạo diễn Lê Quý Dương trong tuần tới việc tập luyện các chương trình của LH sẽ được triển khai tại thị trấn Phú Phong với sự tham gia của khoảng 500 học sinh các trường THPT THCS trên địa bàn huyện.

  • Hoài Thu

More...

Chúc mừng cuộc họp mặt cuối năm của CLB Bloggers Sài Gòn - Quà tặng BÁNH ÍT LÁ GAI BÌNH ĐỊNH

By Tinh Khuc Quy Nhon

Hôm nay ngày 27/12/2008
Cuộc họp mặt cuối năm của CLB Bloggers Sài Gòn sẽ được khai mạc lúc 10:00 am 27-12-2008 tại Khu Du lịch Văn Thánh TP. Hồ Chí Minh.

"CLB Bloggers Sài Gòn cũng rất hân hạnh xin gửi lời mời và vui mừng được đón các bloggers từ các khu vực khác về chung vui."

Những tấm lòng của bloggers vnweblogs đang hướng về cuộc họp mặt này. Bằng chứng hiển nhiên là c
ó một blogger Bình Định không đến dự được nhưng lòng đã hướng về cuộc họp mặt này nên đã gửi vào tặng cho đại hội 100 bánh ít lá gai đặc sản quê hương Bình Định. Cũng như tôi trái tim đang hướng về và biểu lộ một tình yêu mến tôi xin đưa bài viết BÁNH ÍT LÁ GAI BÌNH ĐỊNH để bloggers Sài Gòn khi thưởng thức sẽ hiểu hơn về món bánh này cũng như tình cảm gửi gắm.
Chúc cuộc gặp mặt cuối năm vui vẻ cùng thành công.
Tình khúc Quy Nhơn

Bánh ít lá gai Bình Định

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

Trên chuyến xe từ Bắc vào Nam qua khỏi thị trấn Bình Định (huyện An Nhơn) chừng 3 km nhìn về phía tay trái bạn sẽ thấy cụm tháp Chàm cổ kính sừng sững trên chỏm núi người ta gọi là tháp Bánh Ít. Vì ngọn tháp giống bánh ít chăng?

Ngày nay bánh Tây khá nhiều làm lu mờ hình ảnh chiếc bánh ít lá gai. Họa chăng bánh có vào dịp cúng giỗ Tết nhất là ở thôn quê. Món bánh rất Bình Định - từ cách làm đến hương vị đều rất riêng. Hình dáng bánh không giống loại bánh nào. Nếu có vài chiếc bánh đặt trong đĩa ta có thể tưởng tượng đó là những tháp cổ Ai Cập nằm trong sa mạc.

Bánh có hình nón đáy vuông sắc cạnh nhọn lên tới đỉnh đó là cách nhìn của họa sĩ. Nếu nhìn dưới đôi mắt của người bình thường thì đó là đôi nhũ hoa của thiếu nữ nên ca dao Bình Định có câu:

Gặt rồi em đứng chờ ai?

Mang chi đôi bánh lá gai đẫy đà.

Bánh được gọi bằng lá chuối tơ mướt dịu và đen như mái tóc thiếu nữ. Bánh làm rất công phu. Thoạt tiên tìm lá gai. Lá gai hình tim hơi sần xốp khô khô. Làm một trăm bánh phải hái đến hai ba rổ lá. Lá rửa sạch luộc chín để thật ráo

nước rồi đem vào cối giã. Phải là trai lực lưỡng mới đủ sức quết. Gọi là quết vì là cần nhuyễn như bột nên phải giã lâu. Bấy giờ người con gái mới đem bột nếp thứ nếp thơm dẻo trộn đường đen đổ từ từ bột vào cối. Quết đôi ba chày phải thoa dầu phụng sống vào đầu chày để bột khỏi dính và dầu được trộn đều. Nhân bánh tùy địa phương có thể dùng đậu xanh đậu đen hay dừa nấu chín với đường đôi khi dùng tôm xào với thịt đó là bánh ít mặn. Lá chuối cắt khoanh tròn hơ lửa cho mềm thoa dầu phụng và gói bánh thành hình tháp vuông rồi đem hấp cách thủy.

Nhìn bánh người ta có thể biết được độ ngon và chữ "công" của người con gái trong tứ đức (công dung ngôn hạnh). Bánh ít lá gai thật dẻo nhưng không dính răng. Ngoạm một miếng vị ngọt của đường vị thơm của nếp vị béo của dầu vị bùi của đậu hương cay nồng của gừng tạo một cảm giác khoái khẩu và rất riêng. Bạn có thể ăn nhiều mà không sợ đau bụng. Theo lời giải thích của người dân Bình Định thì trong lá gai có vị thuốc trừ đau bụng gừng ấm lòng và lá gai đố thành than hoạt tính trị no hơi.

Vùng bắc Bình Định như Tam Quan là xứ dừa thì nhân bánh làm bằng bánh dừa xay nhỏ cô cho đường và dầu thấm vào. Cắn một miếng bánh Tam Quan vị béo lẫn vị ngọt lại vừa giòn ngon không quên được. Ở thành phố người ta trộn vào bánh một ít bột va-ni bánh thơm hơn nhưng mất đi cái hương thôn dã.

Vùng sông kề biển thì nhân bánh làm bằng tôm và thịt. Giống tôm rằn vị ngọt đậm đà xào với thị ba chỉ thêm một ít muối hành tiêu thành mùi hương biển. Vị riêng của Gò Bồi khiến Xuân Diệu (quê ngoại của ông) đã đưa bánh ít vào thơ:

Bà ngoại ta còn phảng phất đâu đây

Bánh ít lá gai bánh ú mập đầy.

Bánh ít lá gai có từ lúc nào mà ăn sâu vào lòng người đến thế? Chẳng những ở Bình Định mà còn ra đến tận đất thần kinh. Câu chuyện "Tình bánh ít" thật ngộ nghĩnh: Người con trai ra Huế học yêu cô con gái Huế. Anh về thăm nhà khi trở ra anh mang biếu cô mấy cái bánh ít lá gai để khoe cái khéo cái ngon và cả tấm lòng mình. Nhận được quà cô mừng rỡ nhưng vẫn ỡm ờ trêu chàng:

Muốn ăn bánh ít lá gai

Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

Không biết cô ta có sợ đường dài không? Chỉ biết sau khi nhận bánh rồi cô đã làm dâu Bình Định.

. Theo Văn hóa Ẩm thực Bình Định

More...

Quy Nhơn - NGuyễn Lãm Thắng

By Tinh Khuc Quy Nhon

Quy Nhơn 


Sớm đón nắng Tây Sơn ùn ùn vó ngựa
lá me bay nhắc chuyện vị vua xưa
hồn trai tráng bụi tung mù một thủa
đất oai linh thơm hoa trái trĩu mùa

Chiều Trưng Vương áo lụa trắng trời mơ
em nghiêng nón cho vần thơ mở lối
lòng biển vậy trách chi tình nông nổi
chiều sâu hơn eo Nín Thở mơ màng

Đêm trói lòng nhau bằng những sợi trăng
biển sóng sánh cho tình lên sóng sánh
mộ Hàn sĩ lẻ loi vầng trăng lạnh
dốc chiêm bao thao thức giấc Mộng Cầm

Khuya dặt dìu gió thổi khúc rêu phong
nghe phế tích tự ngàn xưa vọng lại
trăng cổ độ đẳm hồn trong cỏ dại
tiếng côn trùng cứa rát điệu Chàm xưa...

Và trong mơ em đến tự bao giờ
câu thơ viết đẫm màu sương thành phố
Quy Nhơn ạ! em - muôn trùng nỗi nhớ
nên suốt đời sóng sánh mãi trong nhau.

Nguyễn Lãm Thắng 

More...

CHÙA NHẠN SƠN - BÌNH ĐỊNH

By Tinh Khuc Quy Nhon

CHÙA NHẠN SƠN - BÌNH ĐỊNH

QUÁCH TẤN

(trích từ NƯỚC NON BÌNH ĐỊNH)

          Chùa Nhạn Sơn thờ Phật ở phía bắc thành Bình Định cách chừng bốn năm cây số. Từ Bình Định đi xe lửa đến ga Vân Sơn trông về hướng tây thì thấy một hòn núi đất sỏi ba ngọn tròn trịa màu gạch chín dưới chân một đám xoài xanh rậm làm nổi bật sắc sỏi đỏ và màu đất xám ở chung quanh. Đó là núi Long Cốt trước kia làm tiền án cho thành Đồ Bàn hiện nay làm bức bình phong yểm hộ chùa Nhạn Sơn nép mình dưới bóng xoài sum mát. Núi nằm trong thôn Nhạn Tháp nên cũng thường gọi là núi Nhạn Tháp và chùa nằm dưới chân núi nên mang tên là chùa Nhạn Sơn.

          Kiến trúc của chùa không có chi lạ và tên Nhạn Sơn mới đặt sau này. Trước kia gọi là Thạch Công Tự tục gọi là chùa ông Đá vì trong chùa có hai tượng đá rất to lớn. Hai tượng này đứng đối diện nhau. Mỗi tượng cao đến ba thước tây và lớn có đến hai ôm người lớn. Mình khoác áo đại bào đầu đội mũ vũ đằng tay cầm vũ khí (một tượng cầm giản một tượng cầm kiếm) mặt mày dữ tợn người yếu bóng vía không dám đứng cận kề. Người ta bảo đó là tượng của hai ông Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền đời nhà Trần.

          Truyền rằng: Huỳnh Tấn Công người quê Hóa Châu tài gồm văn võ ra Thăng Long tìm bác làm quan lớn tại triều. Dọc đường bị nạn nhờ Lý Xuân Điền ở Ninh Bình cứu trợ nên hai người kết làm bạn thân. Lý Xuân Điền cũng là một bậc anh tuấn văn thông võ luyện. Sau khi Huỳnh Tấn Công tìm gặp được bác rồi thì Lý Xuân Điền được người bác của Huỳnh tiến cử lên nhà vua. Lúc bấy giờ ở biên thùy thường bị người Trung Hoa quấy nhiễu nhà vua sai Lý Xuân Điền cầm binh đi đánh dẹp.

          Ở nhà Huỳnh Tấn Công thi đậu trạng nguyên cả văn lẫn võ. Gặp lúc Chiêm Thành kéo quân sang đánh Hóa Châu vua sai Huỳnh Tấn Công đem đại binh đi chinh phạt. Quân nhà Trần đuổi quân Chiêm Thành ra khỏi nước và thừa kế đánh thẳng vào kinh thành địch. Nhưng bị lầm quỷ kế binh sĩ lớp bị giết lớp bị bắt sống Huỳnh Tấn Công cũng bị bắt làm tù binh.

          Không thấy vua nhà Trần cho người đến chuộc tù binh vua Chiêm bèn bán Huỳnh Tấn Công cho nước khác làm nô lệ. Huỳnh Công nay bị bán chỗ này mai chỗ nọ tấm thân chịu lắm đau thương. Sau lại lọt vào tay một vị lão thần nước Chiêm Thành Huỳnh Tấn Công trở về lại Chiêm Thành. Về Chiêm nhờ cứu vị lão thần khỏi bệnh dịch tả Huỳnh Tấn Công được trọng đãi không còn phải làm những công việc nhọc nhằn.

          Trong khi Huỳnh Tấn Công ở Chiêm Thành thì Lý Xuân Điền dẹp giặc xong trở về xin trí sỹ. Nghe tin bạn mắc nạn họ Lý thu góp tiền của tìm đường sang Chiêm Thành. Trải bao nhiêu ngày tháng chịu bao nhiên gian lao Lý Xuân Điền tìm được Huỳnh Tấn Công mừng vui thương tủi nước mắt nghẹn lời. Rồi Lý Xuân Điền xin chuộc bạn. Vị lão thần Chiêm Thành phần đã chịu ơn Huỳnh Tấn Công cứu khỏi bệnh phần cảm tấm lòng vị nghĩa của Lý Xuân Điền nên hoan hỷ để cho Huỳnh Tấn Công về quê hương mà không nhận tiền chuộc. Hai người bái biệt vị quan Chiêm.

          Lý Huỳnh ra về được ít lâu vị quan Chiêm thương nhớ bèn mướn thợ tạc tượng hai ông để ngày ngày thấy mặt.

          Đó là sự tích hai ông đá chùa Nhạn Sơn. Do sự tích ấy mà nhiều người gọi chùa là Song Nghĩa tự.

          Chuyện họ Huỳnh Lý lưu truyền đã từ lâu. Có người đã viết thành tiểu thuyết (xuất bản vào khoảng 1920-1925) và cụ Bùi Văn Lang giáo sư ở Bình Định đã đem sự tích vào sách Địa Dư Mông Học tỉnh Bình Định (xuất bản năm 1933 và tái bản năm 1935). Nhờ vậy mà chuyện họ Lý họ Huỳnh được phổ biến rộng rãi và hai ông đá trở thành "người có gốc rễ hẳn hoi". Những người nghe phần nhiều đều tin là sự thật. Và người ở trong chùa cũng dùng sự tích họ Lý họ Huỳnh để cắt nghĩa sự hiện diện của hai ông đá. Nhưng sự thật thì sao?

          Trước hết thử mở pho Việt Sử xem kỹ lại. Các tướng đem quân đi đánh giặc Tàu giặc Chiêm đều có ghi rõ danh tánh. Không có tướng nào mang tên Lý Xuân Điền và Huỳnh Tấn Công. Mà chẳng cần phải lật sử cho tốn công. Chúng ta lật thử tấm áo bào của hai ông đá lên thì biết rõ: Không phải hình tượng người Việt Nam vì từ xưa đến nay trừ hai cha con Chử Đồng Tử và anh Trần Minh không có ai chịu mặc vỏn vẹn có chiếc "khậu tối cổ" là chiếc khố rằn ri. Mà hai tượng đá chùa Nhạn Sơn lại đóng khố. Đóng chiếc khố nhiều màu đẹp đẽ mà những đồng bào thiểu số giàu có của chúng ta thường mặc. Chắc có bạn sẽ bảo:

-    Bởi Huỳnh Tấn Công ở Chiêm Thành lâu ngày nên theo phong tục người Chiêm?

Xin cãi:

-    Cũng có lý song Lý Xuân Điền ở Việt Nam mới qua sao lại "Chiêm Thành hóa" ông ấy vội quá thế. Huống nữa người đời Trần trừ đám vũ công vũ nữ không mấy ai học múa nhất là các quan lớn thay mặt vua chăn dân hay vâng mệnh vua đi đánh giặc. Mà hai tượng ông đá chùa Nhạn Sơn lại thể hiện dáng điệu hai người đối nhau mà múa: chân sụn thân uốn tay dương... Rõ ràng đây là hai tượng người Chiêm đương biểu diễn một vũ khúc.

          Trước đây gần bốn mươi năm đi học về ghé xem lại ông đá một vị phụ lão ở trong thôn cho biết rằng: "Hai pho tượng ở dưới đất trồi lên đã có trên hai trăm năm. Ban đầu chỉ ló chỏm mũ rồi ló đầu cổ lần đến cả châu thân. Khi lên khỏi mặt đất thì đứng yên. Người trong thôn rất lấy làm quái gở. Có kẻ tọc mạch đến rờ rẫm quấy quá thì liền bị nhức đầu nóng lạnh. Van vái lại khỏi. Nhân dân địa phương sợ bèn lập đền thờ ban đầu lợp tranh sau mới sửa lại ngói gạch".

          Nói rằng "hai pho tượng ở dưới đất trồi lên" là gián tiếp bảo rằng không biết ai tạc ra và tạc từ đời nào. Chớ theo những người đã có công khảo cứu thì: "Xưa kia trên hòn Long Cốt có ba ngọn tháp Chàm cao lớn xây trên ba đỉnh núi (bởi vậy núi có tên nữa là Tam Tháp Sơn) và chung quanh tháp có nhiều tượng bằng đá xanh lớn có nhỏ có. Vì Long Cốt là nơi hiểm yếu đối với thành Đồ Bàn cho nên giặc đến đánh thành thì chiếm cứ Long Cốt trước. Mà thành Đồ Bàn bị biết bao nhiêu lần công phá núi Long Cốt đã biết bao nhiêu lần bị họa lây nên những kiến trúc trên núi đều bị sụp đổ hết. Những tượng đá lớp thì bể nát lớp thì bị vùi lấp. Hai tượng đá chùa Nhạn Sơn hoặc là hai tượng đá ở trên núi lăn xuống hoặc là ở nơi chân núi bị vùi lấp người địa phương cày cuốc chạm phải mới đào lên.

          Xem cho kỹ thì hai pho tượng đều bị gãy mất hai bàn tay và hai bàn tay hiện hữu là hai bàn tay bằng gỗ tháp vào. Hai bàn tay đá nhất định là hai bàn tay xòe vì tượng đương múa. Nhưng người Việt Nam hoặc không thông thạo điệu múa của người Chàm hoặc muốn cho pho tượng thêm phần oai nghi mới tiện tay cầm vũ khí. Cây kiếm và cây giản của hai tượng cầm cũng bằng gỗ. Chắp tay xong lại còn lấy sơn sơn một tượng đen một tượng đỏ với chiếc khố màu sặc sỡ.

          Khi chùa mới lập thì hai tượng đá chỉ mang một nước sơn mà thôi. Sau này người ta mới bày kết thêm râu đội thêm mũ và mặc thêm áo trông có phần Việt Nam. Và chùa lập ra lúc ban đầu chỉ để thờ "hai ông đá". Không ai biết là hai ông gì nên chùa mới lấy tên là Thạch Công tự nhưng gọi là ông đá nghe không "oai" nên nhiều người gọi ông Đen là ông Ác ông Đỏ là ông Thiện. Chùa mới sửa sang lại để thờ Phật chừng bốn lăm năm chục năm nay. Khi ấy chùa mới đổi tên là Nhạn Sơn và hai ông đá vẫn đứng ở chỗ cũ: giữa chùa trước bàn phật như hai ông hộ pháp. Trong chùa Nhạn Sơn ngoài hai ông đá ra không có gì lạ và người ta đến chùa vì hai ông đá hơn là vì Phật vì Tăng (ý nói người đến chùa để tham quan là chủ yếu).

          Trước khi chùa được nhiều du khách đến viếng chẳng những vì hai ông đá mà thôi mà còn vì phong cảnh ở quanh chùa. Chùa ẩn hiện dưới bóng xoài xanh dựa lưng vào núi Long Cốt trông như một bình hoa để trước một bức Tam Sơn màu đỏ gạch. Trước mặt chùa lại có một ao sen rộng hơn 50 mẫu hình trăng lưỡi liềm tên là Tân Nguyệt Trì. Mùa xuân mùa hạ thì trước chùa hiện một vành trăng non sắc hồng thay sắc vàng hương sen thay thế hương quế. Mùa thu mùa đông thì trăng non láng lai sắc bạc khi thì óng ánh dưới bóng trời xanh khi thì lờ mờ trong màn mưa xám. Dưới vòm trời xanh nắng vàng rực rỡ hay sương lam lờ mờ ba ngọn tháp màu đà non chung quanh có người đá voi đá nghê đá... sắc xám đứng sừng sững trên dãy núi ba ngọn nửa trên màu gạch chín nửa dưới màu xoài xanh... Dưới chân núi mặt tây mặt nam đồng xanh trải lụa gợn sóng... Trước mặt hồ Tân Nguyệt khi thì hồng khi thì bạc... nằm cong cong như chiếc nỏ mà núi Long Cốt là lảy thần... Ở phía bắc thành Đồ Bàn nguy nga và lộng lẫy như người Chiêm nữ mới điểm trang mà Long Cốt là vầng trán khảm ba hạt kim cương tháp... Quang cảnh vô cùng ngoạn mục.

          Tháp nay không còn nữa thành Đồ Bàn xưa không còn nữa hồ Tân Nguyệt không còn nữa. Tháp bị phá thành bị phá hồ bị lấp thành đồng ruộng. Đồng lại bị đường xe lửa cắt đôi cho nên ngày thường đi ngang qua chùa không còn thấy nữa. Nhưng đến mùa lụt nước bạc khỏa bờ lên đứng trên núi Long Cốt mà trông thì vẫn còn trông phảng phất hình trăng đêm mồng năm mồng sáu.

          Thời tiền chiến Thi Nại Thị đến viếng chùa có cảm tác mấy câu rằng:

Chùa xưa ẩn bóng xoài xanh

Thờ hai tượng đá Chiêm Thành bấy nay.

Tượng nơi đây đêm ngày hương khói

Giống Chiêm Thành mòn mỏi gió sương.

Rồgng thiêng riêng gởi nắm xương

Trăng non soi dấu tang thương não nùng!

Cuộc thành bại xoay vòng sớm tối

Thành Đồ Bàn mở lối đi chung

Cõi trần không - sắc sắc - không

Hồi chuông triêu mộ gọi lòng từ bi.

Trích từ: Quách Tấn Nước non Bình Định NXB Thanh Niên Việt Nam 1999 trang 252 - 259

Địa chỉ chùa Nhạn Sơn: Thôn Nhạn Tháp xã Nhơn Hậu huyện An Nhơn tỉnh Bình Định.

More...

Có một Quy Nhơn mùa đông

By Tinh Khuc Quy Nhon

Có một Quy Nhơn mùa đông

Quy Nhơn mùa đông cái se lạnh chợt đến trên từng con phố dịu dàng. Một sớm mở cửa sổ trông ra khoảng sân và khu vườn vắng thấy những cơn gió đem theo hơi thở đất trời phả vào cành lá và những hạt sương long lanh trong tia nắng mai lòng bỗng  thật xuyến xao trước một mùa đông Quy Nhơn.

Mùa đông Quy Nhơn không như đất Bắc không có cái lạnh cắt da cái rét sướt mướt đông Quy Nhơn chỉ chơm chớm lạnh để làm duyên. Tiết trời miền Trung hai mùa mưa nắng một chớm đông là khoảnh khắc cho người đan thêm áo ấm tụ họp bên nhau quanh tách trà hay bếp lửa hồng cho cái xuýt xoa chạm vào tay nhau cho những chiều dạo quanh thành phố hay lặng thinh ngắm núi bảng lảng mây trời.

Vì mùa đông cho nên phố xá cũng muốn xích lại gần nhau hàng cây trên phố tựa đầu bên nhau để làm vơi đi cái lạnh. Mùa đông làm ửng hồng thêm đôi môi của người thiếu nữ và có dịp dạo phố thấy ai cũng khăn áo hơn thường ngày. Cũng là một nét đáng yêu khi đông về với thành phố nhỏ này khi những đợt gió mùa đông bắc nhẹ nhàng lướt ngang qua đây.

Mùa đông Quy Nhơn biển vắng thưa người hơn những ngày nắng hạ. Những con đường quanh biển thoảng nhẹ hơi sương chiều về chầm chậm như một khúc ca hôm nào. Và những hàng ngô khoai nướng những gánh phở đêm điểm xuyến cho mùa đông thêm phần thi vị. Những đêm mùa đông khi phố đã lên đèn không gian đẹp lộng lẫy và " như có dây tơ" - nói theo ngôn từ của thi sĩ Xuân Diệu. Đấy là lúc con người muốn được hoà mình vào thiên nhiên hoà mình vào từng con đường từng ngõ nhỏ trên phố. Đấy là lúc ta có thể nghe rõ nhất nhịp đập của đêm hơi thở của phố trong cái lạnh bàng bạc dịu nhẹ. Và cả những tiếng nói từ tâm hồn mình cũng như đang thổn thức cùng ta.

Mùa Giáng sinh cũng đang e ấp tới gần với những đêm mùa đông. Chỉ còn vài tuần nữa thôi phố Quy Nhơn lại rộn ràng trong những khúc nhạc mừng Noel. Niềm vui cho phố cho ánh mắt trẻ thơ cho những người yêu nhau có thể cùng nắm tay xuống phố. Những món quà cây thông Noel và những trái châu lóng lánh sắc đỏ rực rỡ của bộ quần áo ông già Noel...tất cả sẽ để lại dư vị thật lâu không chỉ đối với trẻ con mà còn với cả người lớn. Và ai không có cho riêng mình những đêm Noel với bao kỷ niệm ngọt ngào.

Có một mùa đông Quy Nhơn như thế! Cho ta thêm yêu cái se lạnh thêm yêu thành phố đẹp xinh và hiền hoà này. Để những lúc xa nhà giữa nơi đất khách lòng bỗng nhớ về một mùa đông Quy Nhơn...

  • Lê Minh Kha

More...

Ăn bánh xèo - nghe đánh bài chòi...

By Tinh Khuc Quy Nhon

Ăn bánh xèo - nghe đánh bài chòi... 


 
Hát bài chòi trong trò chơi "đánh bài chòi" tại Anh Nhật - Gia Viên.
(LĐCT) - "Đánh bài chòi" là trò chơi dân gian có từ lâu đời ở khu vực miền Nam Trung Bộ. Có thời kỳ đánh bài chòi bị biến tướng trở thành trò hô lôtô dựa trên nền dân ca bài chòi rất thu hút người hâm mộ mỗi khi trò vui chơi có thưởng này xuất hiện tại các hội chợ.

 Và bây giờ trò chơi "đánh bài chòi" đã xuất hiện tại Quy Nhơn hay nói chính xác hơn là nhà hàng Anh Nhật-Gia Viên với hầu như nguyên gốc của trò chơi dân gian này.

"Đánh bài chòi" dễ chơi dễ trúng thưởng. 1 bộ có 29 con bài mỗi thẻ được in 3 con bài và một bộ có 9 thẻ... Nếu đúng nguyên gốc thì mỗi lần chơi chỉ có 9 người nhưng bây giờ "đánh bài chòi" được đưa vào nhà hàng nên có nhiều bộ phục vụ cho số đông và mỗi bộ sẽ có 1 người trúng.

Trò chơi bắt đầu khi người hô hiệu hô (hát) theo điệu bài chòi và xướng tên con bài khi kết thúc như: nhất trò ba gà tứ tượng… nếu thẻ của ai trúng tên con gì như người hô hiệu xướng thì cầm gõ 3 tiếng mõ tre trên bàn mình ngồi để báo hiệu mình trúng rồi nhận lá cờ nhỏ cắm vào lọ nhỏ trên bàn mình. Sau khi kết thúc trò chơi nếu ai bàn nào trúng đủ 3 lá cờ thì gõ liên hồi báo mình trúng thưởng chung cuộc và anh Hiệu đến hát bài chòi mừng và trao quà cho người trúng thưởng.

Anh Nguyễn Văn Sinh - chủ nhà hàng Anh Nhật-Gia Viên - vốn là một doanh nhân đang làm ăn khá phát đạt tại Quy Nhơn (Bình Định). Gần đây khi ra Hội An dự lễ hội anh thấy họ tổ chức "đánh bài chòi" liền nghĩ rằng đây là một trò chơi dân gian của Bình Định mình là dân "nẫu" gốc tại sao không làm không khôi phục ít là cũng đưa trò chơi này vào nhà hàng của mình ?

Anh Nhật-Gia Viên là một nhà hàng có phong cách xưa lối kiến trúc cổ và chỉ phục vụ thực khách các món ăn dân dã Bình Định như bánh xèo bánh bèo bánh canh... thì có thêm "món" đánh bài chòi càng phù hợp. Nghĩ là làm Nguyễn Văn Sinh quay ngay về Quy Nhơn lên đoàn dân ca tìm 4 người có chất giọng hát bài chòi tốt (3 người hát 1 người tổ chức dàn dựng) rồi đưa họ ra Hội An trực tiếp xem tiếp xúc và trao đổi thêm kinh nghiệm để về Quy Nhơn làm trò chơi "đánh bài chòi" ngay tại nhà hàng Anh Nhật-Gia viên.

Sau khi có kinh nghiệm Anh Nhật-Gia Viên thành lập ngay câu lạc bộ trò chơi dân gian bài chòi và tổ chức "đánh bài chòi" vào tối 14 (âm lịch) hàng tháng. Ngoài ra trong các ngày lễ các cơ quan có nhu cầu thì Anh Nhật - Gia Viên đều sẵn sàng đến phục vụ và bước đầu được thực khách rất khoái trò chơi này.

Đây là nhà hàng đầu tiên tại Quy Nhơn tổ chức trò chơi dân gian và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15.6.2008. Các diễn viên  hát bài chòi đều là những thành viên của đoàn dân ca Bình Định vừa mới ra trường nên đây cũng là cơ hội để họ rèn nghề lại có thêm thu nhập để sống với nghề hát dân ca bài chòi. Tổ chức một nhóm hát dân ca bài chòi ngay tại nhà hàng theo anh Nguyễn Văn Sinh là cũng khá tốn kém.

Ngoài chuyện trả tiền công cho diễn viên thì còn phải lo cả trang phục quần áo diễn ống cờ quân bài sân khấu tập luyện… Mọi kinh phí này đương nhiên nhà hàng phải chi. Ngay trong đêm ra mắt đầu tiên và chính thức đi vào hoạt động tại nhà hàng ông Nguyễn An Pha - Phó Giám đốc Sở VHTT&DL Bình Định - cũng thực sự bất ngờ với trò chơi dân gian "đánh bài chòi". Ông bất ngờ vì cho rằng mình là dân làm dân ca nhưng lại chưa nghĩ đến trò chơi dân gian này như Anh Nhật - Gia Viên.

Ngày ra mắt CLB cổ vật UNESCO Bình Định nhóm cũng đến phục vụ trò chơi "đánh bài chòi" và được khen ngợi hết mình. Nhà hàng Anh Nhật-Gia Viên có sức chứa khoảng 200 thực khách và mỗi lần vào tối 14 hàng tháng là nhà hàng không còn chỗ ngồi. Thực khách đến thưởng thức các món ăn dân dã còn muốn được trực tiếp chơi "đánh bài chòi" khá vui hấp dẫn và nếu trúng thưởng lại có món quà nho nhỏ mang về làm kỷ niệm.

Trong dịp Festival Tây Sơn - Bình Định Nghệ sĩ Nhân dân Thu Hiền nghe tin cũng đến nhà hàng này và đành chấp nhận ra về vì không thể tìm được chỗ ngồi vì đến trễ. Còn trước đó tối 25.7   hai diễn viên của đoàn cung đình Huế khi về Quy Nhơn cũng đến thưởng thức và còn vui vẻ lên tham gia hát hò Huế rất điệu nghệ làm cả một thực khách nữ có quê gốc Huế khi nghe phải rấm rứt khóc vì… nhớ quê.

Các quan chức trong ngành du lịch Bình Định khi được hỏi về trò chơi này đều có chung câu trả lời là biết Anh Nhật-Gia Viên có nhưng bận quá chưa tới. Trong khi đó một đại diện của Cty du lịch Viettravel tại Quy Nhơn biết có trò chơi này liền mò tới và thấy hay rồi đưa ngay vào chương trình "tua" của Cty mình để mỗi lần có "tua" thì xem Anh Nhật-Gia Viên là một địa điểm để đưa khách tới thưởng thức.

Vũ Hùng

More...

Nẫu - Thương lắm tiếng "Nẫu"

By Tinh Khuc Quy Nhon

Nẫu - Thương lắm tiếng "Nẫu"
Khải Nhân

Cần nói ngay người viết bài này vốn chẳng phải người xứ nẫu. Nói vậy từ đầu để bạn khỏi trách tôi cứ đi "ca" tiếng nói của quê mình. Ấy ngày mới đến đất này nghe tiếng nẫu chẳng phải tôi cứ dỏng tai lên nghe tròn xoe cả mắt để nhìn miệng đến... mỏi. Vậy rồi qua năm qua tháng nay thì tiếng nẫu đã thật quen một ngày đi đâu xa không nghe là thấy... nhơ nhớ.

Tôi nhớ tiếng nẫu cũng như người Việt mình nhớ điệu quan họ như người Nghệ nhớ câu ví dặm và cũng như chính người xứ nẫu yêu điệu bài chòi. Hẳn trong từng thanh âm mến thương ấy lắng lại một nét hồn dân tộc hồn miền đất "đã hóa tâm hồn" mình.

Tiếng nẫu nghe thật trìu mến nó khác với tiếng Huế ngọt ngào tiếng Bắc lịch lãm tiếng Nghệ thân thương. Này là một người vợ gọi chồng: "Anh ơi! Dìa ăn cum". Này là tiếng người mẹ dặn với: "Túi thui túi thít đi đứng cẩn thận nghen con!". Này là lời bà ru cháu: "Ai dìa ai ở mặc ai/ Bậu thì ở lợi sáng mơi hãy dìa"...

Ai người xứ nẫu nghe mà không thấy mát lòng như giữa trưa bức mà có ngọn gió từ ngoài đồng thổi qua nghe thơm thảo như bát cơm gạo tám xới giữa ngày đông lạnh giá...

Tiếng nẫu ra đời bởi đâu? Hổng rành về lịch sử ngôn ngữ nên đành tạm lý giải thế này: Từ năm 1470 trở đi cấu trúc xã hội trên vùng đất mới có sự xáo trộn đáng kể. Bên người Chiêm ở lại còn có người Việt vào khai hoang lập ấp. Năm 1570 Nguyễn Hoàng được cho kiêm lãnh cả trấn Quảng Nam "chính sự khoan hòa việc gì cũng làm ơn cho dân dùng phép công bằng răn giữ bản bộ cấm đoán kẻ hung dữ" làm cho vùng đất đàng Trong nhanh chóng trở thành nơi an cư lạc nghiệp cho những người di dân vào cuối thế kỷ XVI sang thế kỷ XVII. Rồi người Minh Hương phản Thanh phục Minh bỏ xứ di cư sang hay người Hoa đi giao thương buôn bán trên vùng đất mới của người Việt một số đã dừng chân lập nghiệp trên mảnh đất này.

Sự tụ cư của những dòng người ấy trên một mảnh đất với những điều kiện địa - sinh thái có nhiều điểm khác biệt với quê hương họ đã tạo thành một cuộc hợp lưu về văn hóa từ nết ăn nếp mặc sinh hoạt hàng ngày đến các nghi lễ thờ cúng và hẳn nhiên trong đó có cả tiếng nói.

Cần nhớ là trong những cuộc chuyển cư di cư của người Việt cư dân phần nhiều là dân Thanh - Nghệ. Mà tiếng Nghệ theo các nhà ngôn ngữ học vốn mang nhiều sắc thái tiếng Việt cổ. Khi vào cộng cư trên đất này tiếng ấy hợp với tiếng cư dân bản địa tạo thành một phương ngữ riêng ấy là tiếng xứ nẫu.

Nhưng tại sao tiếng nẫu chỉ có ở vùng Nam Bình Định vào tới Phú Yên còn Bắc Bình Định lại mang nhiều âm điệu xứ Quảng? Đến đây thì tôi... chịu và xin nhường cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ vậy.

Một nhà văn nọ đã cất công tra trong Đại Nam thực lục tiền biên để hiểu "nậu" nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng sau dùng chỉ đám đông họp lại để làm ruộng rồi chỉ làng xóm. Vậy ra đó là nguyên nghĩa của chữ Nẫu nhưng còn tiếng địa phương của xứ nẫu thì hẳn ra đời cùng với quá trình mở làng lập ấp ngay từ thời Lê Thánh Tông vậy.

Ở hoài xứ nẫu đâm ra tôi cũng dần biết nói tiếng nẫu mến người xứ nẫu. Người xứ nẫu ăn cục nói hòn nhưng chắc thiệt. Yêu hổng yêu thì thâu nói dứt phát (Yêu không yêu thì thôi nói dứt khoát). Cái khí chất ăn sóng nói gió của những cư dân đất này cũng góp vào tiếng nẫu cái mạnh mẽ trong sắc thái ngôn ngữ cái độ nồng như mang theo cả gió biển và cát nóng.

Người Bình Định xa quê nghe tiếng nẫu là nhớ đến quê nhà. Nhà thơ Xuân Diệu những ngày trên đất Bắc nhớ về vạn Gò Bồi là nhớ những câu ca dao xứ nẫu má ru bà ru thuở nhỏ để thấy thương mến những cây xoài Bình Định những cột đình làng Luật Bình bãi biển Quy Nhơn dưa hấu Phương Mai những thuyền mắm ở Vạn Gò Bồi cái thành Bình Định cũ buồn như quá khứ... để rồi mang ơn từ câu hát ru thuở nhỏ đến hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi chắt chiu lại trong một người thơ "Trong hơi thở chót dâng trời đất/ Tôi vẫn si tình đến ngất ngây".

Một tác giả viết về anh hùng Nguyễn Hồng Nhị (người Bình Định) cũng bắt đầu từ "Tiếng mẹ ru từ vành nôi Bình Định/ Giọng à ơi ngọt lịm những trưa hè". Tiếng nói ấy lời ru ấy nuôi lớn những hồn người hồn thơ.

Tôi viết bài này khi đang đọc Tìm hiểu con người xứ Quảng (Nguyên Ngọc chủ biên). Lạ vậy đọc những dòng chữ viết về vùng đất khác mà lại nghĩ đến đất này - một vùng đất từng một thời chỉ là viễn châu một thời là kinh thành đến những con người chỉ chân chất mộc mạc mà ân cần hồn hậu nhưng cũng lắm khí phách ngang tàng dám sống hết mình. Rồi mong có ai tâm huyết bỏ lòng nghiên cứu tiếng nẫu con người xứ nẫu thì hẳn sẽ gặt hái bao điều thú vị.

Ta có hẳn mấy tập thật dày địa chí Bình Định mà sao thấy mờ nhạt về con người Bình Định quá - có người đã nhận xét với tôi vậy.

Chợt nhớ cách đây vài hôm trên một diễn đàn ở trang web nọ tự dưng có người băn khoăn sao dạo này phát thanh viên Đài Truyền hình Bình Định chỉ thấy nói toàn giọng Bắc. Tự dưng lại thấy thương thương tiếng nẫu (quê người mà nay đã hóa quê mình).

More...

Tiếng nẫu

By Tinh Khuc Quy Nhon

 

Mời các Bạn cùng làm quen từ "Nẫu"   qua bài viết

"Tiếng nẫu" và sự thể hiện tiếng Nẫu

được NS hài Hoài Linh trong audio clip "Trách thân" .


Tiếng nẫu 
Huỳnh Thúc Giáp 

Người Bình Định Phú Yên được gọi là người xứ Nẫu hẳn nhiên vì "đại từ nhân xưng" "nẫu" (bọn họ người ta...) đã trở nên quá phổ biến với chất giọng nằng nặng thô ráp nhưng chân thật không lẫn vào đâu được.  Ngôn ngữ của người xứ Nẫu có nhiều từ nhiều câu rất độc đáo cũng không lẫn vào đâu được đã trở thành phương ngữ xứ Nẫu. Chẳng hạn "nẫu" "dẫy ngheng" (vậy nghen) "dẫy á" (vậy đó) "dẫy na"(vậy à?) "chu cha" (có tính chất cảm thán kiểu như "trời ơi")... Đã nghe "nẫu" "dẫy ngheng" "dẫy á"... vài lần người ta có thể nhớ mãi như ngấm vào máu thịt không quên được bởi "nẫu" "dẫy ngheng" "dẫy á"... có quá nhiều ngữ nghĩa sắc thái tâm tư tình cảm - đương nhiên tùy theo ngữ cảnh. Quãng năm 1997-1998 tôi có về công tác tại một xã ven biển Phù Mỹ (Bình Định). Ở đó tôi đã chứng kiến một chuyện tình thật đẹp thật cảm động giữa một anh bị khuyết tật đôi chân với một thôn nữ hiền lành. Thương anh ngày ngày lê lết ở bến cá để xin cá nhặt cá rơi vãi mỗi khi thuyền về chị chấp nhận về nâng khăn sửa túi cho anh lại còn phải cáng đáng thêm một bà mẹ chồng đã lọm khọm. Chị nghèo gia đình anh cũng vậy lại là thân nhân liệt sĩ nên nương tựa vào nhau để sống. Tôi hỏi lý do tại sao chị lại dũng cảm lấy một người chồng khuyết tật chị ậm ừ giải thích vài câu rồi thẹn thùng "kết luận": "Dẫy á!". Cái câu "dẫy á" của chị tuy chỉ hai từ nhưng trong ngữ cảnh này mới đắt làm sao. "Dẫy á" đã nói lên được bao điều và tôi không cần hỏi gì thêm cũng hiểu được tấm lòng của chị. Gần đây vào giữa trưa lúc đang thiu thiu ngủ thì chuông điện thoại bàn réo tôi bật dậy. Bực mình nhưng tôi vẫn phải "A lô...". Đầu dây là một giọng nói đậm chất Nẫu: "Anh Bảy hé anh Bảy. Ủa không phải na? Cho tui gặp anh Bảy chút coi!". "Dạ đây không phải nhà anh Bảy có lẽ chị nhầm số". "Ủa lộn số hén? Thâu (thôi) dẫy ngheng". Rồi cúp máy. Cái câu "dẫy ngheng" rất tròn vành rõ chữ lại kéo dài âm "eng" như một lời xin lỗi mong được thông cảm. Tan giấc nghỉ trưa nhưng tôi cũng chẳng còn cảm giác bực mình bởi dư vị của hai chữ "dẫy ngheng" cứ ngọt ngào trong tâm tưởng. Một năm đôi ba bận tôi lại về quê - một làng nhỏ ven sông Côn - để cúng giỗ dẫy mả. Các anh chị tôi ở quê làm nông là chủ yếu. Nghe tôi kể chuyện phố phường thỉnh thoảng họ lại "dẫy na?" ngạc nhiên một cách hết sức hồn nhiên. Còn tôi thì sau mỗi lần như thế lại "dẫy á" để khẳng định lại điều mình vừa nói vừa kể. Trong những lúc trà dư tửu hậu nhiều người xứ Nẫu vẫn đem câu "Yêu không yêu thì thâu nói dứt phát" (Yêu không yêu thì thôi nói (để) dứt khoát) ra để tếu táo với nhau rồi tự trào rằng người xứ Nẫu mình có một câu nói hay đáo để. Sử chép: Ngày 1 tháng 3 năm Hồng Đức thứ 2 (1471) nước Đại Việt mở đất đến núi Thạch Bi (Phú Yên). Đến tháng 7 năm 1471 vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là: Bồng Sơn Phù Ly và Tuy Viễn. Từ đó người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên vùng đất Bình Định Phú Yên ngày nay. 535 năm đã trôi qua. Trải qua bao bể dâu biến thiên của lịch sử; trải qua bao cuộc giao lưu hợp lưu giữa các nền văn hóa cái lắng đọng lại chắt lọc lại chính là văn hóa và con người xứ Nẫu trong đó có ngôn ngữ xứ Nẫu. Có thể nói ngôn ngữ xứ Nẫu là tinh hoa của văn hóa xứ Nẫu. Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học đã chia ra 3 vùng chính: Phương ngữ Bắc Bộ phương ngữ Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ. Trong phương ngữ Trung Bộ đương nhiên có phương ngữ xứ Nẫu. Lâu nay các sách ngôn ngữ học thường giới thiệu tiếng Việt như một thực thể nhất dạng. Trong thực tế tiếng Việt rất đa dạng và luôn luôn biến đổi với những sắc thái địa phương khác nhau. Tiếc rằng những sắc thái đó thông thường chỉ được cảm nhận mà chưa được phân tích lý giải tường tận. Cũng vậy đối với phương ngữ xứ Nẫu. Hình như Bình Định Phú Yên đã có khá nhiều bộ địa chí những công trình văn nghệ dân gian nhưng chưa có (hoặc có nhưng rất ít) đề cập đến phương ngữ xứ Nẫu với những lý giải phân tích cặn kẽ tận tường. Văn hóa Bình Định văn hóa Phú Yên - văn hóa xứ Nẫu - không chỉ thể hiện qua những tháp Chàm trầm mặc rêu phong qua câu hát bội thô mộc chất phác qua điệu bài chòi mượt mà sâu lắng qua lời than thân trách phận rền rĩ ai oán... mà còn thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ. Giá như có một công trình nghiên cứu về phương ngữ xứ Nẫu như Huế đã có phương ngữ xứ Huế thì "chu cha" hay biết bao.   (Còn tiếp Thương lắm tiếng "Nẫu")

More...

Di sản không chỉ cần được giữ gìn ...

By Tinh Khuc Quy Nhon

 
Mời các bạn thư giản vài phút với làn điệu dân ca bài chòi


Di sản không chỉ cần được giữ gìn ...

Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống văn hoá. Điều này không ai phủ nhận. Hơn nữa là truyền thống văn hoá ấy đã được các thế hệ cha ông nâng niu cất giữ truyền lại cho chúng ta để hôm nay chúng ta có thể tự hào với một hành trang trên vai.

Gia tài văn hoá ấy là một di sản mà chúng ta cần phải tiếp tục gìn giữ trao lại cho con em để chúng tiếp tục tự hào với những gì mà người đi trước đã bảo tồn. Hàng bao nhiêu thế kỷ đã trôi qua  chúng ta còn giữ được những câu hò điệu lý những áng văn chương bài thuốc cổ truyền... Tất cả những cái đó là công sức của một dân tộc và đương nhiên xứng đáng để tự hào.

Có điều khi cuộc sống ngày càng tất bật hơn khi 86400 giây mỗi ngày bị quá nhiều thứ lấp đầy chúng ta không còn thời gian để lo giữ những cái mà theo quan điểm "hiện đại" đã thuộc về quá khứ. Ngoài các "cụ già" một thời sống và lớn lên cùng cải lương tuổi trẻ ngày nay mấy ai còn quan tâm đến nó? Hãy khảo sát để biết rằng gần như không một bạn trẻ thời hip-hop nào có thể kiên nhẫn ngồi quá 10 phút nghe hát ả đào dù rằng họ vẫn sẽ công nhận đó là một nét văn hoá đẹp của dân tộc. Trong đợt công tác Bình Định gần đây người viết không tránh khỏi đau lòng khi biết rằng những khúc hô bài chòi giờ đã không còn nữa. Có chăng chúng được ghi âm lại phát lại trong một vài buổi "mít-tinh". Không một bạn trẻ nào mà người viết tiếp xúc tại Bình Định có thể hô bài chòi. Ngay ở cái nôi của bài chòi mà nó còn hẩm hiu như thế nói chi đến những vùng khác xa xôi.

Trước thực trạng hàng loạt di sản văn hoá cha ông để lại có thể bị "tuyệt chủng" yêu cầu cấp thiết được đặt ra là chúng ta phải có cách bảo tồn gìn giữ chúng. Thế nhưng chúng ta sẽ bảo tồn chúng như thế nào đây? Nếu không có được một lớp người kế thừa những khúc hát ả đào những kỹ thuật trang điểm ra bộ của hát bội sẽ đi đến chỗ diệt vong. Nếu không có một lớp người kế thừa tất cả rồi đây sẽ chỉ còn nằm trên hình ảnh và băng đĩa. Mà hình ảnh và băng đĩa dù có được thực hiện một cách công phu khoa học thế nào cũng không thể có cái thần của một buổi diễn live không thể chuyển tải hết cái hồn của một thế hệ sản sinh ra nó.

Cho nên giữ gìn di sản không phải là việc mang chúng vào kho cất kỹ lồng khung kiếng treo tường hay giăng hàng rào bảo vệ kèm câu cảnh báo "Cấm sờ..." mà phải đảm bảo được việc chúng tồn tại trong đời sống thực. Giữ gìn nghĩa là phải có người tiếp tục đi trên con đường ấy phải có người tiếp tục sáng tác biểu diễn. Tiếc thay dường như chúng ta chưa hề có lực lượng này. Nói đúng hơn chúng ta có một lực lượng bảo lưu chúng chỉ như những nhân viên bảo tàng - bảo lưu và chấm hết.

Nhã nhạc cung đình Huế dù đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại thì công chúng của nó là ai nếu không phải là vài vị khách du lịch mua vé ngồi nghe như cách chúng ta vào sở thú nghiên cứu ... động vật ? Và khi những vị khách du lịch dời đi nó lại được xếp vào kho những nghệ sĩ biểu diễn nhã nhạc lại quay về với cuộc sống đời thường. Cồng chiêng Tây Nguyên cũng là một di sản phi vật thể của nhân loại nhưng hãy cứ nhìn về Tây Nguyên xem còn lại được gì trong những mùa lễ hội những buổi cúng Yàng? Từng buôn từng bản cồng chiêng dần lui vào quá khứ để nhường chỗ cho những thứ mới hiện đại hơn như ... nhạc Ưng Hoàng Phúc chẳng hạn. Nếu có một lúc nào đó cồng chiêng được mang ra biểu diễn thì oái oăm thay cũng chỉ là khi những vị khách du lịch từ phương xa tìm đến.

Nếu chỉ bảo lưu để phục vụ du lịch hoặc để nghiên cứu lịch sử văn hoá chắc chắn một ngày không xa tất cả mọi di sản đều sẽ có được một chỗ trong bảo tàng để xem và quên lãng.

Cho nên bảo tồn di sản mới chỉ là một vế. Vế còn lại là chúng ta phải phát huy nó. Mà muốn phát huy được thì không có cách nào khác hơn là mang nó vào cuộc sống chứ không phải mang nó đi lưu trữ hay để phục vụ du lịch. Muốn phát huy được thì lại phải biết cách chọn lọc những di sản phù hợp với thời hiện đại để tích hợp vào cuộc sống. Những gì không tích hợp được cần phải được phân loại và lưu trữ trong kho. Ngoài cách đó ra e là chúng ta không thể làm gì khác hơn được. Nếu không lưu kho những gì không còn phù hợp chúng chắc chắn sẽ bị thất lạc mà việc tìm lại là vô phương.

Những thể nghiệm của một số nhạc sĩ ở thể loại ca trù hay world music phần nào có kết quả khả quan. và hé lộ một tương lai mới cho di sản. Vấn đề còn lại là còn bao nhiêu di sản nữa sẽ được tích hợp vào cuộc sống? Tích hợp như thế nào? Và ai phải làm đây? Quan trọng nhất có lẽ là câu hỏi cuối.

Liên Châu

More...