Xứ dừa quê tôi

By Tinh Khuc Quy Nhon

Xứ Dừa quê tôi

NGUYỄN THỊ THẢO HIẾU
(Lớp 08DP2 Khoa Đông Phương học Trường ĐH Văn Hiến)

Người dân Bình Định nhất là người Hoài Nhơn (Bình Định) ai cũng thuộc lòng câu ca dao:

Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

Để nói rằng dừa ở Bình Định nói chung ở vùng Hoài Nhơn nói riêng rất nhiều.

Thật vậy trước chiến tranh chống Mỹ vùng Hoài Nhơn - Tam Quan rợp mát bóng dừa xanh. Cuộc sống của nhiều người dân gắn liền với nhữngvườn dừa và cây dừa là cây kinh tế truyền thống và mũi nhọn cho mọi gia đình ở đây. Toàn bộ cây dừa đều có ích nhưng người ta quý cây dừa trước hết là do những chùm "lơ lửng giữa trời sông không đến bến không vào sao có nước" (câu đố về quả dừa) của nó.

Từ cột nhà kèo nhà đòn tay nhà cây ruôi cho đến mái lợp... cũng bằng toàn bằng gỗ dừa cọng dừa và lá dừa. Còn thứ liệu của dừa cũng được tận dụng làm chất đốt để nấu nướng và sưởi ấm cho các cụ già vào mùa đông tháng giá. Từ cây dừa đã tạo ra không biết bao nhiêu công việc làm ăn nuôi sống làng xóm qua nhiều thế hệ. Các món ăn được chế biến từ dừa những đồ gia dụng ngư cụ đến nông cụ cũng được chế biến từ cây dừa chẳng những tiêu thụ tại địa phương hay quanh vùng mà còn làm thành sản phẩm hàng hóa chở đi bán cho cư dân các tỉnh miền Trung và miền Nam.

Đi trong làng rợp bóng dừa như những hành lang tự nhiên có mái che nhất là ở vùng Cửu Lợi - Tam Quan. Ánh sáng mặt trời ở Tam Quan bao giờ cũng đi cùng gió biển ban mai. Gió đẩy nắng vờn trên ngọn lá. Trời đầy tiếng chim chích chòe hối hả gọi nhau qua những tàu lá dừa dài phấp phới. Con đường vàng và rợp mát. Làn gió lướt qua những tàu lá dừa xôn xao lấp lánh. Đi trong rừng dừa khoan khoái biết bao không khí như có mùi thơm. Bóng dừa đã tạo cho các cô gái ở nơi đây có mái tóc dài đen bóng (vì xức tóc bằng dầu dừa) cùng với làn da trắng mịn (nhờ bóng rợp mát của dừa cả ngày không lọt nắng) như quyến rũ mời gọi các chàng trai từ các vùng khác tìm đến nên thường có câu ví trong dân gian: "Trai An Thái gái Cửu Lợi" quả cũng không ngoa. Dân gian ở đây còn có câu ca:

Tam Quan ít mít nhiều dừa
Nhiều cô gái đẹp mà chưa có chồng

Thiên nhiên từ lâu đã ưu đãi con người miền Trung nắng gió. Nếu Quảng Ngãi có rừng mía Phú Yên có rừng bông thì Bình Định có rừng dừa bạt ngàn. Không rõ cây dừa đã được trồng ở Bình Định từ đời nào nhưng người ta kể rằng: Thuở ấy vùng này đất đai phì nhiêu nhưng nhân dân đói khổ. Có một con chằn tinh và một con đại bàng từ xa đến chúng thường phun nọc độc hủy hoại cây cối ruộng đồng. Mọi người đều lo sợ. Một hôm con đại bàng sà cánh xuống làng và cắp mất Nàng Nếp một cô gái chăm chỉ xinh đẹp hiền hậu nhất làng. Chàng Lửa - người yêu của cô gái - vội vã vượt suối trèo non lên đỉnh núi cao giết chết đại bàng cứu được cô gái. Chàng Lửa đem người yêu về nhà. Cha mẹ cô gái vì quá nhớ thương cô gái nên đã chết. Cô gái phiền muộn nên chẳng bao lâu cũng qua đời. Lúc hấp hối cô cầm tay chàng Lửa căn dặn: "Em chết nhưng trái tim em nguyện ở mãi cùng dân làng cùng anh".



Ít lâu sau trên nấm mồ của nàng Nếp nảy sinh một chồi con và chiếc lá đầu tiên dài có hình cái lược của người con gái hiện ra. Cây lớn lên rất nhanh nở ra những chùm quả vàng chi chít ôm tròn quanh ngọn cây. Nước ở trong quả ngọt lịm và lớp thịt màu trắng thì béo ngậy. Mọi người trìu mến gọi quả lạ là quả Nàng Nếp. Nhưng lúc này từ ngoài khơi con chằn tinh lại bơi vào. Chàng Lửa liền cùng dân làng vây đánh. Chằn tinh bị chém mất đầu lại mọc ra đầu khác. Đánh mãi đến chiều tối thì nó thua chạy ra biển. Dân làng dùng thuyền vượt biển đuổi theo. Ra đến đảo xa chàng Lửa giết chết con chằn tinh nhưng chàng cũng bị thương nặng. Thuyền về đất liền thì chàng tắt thở. Thi hài của chàng được chôn cạnh nấm mồ của Nàng Nếp. Kỳ lạ làm sao ngay ngày hôm sau một thân cây đã hiện ra cao vút. Từng chùm quả giống hệt quả Nàng Nếp đung đưa trong gió chiều duy chỉ có sắc da thì đỏ như ráng chiều trông nước da trên khuôn mặt của chàng Lửa.

Để tưởng nhớ công ơn chàng trai tài giỏi dân làng gọi cây lạ là cây chàng Lửa. Năm tháng theo nhau qua ở vùng đất này dân làng ươm trồng hai loại cây này thành những cánh rừng rộng bạt ngàn; cây nhiều không sao đếm xuể nữa. Khách xa đến nhìn khó mà phân biệt đâu là cây Chàng Lửa và đâu là cây Nàng Nếp. Dần dần người ta gọi một tên chung là cây dừa.

Sống gắn bó và rất mực thủy chung với người cây dừa là niềm kiêu hãnh của người dân Bình Định:

Dừa xanh sừng sững giữa trời
Đem thân mình hiến cho đời thủy chung

Từ đầu thế kỷ 20 cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp người dân các tỉnh miền Trung Trung bộ và nhất là các tỉnh thuộc Liên khu 5 cũ rất quý cây dừa vì nó cho ta đủ mọi thứ quan trọng nhất là dầu dừa được làm dầu ăn dầu thắp sáng và có khi người ta dùng để bón cây rất tốt. Những đêm văn nghệ liên hoan nhiều người cũng dùng những đĩa đèn dầu dừa lớn đốt nhiều ngọn. Họp chợ ban đêm (để tránh máy bay địch) các lớp bình dân học vụ xóa mù chữ cũng đều sử dụng đèn dầu dừa. Ngay cả khi lau chùi bảo quản khí tài quân cụ bôi trơn các loại máy móc sản xuất bánh xà phòng... cũng đều dùng đến dầu dừa. Thật là dễ hiểu vì nó là nguyên liệu tại chỗ mà lúc bấy giờ chưa có các loại dầu ăn như: dầu xà lách dầu ô liu dầu đậu nành dầu Tường An... như bây giờ để thay thế. Cho đến các loại dầu mỏ như: dầu hỏa dầu cặn để thắp sáng cũng chỉ có sau năm 1955 chứ chưa nói gì đến đèn điện.

Nhiều thức ăn và việc chế biến thức ăn thức uống cũng lấy dừa làm gốc như: các thứ bánh đều có nhân dừa hay nước cốt dừa. Khi ấy dừa được coi như kem để kẹp bánh (bánh thuẫn bánh măng bánh trụng) có thành phần là dừa như bánh ít lá gai bánh tráng nước dừa thậm chí cả bánh chưng bánh tét nhân dừa nữa. Bởi vì các loại bánh đó phải có dừa bánh mới thơm ngon và sang trọng. Các mẹt hàng ngoài chợ nông thôn xưa kia ít khi thấy bán kẹo nếu có chỉ là loại "kẹo ú" sản xuất tại chỗ bằng đường mật mía mà thôi. Kẹo dừa được người dân Bến Tre - một xứ sở của dừa - sản xuất có thương hiệu nổi tiếng ở nhiều nước. Riêng các hợp tác xã sản xuất đồ gia dụng từ vỏ dừa gỗ dừa ở Hoài Nhơn vẫn có mặt hàng trên khắp nước và đang "chống cự" lại với mặt hàng nhựa tiện dụng và rẻ tiền. Những năm trước đây họ cho xuất khẩu cả cơm dừa phơi khô than hoạt tính đốt từ sọ dừa.

Lợi ích từ cây dừa đem lại với không biết bao nhiêu công ăn việc làm cho cư dân vùng này. Tuy nhiên cây dừa nhiều lúc lâm vào đại dịch của bọ cánh cứng tàn phá vô kể mà nông dân cứ nhìn lên trời mà than thở mặc dầu trước đó các cơ quan hữu trách đã dùng nhiều biện pháp chống trừ.

Dừa trở thành sản phẩm đặc trưng của người dân Hoài Nhơn nói riêng và của người dân Bình Định nói chung.

N.T.T.H

More...

VUA QUANG TRUNG - Vị anh hùng dân tộc

By Tinh Khuc Quy Nhon

VUA QUANG TRUNG

Vị anh hùng dân tộc

 
1- Vinh danh Anh Hùng Dân Tộc
Người Pháp tự hào về Napoléon Bonaparte. Ông là một thiên tài quân sự đã chinh phục một phần lớn lãnh thổ Âu Châu nhưng cuối cùng thất bại trận Waterloo tại nước Bỉ.

            Dân tộc Pháp luôn luôn tôn kính ông. Du khách đến Paris thấy ở đầu đại lộ Champs Elisée gần nhà thờ Đức Bà cổ kính gần dòng sông Seine thơ mộng Khải Hoàn Môn được xây dựng một công trình kiến trúc Văn Hóa Hùng Sử Pháp để tưởng nhớ Napoléon Bonaparte với những chiến thắng vẻ vang liên tiếp đã làm rạng danh trang sử Pháp.

            Vào thời gian này tại Mỹ Quốc cũng có cuộc cách mạng Hoa Kỳ. Chính George Washington một chính trị gia lỗi lạc một anh hùng dân tộc đã đưa đất nước Hoa Kỳ đến chỗ vinh quang.

            Việt Nam chúng ta có vua Quang Trung Nguyễn Huệ là kết hợp hai đặc điểm Thiên Tài Quân Sự của ông Napoléon Bonaparte và chính trị gia lỗi lạc của ông George Washington. Vua Quang Trung hành quân tốc chiến tốc thắng biến hóa như thần hiệu lệnh nghiêm minh kỷ luật sắt thép. Từ khi làm Tướng giữa lúc nước nhà ly loạn khắp nơi đến khi ông mất xông pha trăm trận bách chiến bách thắng ông chưa hề biết chiến bại.

            Chúng ta phải lập Khải Hoàn Môn Việt Nam để vinh danh vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ là gương sáng cho thế hệ con cháu mai hậu noi theo. Chỉ trong 5 ngày chiến đấu ào ạt Vua Quang Trung đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh chiến thắng vẻ vang trong những trận đánh thần tốc oai hùng. Đây là một chiến công lớn lao so sánh với chiến công của các danh tướng Đông Tây Kim Cổ trên thế giới là niềm hảnh diện chung cho Dân Tộc Việt Nam.

            2- Cuộc Cách Mạng Dân Tộc

            Vào thế kỷ thứ 18 nhiều cuộc Cách Mạng Dân Tộc nổi lên khắp nơi từ Âu Mỹ Á. Cách Mạng Pháp 14/7/1789 lật đổ chế độ phong kiến tiếp nối qua nhiều thế hệ. Sự thống trị cha truyền con nối từ đời nầy sang đời khác bị đánh đổ nông nghiệp phải nhường bước cho thương nghiệp. Nhiều nước đua nhau lập đội thương thuyền tranh giành thị trường và chiếm thuộc địa.

            Tại Việt Nam thời bây giờ loạn lạc nổi lên khắp nơi như vụ loạn Nguyễn Tuyển Nguyễn Cừ Nguyễn Hữu Cầu Nguyễn Danh Phương Hoàng Công Chất ... quan quân địa phương dẹp không nổi.

            Trong Nam năm 1782 Nguyễn Phúc Ánh Nhà Nguyễn bị Nhà Tây Sơn đánh bại tại Ngả Bảy Thất Kỳ Giang không còn manh giáp Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát thân ra đảo Phú Quốc. Trong trận nầy Nguyễn Phúc Ánh cầu cứu một người Pháp tên là Manuel đem thủy quân đến giúp nhưng không chống nổi Manuel phải đốt tàu mà chết. Về sau Nguyễn Phúc Ánh nhờ Pierre Pigneau de Behiane Eveque d Adran đem con là Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu nước Pháp nhờ đem quân sang giúp chống lại nhà Tây Sơn khơi mào cho sự dòm ngó tìm thị trường và thuộc địa của Đế quốc phương tây. Một trăm năm đô hộ giặc Tây! Dân Việt trải qua bao nhiêu sự đau khổ bị áp bức chết chóc sưu cao thuế nặng.

            Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh rước quân Xiêm La do hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền chiến Rạch Giá Ba Thắt Trà Ôn và Mân Thít. Đi đến đâu quân Xiêm cướp bóc và quấy nhiễu đến đó thật là tai hại.

            Ở miền Bắc Trịnh Giang chuyên quyền giết vua Lê tàn sát các công thần. Họ Trịnh ăn chơi xa xỉ khiến công quỹ hao hụt sưu thuế nặng nề. Cuộc tranh bá đồ vương Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài trên một trăm năm (1620-1775) làm dân chúng chết chóc điêu linh khổ sở.

            Năm 1788 Lê Chiêu Thống rước quân Tàu do Tôn Sĩ Nghị Tổng Đốc Lưỡng Quảng đem quân xâm chiếm Việt Nam thiếu chút nữa nước ta bị quân Tàu đô hộ một lần nữa. Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu qua bốn lần Bắc thuộc khởi đầu từ năm 207 trước Tây lịch thiệt quá khủng khiếp! Người dân phải lên rừng tìm ngà voi xuống biển mò ngọc trai sưu cao thuế nặng dưới sự cai trị áp bức của quân xâm lược. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng chục thế kỷ bị đô hộ với biết bao nhiêu sự phấn đấu vượt bực để khỏi bị người Tàu đồng hóa.

            Giáo sĩ Diego de Jumilla viết: „Để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân Nhà Tây Sơn đã đứng lên làm cuộc Cách Mạng Dân Tộc lật đổ chế độ thối nát đem công bằng và cơm no áo ấm cho dân chúng".

            Buttinger nhà nghiên cứu lịch sử chính trị đã nói: „Những lực lượng xã hội thời bấy giờ như khách trú người Hoa người Chiêm Thành các giới nhà chùa Phật Giáo Lão Giáo Các Sắc Tộc thiểu số đều nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ đưa phong trào Tây Sơn đến chỗ thành công".

            Jean Chisneaux giáo sư sử học Pháp viết: „Sự kiện lớn nhất đối với Nhà Tây Sơn là việc khôi phục thống nhất đất nước xóa bỏ việc chia cắt đất nước thành hai vương quốc Trịnh-Nguyễn đối địch".

            Trong cuốn Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của ông Đặng Xuân Bảng có đoạn viết: „Trận chiến lúc bấy giờ giống như cái thế Tam Quốc bên Tàu: Bắc Ngụy Tây Thục và Đông Ngô. Ở Việt Nam Nhà Tây Sơn đã đánh Chúa Nguyễn diệt chúa Trịnh thống nhất đất nước". 
 3- Binh pháp Nguyễn Huệ:
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc „Binh pháp Tôn Tử" nổi danh và được áp dụng qua nhiều thế kỷ. Các nhà quân sự phương đông và Việt Nam thường hay nghiên cứu và áp dụng binh pháp nầy nhưng kết quả thành bại phần lớn tùy vào khả năng và sự tài giỏi của người điều khiển.

            Vua Quang Trung Nguyễn Huệ xông pha trận mạc khắp các chiến trường đánh vào phía nam bốn lần bạt thành Gia Định đánh ra phía Bắc ba lần vào Thăng Long thắng Chúa Nguyễn diệt Chúa Trịnh đánh bại quân Xiêm La phá tan quân Mãn Thanh áp dụng binh pháp thiên biến vạn hóa: Binh Pháp Nguyễn Huệ.

            - Quân đôi hùng dũng

            - Kỷ luật sắt thép

            - Tình báo chính xác

            - Kế hoạch tinh vi

            - Chuyển quân chớp nhoáng

            - Chỉ huy dũng mãnh

            - Trận đánh thần tốc

            - Ân uy độ lượng

            Vua Quang Trung tổ chức một đội binh dũng mạnh. Ông thường nói: „Binh lính cốt hòa thuận chứ không cốt đông cốt tinh nhuệ chứ không cốt nhiều".

            Theo lời các nhà truyền giáo Tây Phương quân đội của ông có tinh thần chiến đấu cao kỷ luật sắt thép không xâm phạm tài sản của dân chúng. Người lính được huấn luyện gan dạ một chống nổi ba bốn nên đánh đâu thắng đấy.

            „Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng" nói lên tính cách quan trọng của tình báo. Vua Quang Trung có một đội ngũ tình báo tài giỏi tháo vát lại có thêm hai thủ lãnh người Hoa là Lý Tài và Tập Đình về giúp tình báo viên len lỏi xâm nhập vào lòng đất địch để lấy tin tức chính xác biết quân địch muốn gì và đang làm gì.

            Kế hoạch hành quân tấn công chớp nhoáng vào địch quân là một chiến thuật thần tốc kỳ tài của Vua Quang Trung thiên biến vạn hóa áp dụng như thần trên các chiến trường Nam Bắc. Quân Xiêm La được Nguyễn Phúc Ánh rước về Nam Việt Nam và làm chủ tình hình Gia Định từ tháng 8 năm 1784. Nguyễn Huệ đem quân vào Rạch Gầm - Xoài Mút thuộc tỉnh Định Tường áp dụng chiến thuật lùi để nhử địch vào các điểm chiến lược. Quân Xiêm đến quân của Nguyễn Huệ tràn ra đánh cả hai mặt thủy bộ quân Xiêm xoay trở không kịp chết rất nhiều chỉ còn vài ngàn người tìm đường thoát thân chạy về nước.

            Quân Tàu được Lê Chiêu Thống rước về Bắc Việt Nam qua ba ngả Nam Quan Tuyên Quang Cao Bằng và làm chủ tình hình Thăng Long từ tháng 11 năm 1788. Quân ta ít quân Tàu đông quân ta ở xa tới quân Tàu đã xây đồn lũy làm chủ tình thế. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết Vua Quang Trung tuyên bố: „Lần nầy ta ra trận hành quân phương lược tiến đánh đã có sẵn chẳng qua 10 ngày là đuổi được quân Thanh". Ông chia quân làm 3 đạo với binh pháp Nguyễn Huệ mẹo mực như thần hành quân tốc chiến tốc thắng và chưa đầy một tuần lễ đã phá tan đoàn quân xâm lược Mãn Thanh quân ta chiến thắng vẻ vang chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

            Một điểm khác Vua Quang Trung điều binh rất nhanh. Ông chuyển quân vào Miền Nam ra Miền Bắc quân thủy bộ đi rập với nhau ăn khớp trong việc lập thế trận. Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí Trần Công Xán phát biểu: „Người Tây Sơn hành quân như bay tiến quân rất gấp xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần chống không thể được đuổi không thể kịp".

            Vua Quang Trung cũng áp dụng đúng mức chiến tranh tâm lý là để quân Xiêm La và quân Xâm lược Mãn Thanh cướp bóc hiếp đáp nhân dân tạo nộ sĩ trong dân chúng với lòng căm phẫn quân thù bạo tàn. Ông là một tướng tài một vị vua khoan dung độ lượng lấy ân uy và đảm lược chinh phục lòng người nên ai nấy đều kính sợ. 
 4- Cái Trí và Cái Dũng:
Ông là người có một bộ óc thông minh lỗi lạc một nhãn quan đặc biệt một uy vũ khác thường. Sách Đại Nam Chính Biên Lược Truyện có đoạn tả chân dung của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ: „Ông ta tiếng nói như chuông mắt lập lòe như ánh điện là người thông minh kiên quyết giỏi chiến đấu người người đều kính nể". Ngoài cái dũng của vị anh hùng tài trí tiên phong nơi chiến trận ông có nhiều mưu lược tùy cơ ứng biến trong các trận đánh khác nhau từ đồi núi đến đồn lũy từ bộ chiến đến thủy chiến biến hóa không lường chiến thuật điều binh chớp nhoáng đem lại chiến thắng vẻ vang:

                        Đệ nhất anh hùng giữa thế gian

                        Dẹp tan xâm lược cứu giang san

                        Đống Đa giặc Mãn thây chồng chất

                        Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang

                        Kim Cổ vĩ nhân so xứng bậc

                        Đông Tây danh tướng sánh cùng hàng

                        Quang Trung thế hệ tài năng trẻ

                        Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang

            Vua Quang Trung có nhiều sáng kiến đặc biệt phát sinh từ một tinh thần Quốc Gia cấp tiến và sáng suốt về việc sử dụng chữ Nôm một ý niệm Cách Mạng Tự chủ Độc Lập. Ông nghe ai tài giỏi hiền đức lấy lễ Tân Sư tức vừa coi là khách vừa coi là Thầy mời tham gia việc nước Các bậc tài danh như La San Phu Tử Nguyễn Thiếp Ngô Thời Nhiệm Phan Huy Ích Trần Văn Kỷ Ninh Tấn Đoàn Nguyễn Tuấn Trần Bá Lâm Võ Huy Tấn ... đều được mời tham chính. Ông chỉnh đốn triều chính cải cách ruộng đất cải tổ thuế khóa. Ông nghĩ ngay đến việc đúc tiền để độc lập về mọi mặt và đồng tiền "Quang Trung Thông Bảo" được thay đồng tiền Cảnh Hưng khắp chợ cùng quê.
5- Niềm Tự Hào Dân Tộc:
Dân Tộc Việt Nam tự hào về vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Thế hệ con cháu mai hậu sẽ xây Khải Hoàn Môn Việt Nam tại núi Bàn Sơn nơi xuất quân ra Bắc đánh quân xâm lược hay tại Gò Đống Đa nơi chiến thắng quân Tàu để vinh danh ông. Ông là bậc kỳ tài dũng mãnh với một thời gian ngắn kỷ lục ông đã tiêu diệt 200 ngàn quân Thanh mau như chớp nhoáng đến nỗi Vua Càn Long phải nể vì mời Vua Quang Trung tham dự lễ Khánh Thọ Bát Tuần của mình được tổ chức tại Nhiệt Hà bên Tàu để nhìn mặt thật sự và chiêm ngưỡng người đã chiến thắng vẻ vang Thiên Triều phương Bắc. Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện có đoạn nói Vua Càn Long Nhà Thanh rất vui mừng và phê ngay vào góc tờ biểu: "Ta sắp được gặp nhau là điều mong ước lớn".

            Từ những chiến thắng vinh quang ấy khi Vua Quang Trung tại vị bãi việc cống người vàng thế mạng Liễu Thăng mà nước Tàu đã áp đặt các vị vua Việt Nam hàng năm phải triều cống từ năm Đinh Mùi 1427.

            Vua Quang Trung đề cao tinh thần Quốc Gia Dân Tộc dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán trong các chiếu biểu sắc dụ thi phú. Những vần thơ trữ tình của Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương thiên trường ca Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu bản dịch Chinh Phục Ngâm của Đoàn Thị Điểm là những áng văn chữ Nôm tuyệt tác với sự đóng góp cơ bản thuần túy Dân Tộc vào nền Văn Hóa bắt đầu mang tích cách Độc lập Tự chủ của Dân Tộc Việt Nam.

            Hơn thế nữa Vua Quang Trung còn chuẩn bị kế hoạch đòi lại 6 châu thuộc Hưng Hóa 3 động thuộc Tuyên Quang đã bị nước Tàu xâm chiếm trước kia sát nhập vào Lưỡng Quảng. Công việc đóng tàu đúc vũ khí rèn luyện binh sĩ đã sắp đặt từ lâu. Sứ giả sang Tàu năm Nhâm Tý 1792 cầu hôn cưới Công Chúa Thanh Triều và đòi đất đai là cái cớ đánh lấy lại đất nếu Thanh Triều từ chối. Nhưng tiếc thay khi phái bộ Sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc thì được tin Vua Quang Trung thăng hà sứ giả phải quay về.

            Bài học Lịch Sử có đoạn:

                        Máu đào nhuộm thắm từng trang

                        Chỉ quen chiến đấu đầu hàng không quen

                        Em ơi nước mất bao phen

                        Mà phen nào cũng vang tên anh hùng

            Nói lên những trang sử Việt Nam viết bằng máu và nước mắt. Nhiều vị anh hùng đã đẩy lui quân xâm lược phương Bắc như Lê Lợi Trần Quốc Tuấn Lý Thường Kiệt Nguyễn Huệ ... nhưng chiến thắng Đống Đa của Vua Quang Trung là trận đánh kiêu hùng nhất vẻ vang nhất trong thời gian kỷ lục 5 ngày đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh nhanh chưa từng thấy làm quân Tàu hãi hùng khiếp sợ làm rạng danh trang sử Việt Nam. Từ cửa ải Lạng Sơn trở lên phía Bắc người Tàu già trẻ dìu dắt nhau chạy trốn trên mấy trăm dặm tuyệt nhiên không có người và khói bếp.

            Trong Sách Trí Thức Việt Nam cuối thế kỷ 18 ông Hồ Văn Quang viết: "Vua Quang Trung mang một bản sắc khá đặc biệt không chỉ riêng cho Dân Tộc Việt Nam mà cho cả thế giới. Đối với chúng ta không có gì gượng gạo là quá đáng khi ghép đằng sau tên ông những danh từ đẹp đẻ kính trọng đầy thán phục như: Anh hùng thiên tài quân sự thiên tài ngoại giao một chính trị gia lỗi lạc một nhà cải cách xuất chúng một vị Thánh một vị Thần linh vì chỉ có ông ta mới xứng đáng mang danh Đại Đế đã đưa Dân Tộc nhỏ bé như Việt Nam có thể đạt đến đỉnh vinh quang sáng chói nhất tại vùng Đông Nam Á vào cuối thế kỷ 18".

            Vua Quang Trung là niềm hãnh diện và tự hào của Dân Tộc Việt Nam là tấm gương sáng cho thế hệ tuổi trẻ tương lai lòng tràn đầy nhiệt huyết đang vùng dậy khắp nơi nhận lãnh trách nhiệm đầy màu sắc hy vọng tạo thành một sức mạnh đứng lên đòi hỏi Tự do Dân chủ và Nhân quyền cho Dân Tộc Việt Nam.

ĐẶNG ĐỨC BÍCH

More...

Phục dựng ấn triện Tây Sơn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Phục dựng ấn triện Tây Sơn

TP - Bình Định quê hương vị anh hùng áo vải muốn phục dựng ấn thời Quang Trung như hành động trở về nguồn tôn vinh triều đại lẫy lừng và hướng tới Nghìn năm Thăng Long Hà Nội.

Các phác vật ấn Tây Sơn qua bản dựng của Bát Tràng . Ảnh: T.Toan

UBND tỉnh Bình Định phối hợp ngân hàng BIDV sáng 5-6 tổ chức tọa đàm khoa học về sắc phong ấn triện thời Tây Sơn và tính chuyện phục dựng. Theo thống kê năm 1998 chúng ta tìm được 18 quả chuông Tây Sơn tính từ Huế ra Bắc Giang ấn triện còn lại không nhiều. Riêng đình Bát Tràng hiện lưu giữ ba chiếc ấn thời đại Tây Sơn.

Ấn triện thời Quang Trung không còn nhiều dựa vào văn bản để lại có một số ấn: "Quảng vận chi bảo" trong tờ chiếu vua Quang Trung gửi tướng Nguyễn Thiếp "Triều đường chi ấn" lưu lại trong sắc phong thần Việt Yên huyện Thanh Trì "Tiên nhu chi bảo" "Sắc mệnh chi bảo" trong một số văn bản sắc phong lưu truyền đến nay.

Những loại ấn trên được gọi là Kim Ngọc bảo tỷ loại ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại ấn được làm bằng ngọc gọi là ngọc tỷ đúc bằng vàng bạc mạ vàng được gọi là Kim bảo tỷ. Vì vậy Kim ngọc bảo tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng cho đế quyền.

Nhiều ý kiến cho rằng nên phục dựng theo ấn "Sắc mệnh chi bảo" bằng đồng đúng với hoàn cảnh và chất liệu thời đại này. Phần đế ấn may mắn còn lưu lại trên giấy tờ không quá khó khăn trong phục dựng. Trong khi đó núm ấn là phần mơ hồ nhất.

Ông Phạm Quốc Quân giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Ủy viên Hội đồng giám định cổ vật cho rằng nên tham khảo mẫu núm hình rồng ở thời Nguyễn vì có nhiều kế thừa từ thời Tây Sơn.

Ông Phạm Công Việt Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm cho rằng ấn Tây Sơn khá phong phú qua các triều: Thái Đức Quang Trung Cảnh Thịnh và Bảo Hưng. Tuy cứ liệu ấn để lại trên văn bản có nhiều lựa chọn nhưng nên chọn ấn triện dùng trong quốc gia đại sự.

Ông Việt cho rằng khi phục dựng ấn cần lưu ý: chất liệu núm ấn triện tự đế ấn họa tiết hoa văn. "Quảng vận chi ấn" là mô hình đáp ứng khá chuẩn các tiêu chí đề ra. Riêng phần núm ấn nên dùng biểu tượng rồng để trang trí có thể tham khảo mẫu rồng ở các chuông Tây Sơn để lại: chuông chùa Bảo Minh ở Bát Tràng chùa Hà (Hà Nội) hoặc mẫu hình rồng cuối thời Lê.

Ấn "Sắc mệnh chi bảo" ở thời Nguyễn nặng khoảng 8kg làm bằng vàng 10 tuổi được đề xuất để nghiên cứu hướng phục dựng. Đại diện ngân hàng BIDV nơi đứng ra lãnh trách nhiệm bảo trợ và kêu gọi kinh phí để phục dựng ấn Tây Sơn nêu ý kiến không nên làm bằng vàng. Ấn bằng vàng khá tốn kém nên để dành khoản tiền này cho công tác an sinh xã hội. Có thể làm ấn bằng bạc hoặc đồng mạ vàng.

Tại buổi tọa đàm ông Trần Độ nghệ nhân Bát Tràng đem đến năm mẫu ấn triện phác thảo chất liệu bằng gốm phục vụ cho công tác nghiên cứu phục dựng. Các mẫu này cùng với các ý kiến của các nhà khoa học lịch sử khảo cổ giúp thống nhất loại ấn sẽ phục dựng trong thời gian tới.

T.Toan

More...

Vạm vỡ Quy Nhơn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Vạm vỡ Quy Nhơn

Ai đó nói rằng phải biết lớn lên trước biển. Những năm tháng gắn bó với Quy Nhơn tôi đã thấm hơn điều đó qua từng bước từng bước lớn của thành phố bên bờ biển cả này...
 

Quy Nhơn - lần đầu tôi đến là những ngày này 35 năm trước trong đội hình quân giải phóng tiến về Sài Gòn. Nói sát hơn thì đúng 10h 30 phút ngày 25.4.1975 tôi có mặt trên chiếc tàu "há mồm"chiến lợi phẩm của Hải quân ta cặp cảng Quy Nhơn sau hải trình Tiên Sa (Đà Nẵng) - Quy Nhơn. Thời điểm này Quy Nhơn vừa được giải phóng chưa tròn tháng). Ấn tượng đầu tiên trong tôi là một thành phố đầy nắng và lẫn trong những cơn gió biển hào phóng mặn nồng vị cá tôm hải sản với những bà mẹ lam lũ nơi chợ cá.  Trưa ấy đơn vị chúng tôi được chén một bữa cá thu tươi ngon mà mấy má ở Cảng cá Hàm Tử biếu. Nghỉ lại ít giờ đồng hồ khoảng 18h hôm đó tiếp tục trong đội hình chúng tôi hành quân về phía Nam ... Rồi như cơ duyên 20 năm sau (tháng 5-1995)tôi trở lại TP Biển này với nhiệm vụ của một Phóng viên thường trú Báo Nhân Dân. Hơn 10 năm gắn bó làm "công dân" Quy Nhơn được chứng kiến Quy Nhơn từ một đô thị "gầy guộc" trong hành trình vươn tới trở thành một thành phố vạm vỡ trước biển như hôm nay tôi hiểu người dân nơi đây đã nỗ lực vượt lên bắt đầu từ chính nếp nghĩ tư duy chủ quan của mình để đi qua bao khó khăn nhọc nhằn thách thức...

 

Họp bàn chiến dịch chuẩn bị giải phóng Quy Nhơn. Ảnh: Tư Liệu

Có thể nói 35 năm là phần nhỏ so với hơn 400 năm lịch sử hình thành và phát triển của Quy Nhơn nhưng lại là khoảng thời gian làm nên những sự thay đổi về chất của đô thị này... Sau năm 1975 Thị xã Quy Nhơn chỉ có 60 đường phố và 12 km2 nội thị. Rồi 10 năm 20 năm sau (lên thành phố thuộc tỉnh) cũng có mở rộng được chút ít nhưng chưa đủ làm nên một diện mạo mới. Tôi còn nhớ như in mùa hè 1995 trong đêm đầu tiên trở lại   tôi đã đi lang thang trên dọc những hè phố đường chính Trần Phú; Nguyễn Huệ...dưới những ngọn đèn đường đỏ quặch. Mới khoảng hơn 22h mà thành phố như đã vào đêm sâu tĩnh lặng đến đìu hiu... Quy Nhơn có núi có biển và với cái thế "biển một bên và núi một bên" ấy trong mắt các thi sĩ thật quả gây nhiều cảm hứng thi ca. Nhưng lại thật khó cho Quy Nhơn bởi nằm trong cái thế độc đạo. Con đường duy nhất vào thành phố-lúc bấy giờ là cửa ngõ phía bắc Phú Tài chạy khoảng 15 km...chạm biển! Lại nhớ hình như giữa thu năm 2000 một đồng nghiệp bạn tôi từ Hà Nội vào sau những ngày lang thang đưa ra nhận xét: Như nhiều tỉnh Miền Trung Quy Nhơn-Bình Định có không ít lợi thế trong đó phải kể đến thiên nhiên dành cho vùng đất này đến nhiều cảnh sắc thật đẹp thật quyến rũ và điều đặc biệt là những cảnh sắc ấy được gắn với một nền văn hóa Chăm-pa thế kỷ 11  triều đại Tây Sơn và Cảng Thị Nại. Nhưng tất cả vẫn như nàng công chúa ngủ quên trong rừng... Rồi bạn đặt câu hỏi có phải chỉ do đường sá giao thông không thuận mà cả một khoảng dài Quy Nhơn-Bình Định và cả "miền trung luôn dưới cánh máy bay" để kém phát triển so với hai đầu đất nước?... Phải nói rằng dù đã có những nỗ lực phấn đấu nhưng nhìn lại tốc độ phát triển của Quy Nhơn những năm ấy vẫn còn chậm và chưa mạnh so với lợi thế và tiềm năng vốn có. Từ thực tế quá trình xây dựng không phải không có lý khi nhiều người cho rằng Quy Nhơn sẽ đạt được những mục tiêu phát triển sớm hơn nếu có sự đồng bộ hơn về công tác cán bộ. Là địa bàn quan trọng có tính đầu tàu của tỉnh nhưng công tác cán bộ-nhất là đối với cán bộ chủ chốt của thành phố chưa được tỉnh ưu tiên đầu tư đúng mức; công tác quy hoạch luân chuyển còn lúng túng nhiều nhiệm kỳ không có cán bộ chủ chốt giỏi; trình độ năng lực quản lý đô thị còn nhiều bất cập; còn "coi chừng nhau" né tránh không dám chịu trách nhiệm có lúc có nơi còn thiếu đồng tâm hiệp lực trong cán bộ đã làm nên sự trì trệ là lực cản để Quy Nhơn đột phá ngay chính ở tiềm năng của mình. Không phải vô cớ mà có thời điểm nhiều người nói vui "những việc tỉnh làm được là của Quy Nhơn và ngược lại những việc Quy Nhơn chưa làm được là của tỉnh" ít nhiều phản ánh một thực tế về mối quan hệ và sự phối hợp "dọc-ngang"giữa các cấp sở ngành của tỉnh và thành phố có lúc có nơi vẫn còn trùng lắp   chồng chéo...

 

Một góc Quy Nhơn hôm nay. Ảnh Đào Tiến Đạt

Tháng Tư này tôi lại có dịp về với Quy Nhơn. Đêm vào hè phố biển thật dễ chịu. Gió cứ miên man mát rượi. Phía biển lung linh như thành phố nổi hắt lên từ những đoàn thuyền đánh cá đèn. Từ trên tầng thượng Khách sạn "bốn sao" Sài Gòn-Quy Nhơn tôi được phóng tầm mắt bao trọn TP. Con đường Xuân Diệu chạy dọc bãi biển hình vòng cung ôm lấy bờ vịnh dài rực sáng tựa giải ngân hà; phía bắc Đầm Thị Nại sừng sững cầu Nhơn Hội-cây cầu vượt biển dài nhất nước là điểm nhấn đầy tự hào trên hành trình phát triển của Quy Nhơn của Bình Định...Sức lực trí tuệ và sự đồng thuận "ý đảng lòng dân"nơi đây đã và đang làm cho TP biển này ngày một đổi thay; đỏ da thắm thịt...Trong buổi làm việc với chúng tôi ông Chủ tịch UBND TP Quy Nhơn (người từng nhiều năm gắn bó tâm huyết với TP mà cánh báo chí thường gọi đùa thân mật là Đô trưởng) Thái Ngọc Bích đã cung cấp nhiều thông tin chung quanh vấn đề tốc độ đô thị hóa cao của Quy Nhơn những năm gần đây; rồi những con số tăng trưởng về kinh tế và nhiều lĩnh vực đời sống xã hội-thành quả của sự nỗ lực rất đỗi tự hào. Nhưng ấn tượng đọng lại trong tôi vẫn là sự đổi thay đi lên của cuộc sống người dân nơi xã đảo Nhơn Châu và các xã bán đảo Phương Mai. Quy Nhơn đã thực sự gần hơn với những vùng ngoại ô... 5 năm qua bằng nhiều nguồn vốn TP đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng xây dựng các công trình trọng điểm trên địa bàn như:đường Xuân Diệu đường liên xã Nhơn Hải-Nhơn Hội đường trục khu kinh tế Nhơn Hội; đường Nguyễn Tất Thành nối dài...Và đặc biệt là công trình Quy Nhơn-Sông Cầu và cầu đường Quy Nhơn-Nhơn Hội. Đặc biệt -bởi hai công trình này được xem là những "cú huých" đột phá của tỉnh của Quy Nhơn. Con đường Quy Nhơn-Sông Cầu và nhất là việc ra đời của Khu Kinh tế Nhơn Hội nhanh chóng nâng vị thế của Quy Nhơn lên một bậc không gian đô thị của thành phố được mở rộng một cách nhanh chóng bề thế hẳn lên. Quy Nhơn ra khỏi thế độc đạo thành phố vươn dài về phía nam. Ở phía Bắc tổ hợp cầu đường Nhơn Hội (có cầu vượt biển Thị Nại dài 2 5km) nối thành phố với Bán đảo phương Mai rộng hàng ngàn ha trong đó Khu KT Nhơn Hội 12 nghìn ha ...

 

Biển Quy Nhơn. Ảnh Đào Tiến Đạt

  Có ở Quy Nhơn vào những năm cuối 90 mới thấm hết cái khó của cái anh ở vào thế độc đạo; càng trân trọng hơn quyết tâm phải tự lực bứt phá để vươn lên "phải gồng mình lên mà làm Trung ương mới thương mới hỗ trợ" ấy là bài học rút ra từ thực tiễn thời kỳ tỉnh và TP Quy Nhơn quyết tâm mở đường tắt Quy Nhơn-Sông Cầu tránh đường cũ QL1A đoạn qua Đèo Cù Mông hiểm trở. Hơn ai hết người dân ở bán đảo Phương Mai ngày ấy thấm thía muôn nỗi khổ đò giang cách trở "ngày đàng gang nước" có người cả đời chưa qua Quy Nhơn mà xa xôi chi cho cam chỉ cỡ 15 cây số đường chim bay. Vì không có đường nên cả đời người dân ở các xã bán đảo Nhơn Hội Nhơn Lý Nhơn Hải không hề có khái niệm xe đạp ( nói chi đến xe máy)... Rồi năm 2006 khi con đường liên xã Nhơn Hải-Nhơn Hội được xây dựng thì chỉ trong năm ấy theo con số thống kê của TP ba xã đã có trên 200 xe tải xe khách (không tính hàng ngàn xe máy). Con đường đã thực sự thổi bùng một luồng sinh khí mới phát triển cuộc sống cho người dân nơi vốn được xem là vùng sâu vùng xa cách biệt...Thành phố cứ lớn dần lên theo những công trình. Và không ít công trình trọng điểm-tạo "bước ngoặt" đều để lại dấu ấn nhiệt huyết của các lãnh đạo mỗi thời kỳ. Có thể nói một đặc điểm xuyên suốt của Quy Nhơn là nguồn lực đầu tư cho phát triển KT-XH chỉnh trang và phát triển đô thị còn nhiều khó khăn hạn chế trong khi tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh tạo nên áp lực lớn cho thành phố trong việc giải quyết về nhà ở việc làm cải thiện nâng cao điều kiện sinh hoạt trong các khu dân cư. Trong hoàn cảnh đó với phương châm "làm đến đâu chắc đến đó" tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của tỉnh các địa phương tổ chức để tập trung đầu tư có trọng tâm  trọng điểm ưu tiên những công trình mang tính tạo tiền đề phát triển...Sau gần 12 năm nỗ lực phấn đấu từ đô thị loại 2 dịp kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng lãnh đạo tỉnh đã công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh.... Tôi đón nhận tin vui này trong niềm vui như một công dân của thành phố. Nhưng rồi không khỏi chút băn khoăn: Quy Nhơn đã thực lớn?. Phải chăng đây là kết quả của sự năng động của các cấp chính quyền hay tự thân từ những tác động của sự phát triển nền kinh tế thị trường (hay là cả hai)? Tôi nghĩ đến điều đó rất thật lòng bởi trong bối cảnh ở Miền Trung chúng ta đang chứng kiến sự "đua nở" của các đô thị lần lượt được nâng cấp (hoặc là từ thị xã lên thành phố; hoặc là đô thị loại 3 lên 2; 2 lên 1...). đến "chóng mặt". Một không gian đô thị trong khu vực đang được mở rộng một cách nhanh chóng; diện mạo nhiều đô thị đã khang trang hiện đại hơn nhiều lần; hạ tầng cứng và mềm đều có những tiến bộ vượt bậc so với nhiều năm trước đây. Tuy vậy trên cái nền đó do "phát triển nóng" nên đã và đang bộc lộ những mặt trái đáng lo ngại về thể hiện tính bền vững cả phương diện KT lẫn xã hội. Và điều đáng nói là chất lượng cuộc sống của người dân liệu có tăng tương đối theo cấp độ của đô thị?... Nhưng điều băn khoăn trên của tôi về Quy Nhơn nhanh chóng được giải tỏa từ hai mặt: đi sâu tìm hiểu và "kiểm định" trong thực tế. Mặt khác bởi hiểu nên nghĩ về Quy Nhơn tôi nhìn Quy Nhơn trong một dáng vóc đã "vạm vỡ"- sự vạm vỡ này phần xuất phát từ thực tế phát triển của thành phố phần lớn hơn là từ tình cảm mong muốn là sự kỳ vọng của tôi của anh của chúng ta trong tình yêu Quy Nhơn...Và đúng như Ông Chủ tịch Thành phố tâm sự: Giờ đã là đô thị loại 1 nhưng Quy Nhơn còn không ít tiêu chí phải phấn đấu. Có thể trong những năm trước mắt thành phố chưa đạt mức thu nhập bình quân và có nhiều cơ hội tăng trưởng tốt hơn những TP khác và dù còn nhiều khó khăn thách thức song sự quyết tâm  nỗ lực bền bỉ không ngừng nhắm tới một Quy Nhơn phát triển hơn chất lượng cuộc sống của mọi người dân cao hơn ...

Không chỉ bằng lý lẽ của con tim chúng ta tin hy vọng và có quyền hy vọng vào tương lai không xa thành phố ta yêu sẽ phát triển cao hơn mạnh mẽ hơn vạm vỡ như chàng trai xứ biển!

  • Mai Trung

More...

NẪU ƠI THƯƠNG LẮM ! - NGUYỄN PHÚC LIÊM

By Tinh Khuc Quy Nhon

NẪU ƠI THƯƠNG LẮM !
NGUYỄN PHÚC LIÊM
 

Tiếng địa phương là tiếng nói chỉ phổ thông ở một địa phương thường là một tỉnh tuy nhiên cũng có nhiều tiếng chỉ dùng ở một vùng nhỏ và dĩ nhiên chỉ có người địa phương đó mới hiểu mới áp dụng hàng ngày. Và đối với họ đó là nét riêng rất thân thương. Ở Bình Định có khá nhiều tiếng địa phương tượng trưng nhất là hai tiếng "nẫu""bậu".

Các địa phương khác thường gọi người Bình Định là dân "xứ nẫu" vì từ "nẫu" là một đặc trưng trong ngôn từ của người Bình Định. Có một lần tôi vào Sài Gòn đến chợ Bến Thành mua một xấp vải. Trong khi tiếp xúc trả giá qua ngôn ngữ chủ sạp hàng là một phụ nữ đứng tuổi đã nhận ngay ra tôi là người đồng hương Bình Định nên từ việc mua bán lại biến thành cuộc thăm hỏi. Người bán hàng xởi lởi mời mọc trò chuyện hỏi thăm chuyện "ngoài mình". Chị say sưa giới thiệu mình cũng là người "xứ nẫu" hiện giờ ở đâu làm ăn ra sao. Có lẽ cái sung sướng vui vẻ của kẻ "ở xa gặp người quen" như lời thơ cổ "Tha hương ngộ cố tri" nên chị đã thoải mái trao đổi với tôi bằng ngôn ngữ địa phương Bình Định như: "chàu rày ở quài (ngoài) mình thế nào?" "làm ăn chắc cũng tày người ta!" "nẫu làm ăn có đặng không?"...

Ngoài người Bình Định tiếng "nẫu" còn được dùng tại vài nơi ở tỉnh Phú Yên. Ngược dòng thời gian từ khi nhà Lê mở rộng bờ cõi về phương Nam thì Bình Định và Phú Yên thời ấy cùng một trấn. Thế nhưng cùng nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào nhưng tại sao tiếng "nẫu" và một số tiếng địa phương khác chỉ có ở Bình Định mà không có ở các địa phương khác? Lật lại những trang từ điển cũ của các tác giả Trương Vĩnh Ký và Thanh Nghị xuất bản trước năm 1945 thì chỉ có chữ "Nậu" và chữ "Bậu" chứ không có chữ "Nẫu".
Theo đó nậu (dt xưa): bọn; tụi; người khác - của nậu chứ không phải của mình; - Đầu nậu: chef de bande.
Một lối giải thích khác cũng có lý: Người miền Bắc phát âm dấu nặng (.) thì người Bình Định lại nghe thành âm dấu ngã (~). Có lẽ vì thế mà từ "nậu" thành "nẫu" chăng?
Câu ca dao phổ biến là:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống cá chuồn gởi lên.
Tiếng "nậu" nghe cũng khá thân thương lại vừa có âm điệu trong câu ai về nhắn với "nậu nguồn" - nghe êm hơn là "nẫu nguồn". Còn có cách lý giải khác là: cảnh vật và nước uống có ảnh hưởng nhiều trong giọng nói nên việc lẫn lộn giữa dấu ngã và dấu nặng là lẽ thường.

Trong thơ ca Bình Định chúng ta vẫn thường gặp tiếng "nẫu". Dù là người di cư hay người chính gốc địa phương thì tình yêu luôn đến với họ:
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ.
Hoặc:
Ghe hư còn để dấu dầm
Nẫu đi đâu vắng dấu nằm còn đây.
Từ "nẫu" trong Vè Thủy trình của lái ghe bầu cũng là một ví dụ:
"... Giáp đầm Thị Nại hãy còn sử xanh
Vô chợ ăn bún song thần
Hỏi mua nón ngựa để dành về quê
Thiếu gì hải vị sơn khê
Vào nam ra bắc ê hề ngựa xe
Nói chơi sợ nẫu cười chê
Có say đất khách mới mê nết người...".

Bài vè khá dài nhưng có đầm Thị Nại bún song thần (song thằn) và nhất là câu: "Nói chơi sợ nẫu cười chê" cũng đủ xác định bài này có xuất xứ từ người Bình Định.

Chữ "nẫu" còn đi vào trong thơ mới:
Nẫu và tui
Chắc gì lìa tử đã mau nguôi
Một độ lìa sanh cũng ngậm ngùi
Muối mặn nẫu còn chiêm chiếp thích
Gừng cay tui ngỡ hít hà vui
Nẫu hờn nẫu giận tui xin nẫu
Tui dỗi tui buồn nẫu bỏ tui
Xa nẫu ngày rày tui bị hạn
Duyên xưa không có rặc tình xui.
(Hà Giao)
Bài thơ rất rõ nét "xứ nẫu".

Đứng về mặt ngữ pháp "nẫu" là đại danh từ ngôi thứ ba tương đương với chữ "nó" "họ" "người ấy" ... Còn với chữ "Bậu" theo từ điển cũ của hai tác giả kể trên thì: Bậu (dt xưa): tiếng thân kêu vợ mình -
Bậu nói với anh
không bẻ lựu hái đào
Lựu đâu bậu bạc
đào nào bậu cầm tay.
(Ca dao)

Tiếng "Bậu" cũng là đại danh từ ngôi thứ hai tương đương với anh em - tiếng "Bậu" nghe thân thương tình tứ hơn:
Tai nghe em bậu lấy chồng
Bất tỉnh nhơn sự dậm chân kêu trời.

Có nỗi buồn nào hơn khi được tin người yêu đi lấy chồng! Buồn đến bất tỉnh nhơn sự! Phải chăng là ngã xỉu hay chết đứng như Từ Hải. Ngược lại khi em bậu từ chối lời cầu hôn của kẻ khác thì:
Tai nghe em bậu chồng hồi
Cũng tày anh ních một bầu rượu ngon.
Tâm sự của chàng giờ đây lại khác hẳn lại sung sướng như một cuộc rượu say túy lúy đầy hạnh phúc.

Trong tình yêu dù là người giàu hay người nghèo quê hay tỉnh trí thức hay bình dân đều có tâm trạng giống nhau. Khi yêu thường nhớ nhung:
Tai nghe gà gáy ó o
Lòng thương em bậu ốm o gầy mòn.
Thương yêu nhớ nhung đến gầy ốm xác ve thì có lẽ đích thị là bệnh tương tư rồi. Còn khi đã yêu nhau mà phụ nhau thì:
Bậu ra cho khỏi tay ta
Cái thân bậu nát cái da bậu mòn.
"Thương nhau lắm cắn nhau đau" là vậy. Yêu nhau mà hai người hai ngả thì:
Xa xôi chưa kịp nói năng
Từ qua đến bậu như trăng xế chiều
Trăng tàn tình tan - nhưng người trai còn nhắc:
Trâm vàng giắt chặt còn rơi
Huống chi em bậu ở đời làm sao?
Tiếng địa phương Bình Định còn khá nhiều đặc biệt chúng đã đi vào thơ ca dân gian tạo một sắc thái riêng cho tiếng địa phương Bình Định. Xin nêu vài ví dụ:
Chàu rày không gặp đặng anh
Trăm hoa cũng héo mấy nhành cũng khô.
Hoặc:
Tai nghe em bậu chồng hồi
Cũng tày anh ních một bầu rượu ngon.
Những chữ "chàu rày" "đặng" "bậu" "tày" "ních" và nhiều tiếng khác nữa mang sắc thái Bình Định rất rõ. Ôi nẫu ơi bậu ơi - thương lắm!
NGUYỄN PHÚC LIÊM

More...

THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: TỪ DI TÍCH ĐẾN DI SẢN

By Tinh Khuc Quy Nhon

THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: TỪ DI TÍCH ĐẾN DI SẢN
Về một số tượng phù điêu phát hiện ở tháp Mẫm

Nằm ở phía Bắc chùa Thập Tháp giữa suối Bàn Khê và sông Quai Vạc thuộc địa phận thôn Vạn Thuận xã Nhơn Thành huyện An Nhơn tháp Mẫm giờ chỉ còn là một gò đất um tùm xoài mít với lởm chởm gạch vụn và đất sỏi.

 

Tượng đá ở Tháp Mẫm.

Nguồn gốc và tên gọi

Gò tháp Mẫm do ông Mắm cai quản nên người dân Vạn Thuận gọi gò tháp Mẫm là gò ông Mắm. Vì thế có người lầm tưởng tên gọi tháp Mẫm là phiên âm từ  tiếng Mắm song thực tế thì vậy mà không phải vậy.

Theo bà con thôn Vạn Thuận kể lại thì gò này từ lâu đã thuộc đất vườn của nhà họ Nguyễn do ông Nguyễn Mai (đã chết) cai quản. Từ gò này ông Nguyễn Mai khai thác củi trồng cây trái thu hoa lợi để cúng giỗ từ đường họ Nguyễn - một dòng họ lớn ở thôn Vạn Thuận.

Ông Nguyễn Mai lấy bà vợ người Đập Đá làm nghề bán mắm dạo nên người ta gọi là Ông Mắm bà Mắm lâu dần thành quen. Khi bà Mắm mất ông Mai lấy vợ lẽ là bà Huỳnh Thị Hạ nay đã 82 tuổi (tính đến năm 2004) hiện giờ có nhà ở ngay  gò tháp Mẫm.

Theo lời kể của thầy Thích Mật Hạnh trụ trì chùa Tân An bà Huỳnh Thị Hạ vợ ông Mắm và nhiều cụ cao niên khác thì gò Tháp Mẫm đã có từ trước chứ không liên quan gì đến tên ông Mắm. Các cụ kể năm 1934 có một đoàn khảo cổ dùng xe máy khai quật Gò Ông Mắm lấy đi nhiều tượng đá và cổ vật quí hiếm. Sau đó người dân tiếp tục đào lấy gạch về xây nhà còn đá xanh  thì cạy về làm hòn đá mài hoặc kê ang nước. Sư thầy chùa Tân An cũng  lấy được một ít gạch về xây chùa. Còn giới sưu tầm đồ cổ thì tiếp tục lén lút đào bới tìm tượng quí.

Năm 2002 khi dùng xe cơ giới  xúc đất ở Gò tháp Mẫm làm đường bê tông người ta đã phát hiện được 2 tượng sư tử và voi - sư tử ở hai hố khác nhau mỗi tượng nặng gần hai tấn hiện được trưng bày tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định. (Xem ảnh)

 

Tượng voi- nhìn chính diện.

Những hiện vật  vô giá ([1])

Theo các tài liệu để lại thì cuộc khai quật qui mô năm 1934 1935 mà bà con thôn Vạn Thuận chứng kiến là do nhà khảo cổ học J.Y Clayes và Hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện.

Đợt khai quật này đã thu được rất nhiều hiện vật đẹp phong phú như tượng phù điêu các vị nam thần nữ thần vũ nữ tượng Drapalla tượng phật chim thần Garuda Naga sư tử voi Makara...được chạm khắc rất công phu mang tính nghệ thuật cao đem trưng bày ở Hà Nội Đà Nẵng thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng hiện có riêng một phòng tháp Mẫm trưng bày 67 hiện vật niên đại từ thế kỉ XII - XV có nguồn gốc xuất xứ từ tháp Mẫm trong đó có một số tượng nổi bật như:

Tượng thần sáng tạo Brahma một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn Độ giáo.

Brahma là thần sáng tạo một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn Độ giáo. Đôi khi  Brahma còn được xem là thần của sự thông thái.

Nghệ thuật truyền thống thể hiện Brahma ở dạng phù điêu với bốn đầu bốn tay cầm bốn vật tượng trưng. Mỗi cái đầu của thần được xem như tượng trưng cho một pho kinh Veda. Vật cưỡi của thần là chú ngỗng Hamsa. Mặc dù là một trong ba vị thần tối cao ở Ấn Độ Brahma ít được thờ cúng hơn so với hai vị thần còn lại là Vishnu và Shiva.

Tượng Gajasimha hay còn gọi là voi - sư tử là con vật thần thoại Ấn Độ. Thông thường đầu voi tượng trưng cho sự thông thái của các thần và mình sư tử thể hiện uy quyền của các vua. Năm 2002 nhân dân Nhơn Thành cũng đã tình cờ phát hiện thêm tại tháp Mẫm một tượng có hình dạng và kích thước gần giống như tượng này. 

Tượng thần Shiva vị thần phức tạp nhất và đồng thời có nhiều quyền năng nhất trong số các vị thần Ấn Độ giáo. Thông thường người ta biết đến Shiva như là vị thần hủy diệt đồng thời cũng là thần sáng tạo. Ngoài ra theo thần thoại Ấn Độ Shiva còn là vị thần của những vũ điệu (dõng chúa) thần sơn cước thần chết. Shiva được thờ cúng rộng rãi dưới hình dạng một linga.

Tác phẩm này thể hiện Siva trong tư thế ngồi xếp bằng trên mình có sợi dây rắn Naga quấn qua vai. Mặc dù phần đầu hai cánh tay phụ một phần tay phải trước và những vật cầm tay đã bị gãy vỡ tác phẩm vẫn còn rõ những chi tiết chạm trổ cầu kỳ tinh xảo thể hiện qua các đồ trang sức trên cổ tay và trang phục. Tác phẩm mang phong cách Tháp Mẫm tuy nhiên motip chuỗi ngọc trai gợi nhắc đến phong cách Mỹ Sơn A1 một ví dụ điển hình cho khuynh hướng kế thừa những chi tiết của các phong cách nghệ thuật đi trước của các tác phẩm điêu khắc Chăm.

Tượng thủy quái Makara. Theo thần thoại Ấn Độ thủy quái Makara là vật cưỡi của thần đại dương Varuna. Trong điêu khắc Chăm Makara còn được gọi là rồng thường hay được thể hiện thành một cặp đôi đối xứng nhau đặt ở lối vào các ngôi đền   giữ  gìn sự yên tĩnh tôn nghiêm cho nơi thờ cúng trú ngụ của các vị thần linh. Tác phẩm Makara ở tháp Mẫm này là một tượng tròn ở tư thế nằm được cách điệu với sự pha trộn nhiều chi tiết của nhiều con vật khác nhau hai chân trước cùng đầu vươn cao lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ.

 
 
 
Tượng sư tử-nhìn chính diện.

Tượng Garuda có mình người mỏ và cánh của chim nhưng đầu và chân lại giống sư tử. Chim đứng xòe cánh tay phải cầm một con rắn  hai đầu miệng ngậm đuôi rắn chân phải đạp lên một đầu rắn khác.         

Tượng Rồng được thể hiện ở dạng tượng tròn tư thế nằm hai chân trước đặt hướng về trước   hai chân sau đưa ngược lên về sau tạo nên dáng vẻ rất ngộ nghĩnh. Chiếc vòng lục lạc đeo ở cổ khắc họa thêm nét sinh động vui tươi. Đầu rồng có vẻ chưa tương xứng với toàn bộ bố cục tác phẩm. Các chi tiết tinh xảo trên mình đầu và đuôi rồng là sự kết hợp của nhiều con vật khác nhau. Toàn bộ tác phẩm thể hiện sự khéo léo óc sáng tạo và tính hài hước của các nghệ sĩ Chăm.

Thông thường rồng được thể hiện thành một cặp đôi đặt song song trước lối ra vào của tháp Chăm. Hiện vật còn lại cùng cặp với hiện vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Guimet ở Paris.

Trong số các tượng phù điêu mang phong cách tháp Mẫm còn có hai tác phẩm khá độc đáo là phù điêu thần Siva bốn tay và tượng chim thần Garuda.

Phù điêu thần Siva 4 tay hiện được trưng bày ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là một trong những tác phẩm đẹp. Ở đây thần Siva ngồi trong tư thế hai chân chùng xuống hai cánh tay của thần đưa lên đầu trong tư thế rất đặc biệt. Đầu đội miện có gắn những hạt cườm chạy quanh trên đỉnh miện. Giữa trán có đính huệ nhãn - đó là con mắt thứ ba để thần nhìn thấu suốt về cuộc sống hiện tại và tương lai. Hai hàng lông mày của thần được kéo dài từ tâm trán đến vành tai hai tai chảy dài đến cằm và đeo những vòng trang sức đặc biệt cổ thần Siva đeo cườm nổi. Hai tay còn lại của thần tay trái cầm cây đinh ba có cán tay phải cầm một thanh kiếm. Cổ tay và hai cánh tay cũng được trang trí nhiều vòng ngọc quí.

Quanh bụng thần Siva đeo một vòng cườm phần dưới có đeo một dây thắt lưng và mặc sampot chảy dài từ bụng đến gót chân giống hình chiếc lưỡi uốn cong. Đây là đặc trưng trang phục trong điêu khắc tháp Mẫm. Trên sampot được trang trí những hoa văn hình tam giác và hình zich - zắc loại hoa văn này ngày nay vẫn còn lưu lại trên vải dệt của một số dân tộc ít người ở Cao Nguyên miền Trung Việt Nam. Phía sau lưng thần là một tấm dựa lưng được trang trí theo hình ngọn lửa đây là một bố cục mới lạ trong nền điêu khắc Chămpa mà trước đó chưa hề thấy xuất hiện. Tác phẩm này có niên đại thế kỷ XII.

Phù điêu thần Siva có 4 tay đang trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng là một trong những tác phẩm đẹp và có giá trị góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa mang phong cách tháp Mẫm - đó là giai đoạn mà nền điêu khắc Chămpa đạt đến trình độ cao trong cách tả thực.

Tượng chim thần Garuda còn có một tiêu bản khác khá đẹp (xem ảnh) được chạm khắc trong tư thế đứng cao 0 96m hai tay giơ lên nắm chặt hai rắn Naga để lộ hai bàn tay mạnh mẽ dứt khoát mặt nhìn thẳng về phía trước trên đầu trang trí ba chuỗi cườm nổi vòng qua trán chạy dài đến cổ. Trán chia đôi bởi một gờ nổi bổ dọc từ đỉnh đầu xuống cổ nhô cao hai mắt tròn mở to để lộ sống mũi cao.

Cách thể hiện chim thần Garuda mang phong cách Bình Định khác với Garuda ở Trà Kiệu đó là hoa văn trang trí cầu kỳ hoa nhiều cánh có những hình xoắn móc dây lưng thường đính những hạt viền tròn cách điệu cao giống như một con thú. Còn phong cách Trà Kiệu là loài có lông vũ hình thức thể hiện mũ hay niệm trên đầu là những hình lá đề xếp thành từng tầng.

 
Tượng chim  

Định hình một phong cách đặc trưng của vùng miền

Rõ ràng với tượng chim thần Garuda phù điêu thần Siva và một loạt tượng phù điêu khai quật được ở tháp Mẫm đã minh chứng một cách thuyết phục rằng  nghệ thuật điêu khắc đá của người Chămpa xưa trên đất Bình Định đã đạt đến đỉnh cao và mang một phong cách riêng. Phong cách ấy được các nhà nghiên cứu gọi là phong cách tháp Mẫm đại diện cho khuynh hướng thẩm mỹ và phong cách tháp của cả tỉnh Bình Định không thua kém gì với phong cách tháp Po-na-ga Khánh Hòa.

Hiện nay các tiêu bản chim thần Garuda mang phong cách Bình Định có một số được bảo quản tại các di tích tháp Chăm ở Bình Định và Bảo tàng Bình Định một số khác đang được lưu giữ ở Bản tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội Bảo tàng lịch sử tại TP. Hồ Chí Minh và Bảo Tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Mặc dù tháp Mẫm đã phế tích từ khi nào và lý do ra sao chưa ai giải thích được song qua những gì mà các nhà khảo cổ phát hiện được họ đã xếp tháp Mẫm thuộc niên đại từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII và là tháp đại diện cho khuynh hướng thẩm mỹ và phong cách tháp Bình Định gọi là phong cách tháp Mẫm song hành cùng phong cách tháp Po-na-ga Khánh Hòa.

Ngày nay đường lên gò tháp Mẫm khá thuận lợi nhờ nó nằm gần QL 1A và có đường bê tông bằng phẳng rộng lớn.

Cạnh gò tháp Mẫm còn có chùa Tân An do thầy Phước Huệ lập năm Tự Đức thứ 13. Đây là một trong nhiều chi phái của chùa Thập Tháp. Hiện chùa do thầy Thích Mật Hạnh (sinh 1919) quê ở Đập Đá trụ trì. Chùa xoay mặt hướng Đông lưng gối đầu lên hướng gò tháp Mẫm với đầy vẻ thâm nghiêm u tịch.

Đặc biệt trong các xóm ven chùa ven tháp Mẫm hiện còn một số nhà lá mái giữ đầy đủ phong cách nhà lá mái Bình Định như nhà ông Nguyễn Cao  Đệ Nguyễn Hữu Nguyện hoặc nhà ông Lưu ông Đáng... với nhiều đồ thờ cổ giá trị phong phú và sân vườn cây cảnh khá đẹp.

Nếu biết trùng tu khai thác thì Chùa Thập Tháp gò tháp Mẫm chùa Tân An nhà lá mái... ở riêng thôn Vạn Thuận sẽ làm nên tuyến tham quan nhiều ý nghĩa cho khách thập phương.

  • Mai Thìn

More...

Thành phố êm đềm…

By Tinh Khuc Quy Nhon

Thành phố êm đềm...

Với bài hát "Quy Nhơn thành phố thi ca" nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha không chỉ tôn vinh danh hiệu "thi ca" mà còn "định tính" xúc cảm "bình yên" "êm đềm"... cho thành phố biển xinh đẹp này qua câu hát "Quy Nhơn thành phố bình yên thành phố êm đềm và thành phố... như em."! Quả thật quá nửa đời người sống ở đây tôi cũng chẳng có cảm nhận nào khác hơn là sự "bình yên" và "êm đềm" cho thành phố của tôi. Dẫu rằng trong dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng tỉnh nhà ngày 31.3 tới đây tỉnh sẽ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh

Một góc Quy Nhơn.


* "Quy Nhơn gầy"

Tôi sinh ra bên dãy Sơn Triều cách thành phố Quy Nhơn chừng 20 cây số về hướng Tây. Tuổi ấu thơ của tôi ở vào thời đất nước chia cắt nên Quy Nhơn trong ký ức là một khoảng cách dịu vợi. Xa xôi về địa lý và cách sống cách cảm. Cha tôi làm cai thầu chẻ đá ông hay đi Quy Nhơn và thường mang về nguyên cả con cá ngừ. Đó là những ngày ấu thơ tươi đẹp bởi khi tôi lên bảy tuổi ông đã không còn. Mẹ lam lũ nuôi đàn con bốn đứa. Đường về Quy Nhơn của tôi chỉ còn là những dịp đi chữa bệnh! Song những lần hiếm hoi ấy tôi cũng kịp ghi vào ký ức của  mình một Quy Nhơn phố thị bụi mù những cửa hiệu sáng choang điện màu những trại lính lổn nhổn thép gai và dĩ nhiên là chiếc xe lam ba bánh chở người như nêm cối vắt vẻo những rổi cá phía sau thùng...

Thời ấy lứa chúng tôi hay lẩm nhẩm câu "Tìm về cô đơn đất Quy Nhơn gầy đón chân chàng đến" trong bài hát "Hàn Mặc Tử" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Cũng chẳng hiểu "Quy Nhơn gầy" là như thế nào? Tôi lớn lên cùng sách vở lấm lem lọ than và bùn đất của núi rừng đồng bãi và được trở về cùng phố thị Quy Nhơn năm 1985 khi đã hoàn thành chương trình đại học. Cả một quãng đời thanh niên nhiệt huyết sẻ chia cùng đất nước những khó khăn của "đêm trước đổi mới" Quy Nhơn đã trở nên gần gũi và máu thịt trong tôi tự bao giờ. Phố thị nhỏ bé sau năm 1975 vỏn vẹn 60 đường phố và 12 cây số vuông nội thành 10 năm sau cũng chẳng được mở rộng thêm lên là mấy! Lúc này tôi mới lờ mờ hiểu khái niệm "Quy Nhơn gầy" của nhạc sĩ Võ Thiện Thanh.

 

Biển Quy Nhơn.

Sống 5 năm trong khu tập thể ở phố Trần Hưng Đạo gần bến xe liên tỉnh tôi đã hiểu đến tận cùng những phức tạp của cuộc sống thị dân chứng kiến đủ các thứ tệ nạn tồn tại ở những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước và cả những hình ảnh yên bình không nơi nào có được... Song sự phát triển của thành phố thì không dừng lại bao giờ. Quy Nhơn nới lên hướng núi Bà Hỏa rồi chuyển trung tâm về khu Sân bay san lấp đầm mở ra khu dân cư Đống Đa di dời nghĩa trang mở rộng khu Trại Gà... Số cán bộ viên chức chúng tôi có cơ hội thoát dần ra những ngôi nhà tập thể tối tăm chật hẹp... Tôi chuyển về ở nơi làng hoa Xuân Quang dưới chân núi Bà Hỏa.

Ngày 18.6.1986 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định nâng cấp và mở rộng thị xã Quy Nhơn lên thành phố thuộc tỉnh.

Ngày 4.7.1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 558/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 2.

Ngày 25.1.2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh.

Thành phố cứ lớn dần lên rộn rã dần lên cùng những công trình mới. Khái niệm "đất Quy Nhơn gầy" càng trở nên khó hiểu!

Hình như ở tỉnh này mỗi một vị lãnh đạo cao nhất tỉnh đều nỗ lực để lại một công trình ghi dấu ấn mình. Và vì thế TP Quy Nhơn luôn được sự quan tâm lớn. Có công trình mở rộng cửa ngõ đi vào thành phố lại có công trình mở ra đường lớn Quy Nhơn - Sông Cầu và công trình mở lối đi vào khu kinh tế... Các công trình đều được thực hiện bằng nhiệt huyết sục sôi của lãnh đạo. Điều đó người đời sau sẽ ghi công!

* Thành phố bình yên

Quy Nhơn có núi có biển có đầm có hồ và có cả danh lam thắng cảnh ngay trong nội thành được coi là một thành phố biển sở hữu những nét đặc trưng độc đáo. Tôi có đông bạn bè. Một lần về thăm Quy Nhơn là một lần họ biểu lộ những xúc cảm chân thành. Nhà thơ Bế Kiến Quốc gọi màu nắng Quy Nhơn là màu nước mía; còn cô bạn Miên Khánh người Hà Nội một lần thăm Ghềønh Ráng đã xuýt xoa trên báo: "Hẳn không ai đến Ghềnh Ráng thăm bãi tắm Hoàng Hậu mà không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp nơi này. Dẫu không phải lần đầu ghé lại tôi vẫn ngồi hàng giờ ngắm mặt biển xanh lấp lánh trải dài trước mặt háo hức đợi những đợt sóng lăn tăn trong vắt xô nhẹ vỡ òa trên bãi đá cuội. Để rồi chợt thấy nuối tiếc bẽ bàng như một kẻ có lỗi khi không thể là thi sĩ viết nên những vần thơ nói hộ lòng mình. Cảm ơn Quy Nhơn!...".

 

Đường Xuân Diệu.

Biển núi hoa lá và cả con người hòa quyện làm nên sự êm đềm của thành phố Quy Nhơn. Song sự "bình yên" "êm đềm" còn biểu lộ một xúc cảm khác: sự hướng nội sự chậm rãi trái ngược với nhịp điệu của những thành phố năng động. Có lẽ vì thế chăng mà khá nhiều các dự án "đòn bẩy" của thành phố vẫn cứ nằm bình yên đâu đó đợi thời như: dự án khu du lịch hồ Phú Hòa dự án khu du lịch Hải Giang... hay như tốc độ thực hiện đề án cho khu du lịch Ghềnh Ráng cũng cứ rỉ rả cầm chừng...

Những thành tựu của thành phố Quy Nhơn:

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm trong 5 năm qua là: 13 18%; GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 26 9 triệu đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: CN&XD 50 16% - DV 44 02% - nông lâm thủy sản 5 82%.

Ngày 31.3 tới đây Quy Nhơn tròn 35 năm giải phóng. Trong buổi lễ mít-tinh trọng thể lãnh đạo tỉnh sẽ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh sau gần 12 năm phấn đấu ở bậc đô thị loại 2 dù rằng thành phố vẫn còn một số chỉ tiêu phải phấn đấu như: quy mô dân số mật độ đường trong khu vực nội thị tỉ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý khu đô thị mới kiểu mẫu... Ở cấp đô thị mới này chất lượng cuộc sống mà người dân được thụ hưởng chắc chắn sẽ cao hơn do những yêu cầu phải đạt tới. Thêm một điều đáng mừng nữa là những động thái mới của lãnh đạo tỉnh về việc thu nạp những ý tưởng quy hoạch phát triển thành phố trong tương lai. Trong quý 2 này dự kiến Khu du lịch ốc đảo Mũi Tấn và Khu đô thị xanh Vũng Chua do Công ty TNHH đầu tư và xây dựng Kim Cúc làm chủ đầu tư sẽ khởi động. Diện mạo Quy Nhơn sẽ sáng sủa hơn.

Đón nhận niềm vui thành phố lên đô thị loại 1 Chủ tịch UBND thành phố Thái Ngọc Bích xác định: "Quỹ đất còn lại của thành phố không nhiều chúng tôi sẽ tiếp tục quy hoạch đô thị theo đúng kiểu mẫu xây dựng mới ở những vùng ngoại thành; tập trung quy hoạch hệ thống giao thông theo hướng chống ùn tắc trong tương lai và không để xe tải vào trung tâm thành phố; tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật cấp thoát nước chiếu sáng vỉa hè...; phát triển các ngành dịch vụ của thành phố đặc biệt là dịch vụ cảng biển du lịch khu vui chơi giải trí...".

 

Một góc KCN Phú Tài.

* Vĩ thanh

Có lẽ vì quá yêu nơi sinh sống của mình mà tôi đã không nhận ra những "khuyết tật" ở thành phố của tôi. Bạn tôi người Huế một lần thăm Quy Nhơn nhận xét: "Nếu so sánh về nhịp điệu sống có lẽ thành phố Huế gần gũi với Quy Nhơn song vỉa hè ở Huế thực sự là của công cộng chứ không phải đã được xí phần đến mức còn trưng biển "cấm để xe"; con đường Xuân Diệu đẹp là thế dải cây xanh tuyệt vời là thế là để du khách nhìn ngắm chứ không phải để những người gần nhà ra mắc võng thậm chí phơi phóng áo quần... Đó là hành vi ứng xử của cư dân còn nữa là sự nghèo nàn về các dịch vụ giải trí!!!".

Có lẽ bạn tôi đã đúng. Thành phố đã được nâng tầm mỗi một cư dân đô thị loại 1 cũng cần "nâng cấp" mình lên!

  • Bài: Quang Khanh
  • Ảnh: Đào Tiến Đạt

More...

Quy Nhơn- Hướng đến thành phố du lịch

By Tinh Khuc Quy Nhon

Quy Nhơn- Hướng đến thành phố du lịch

Thủ tướng Chính phủ vừa Quyết định công nhận TP Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh. Đây là tiền đề quan trọng để Quy Nhơn tạo sự phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội theo hướng văn minh hiện đại; khai thác các lợi thế phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng vốn có.
Dong lai
Du khách tham quan nhà lưu niệm nhà thơ Hàn Mạc Tử.  Ảnh: Văn Lưu

* Du lịch- tiềm năng đa dạng phong phú

TP Quy Nhơn hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển mạnh ngành "công nghiệp không khói". TP có địa hình cảnh quan hết sức đa dạng độc đáo như biển đảo bán đảo đầm phá cồn bãi sông hồ núi rừng gò đồi đồng ruộng ... tạo nên bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà ít thành phố nào có được. Bờ biển Quy Nhơn có nhiều thắng cảnh và bãi tắm đẹp có thể khai thác tổ chức nhiều loại hình du lịch biển hấp dẫn. Bán đảo Phương Mai - núi Bà - đầm Thị Nại được đánh giá là "mỏ vàng" của du lịch tỉnh nhà. Tại đây chúng ta có thể khai thác phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như: tắm biển nghỉ dưỡng thể thao biển sinh thái rừng ngập mặn và thưởng thức nhiều loại hải sản ngon. Ngoài ra vùng biển Quy Nhơn còn có hệ sinh vật biển hết sức phong phú đa dạng với nhiều loại hải sản quý có giá trị kinh tế cao. Từ lâu hải sản Quy Nhơn nổi tiếng là ngon - tươi - rẻ. Một lợi thế tạo nên nét khác biệt và so sánh với các trung tâm du lịch trong khu vực là vùng đất Quy Nhơn - Bình Định có một bản sắc đặc trưng rất riêng về trầm tích lịch sử - văn hóa được mệnh danh là "đất võ trời văn" gắn với tên tuổi của nhiều danh nhân văn hóa anh hùng dân tộc và nhiều di sản di tích danh thắng nổi tiếng...

Một lợi thế không nhỏ cho hoạt động du lịch của TP biển Quy Nhơn là hệ thống giao thông tương đối thuận lợi liên hoàn bao gồm cả đường bộ đường sắt đường hàng không và đặc biệt là đường biển. Cảng Quy Nhơn là một trong những cảng biển lớn của cả nước đủ khả năng đón các tàu du lịch cỡ lớn. Thời gian qua cảng Quy Nhơn đã đón nhiều tàu du lịch và đưa hàng ngàn du khách quốc tế lên bờ để tham quan các di tích danh thắng nổi tiếng trong tỉnh. Bên cạnh đó việc đầu tư xây dựng mới nhà ga sân bay tăng tần suất các chuyến bay và đưa vào hoạt động đường bay thẳng Hà Nội - Quy Nhơn đã đem lại hiệu quả rõ rệt cho hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó trong những năm gần đây tỉnh cũng đã đầu tư xây dựng mới nhiều tuyến đường mang tính chiến lược đem lại lợi ích nhiều mặt cho kinh tế - xã hội và có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành du lịch như tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội... Đặc biệt tỉnh đã đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị TP Quy Nhơn nhằm khai thác tối đa lợi thế về du lịch biển. Trong đó đáng chú ý việc xây dựng tuyến đường Xuân Diệu đã mở toang "mặt tiền" và đưa Quy Nhơn quay mặt về phía biển TP trở nên sạch đẹp và hấp dẫn du khách hơn. Đặc biệt một loạt các khu du lịch khách sạn cao cấp đã được đưa vào khai thác như: Life resort (Bãi Dài) resort Hoàng Anh - Quy Nhơn khách sạn Sài Gòn - Quy Nhơn Hải Âu... đã đem lại bộ mặt và tầm vóc mới cho du lịch tỉnh nhà.

 Dong lai
Du khách vui chơi giải trí tại Bãi tắm Hoàng Hậu (Quy Nhơn).Ảnh: Văn Lưu

* Nhưng vẫn... chưa hấp dẫn

Quy Nhơn đang trên đà phát triển mạnh ngành dịch vụ du lịch và hướng tới trở thành một trong những trung tâm du lịch biển hấp dẫn của khu vực miền Trung và cả nước. Các chỉ số quan trọng của ngành du lịch tỉnh và thành phố trong những năm qua luôn hết sức ấn tượng. Tuy nhiên hoạt động du lịch của TP Quy Nhơn vẫn còn có những hạn chế nhất định như: sản phẩm du lịch còn sơ sài đầu tư phát triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng tiến độ triển khai các dự án phát triển du lịch còn chậm... Vì vậy du lịch thành phố vẫn chưa tạo ra những sản phẩm hấp dẫn độc đáo có chất lượng cao nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chủ yếu tập trung vào lĩnh vực lưu trú trong khi đó các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn còn thiếu hoặc còn đang trong giai đoạn đầu tư nên chưa tạo được các điểm nhấn sức hút đối với du khách.

Để xây dựng và phát triển Quy Nhơn trở thành đô thị loại I và định hướng trở thành thành phố du lịch cần tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch thiết yếu nhất là ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường biển các dự án du lịch các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn để tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch chỉnh trang đô thị và xây dựng thành phố theo hướng xanh - sạch - đẹp hướng về phía biển. Những lô "đất vàng" có vị trí đẹp cần ưu tiên dành cho phát triển du lịch. Tiếp tục duy trì tổ chức các sự kiện văn hóa - du lịch lớn như: Festival Tây Sơn - Bình Định Liên hoan quốc tế võ cổ truyền... nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn mang tính đặc trưng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng du khách.

du lịch Quy Nhơn - Bình Định đang đứng trước thời cơ lớn để tăng tốc phát triển thành một ngành kinh tế quan trọng và là "điểm đến" hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.

  • Nguyễn Đình Hoãn

More...

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn: Ngày xuân kể chuyện văn nghệ sĩ bằng câu đối

By Tinh Khuc Quy Nhon

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn:
Ngày xuân kể chuyện văn nghệ sĩ bằng câu đối


Ngoài các công trình rất giá trị về Đào Tấn và hát bội Bình Định sướng lên ông cũng viết tặng bạn bè câu đối. Nhân ngày xuân xin lai rai kể một số câu đối hy vọng đem lại chút tình xuân của quý độc giả khi nghe nhắc đến mấy tên tuổi văn nghệ bằng hai câu của Vũ tiên sinh...

1. Xin bắt đầu bằng nhà thơ Lưu Trọng Lư:

- Lãng sĩ ban đầu vũ trụ nhược hữu kỳ sinh ư Trung danh ư Bắc quy ư Nam nẵng nhựt luận nhân tình ngã đẳng thanh đăng tằng túc ước

- Giang hồ khôi thủ trần hoàn hà túc vấn hứng nhi văn muộn nhi thi nộ nhi kịch kim triêu lai tưởng niệm mộ tiền hoàng lộc cánh mang nhiên.

Dịch nghĩa: Lãng tử số một như cuộc đời định sẵn sinh ở Trung nên danh ở Bắc về với đất ở Nam ngày trước bàn chuyện nhân tình bên ngọn đèn xanh bọn ta có hẹn nhau/ Giang hồ vẫn đứng đầu cuộc đời cần gì hỏi (tốt xấu) hứng thì viết văn buồn thì làm thơ giận thì viết kịch nay tôi đến tưởng niệm anh trước mộ con nai vàng càng ngơ ngác hơn.

Sinh thời Lưu Trọng Lư là người có tiếng giang hồ lãng tử. Ông đa tài cả văn thơ kịch. Bài thơ "Tiếng thu" nổi tiếng của ông đã nhiều giấy mực bình khen. Bài thơ lặng lẽ góp phần cho chiến thắng của Thơ Mới bấy giờ. Nhắc tới ông người ta thường nhớ tới hình ảnh con nai vàng rất gợi và sâu: "Em không nghe mùa thu/ Lá thu rơi xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp lên lá vàng khô". Vũ tiên sinh đã cùng ông "nẵng nhựt luận nhân tình" rồi cùng tâm đắc "trần hoàn hà túc vấn" giờ con nai vàng nổi tiếng đã yên nghỉ người còn lại cúi đầu tưởng niệm mà thấy "mộ tiền hoàng lộc cánh mang nhiên". Ngơ ngác vì mất bạn hay với cuộc đời?

2.Với nhà thơ Nguyễn Hoài Văn câu đối của Vũ tiên sinh vừa hóm vừa sâu sắc:

- Hà tất vấn phong lưu năng ẩm năng ca tửu sắc ngọc giao Vũ Ngọc Liễn

- Mạc sầu vô tri kỷ thả ngâm thả thướng thi thư hoài bão Nguyễn Hoài Văn.

Dịch nghĩa: Việc gì phải hỏi mình có phong lưu không thường uống rượu và ca hát rượu ngon nhan sắc là bạn quý của Vũ Ngọc Liễn/ Đừng buồn vì thiếu tri kỷ cứ ngâm ngợi và  thưởng thức thi phú là ước vọng của Nguyễn Hoài Văn.

Mai Đình Nguyễn Hoài Văn (1916-2003) là tác giả các tập thơ Giọt nắng thu-1970 Nhánh đêm gầy- 1973 Vườn mộng-1989 Vân sơn bán mộng (thơ chữ Hán- 2000) và còn 4 tập bản thảo nữa chưa kịp xuất bản. Thơ ông âm điệu ngôn ngữ đẹp và cũ kiểu "Mây bay bèo dạt chân cầu/ Nghe trong da thịt rợn sầu tương lai/ Giờ đây trên bước thu dài/ Nhánh đêm gầy với nhánh đời hoang vu". Bạn thơ trẻ giờ thường chuộng những tìm tòi cách tân nên dù ông yêu thơ làm thơ từ lâu họ đến với ông yêu kính bậc trưởng thượng hơn là chia sẻ thi phú. Ông buồn tâm sự với bạn Vũ. Vậy là có câu đối trên. Cái hóm của câu đối này ở chỗ vừa đúng người đúng việc (Vũ cũng từng là diễn viên Đoàn tuồng Liên Khu V trước khi đi học thành nhà nghiên cứu nên "năng ẩm năng ca" còn Hoài Văn thì quả là "thi thư hoài bão") nhưng Vũ "dành trọn" phần rượu ngon và nhan sắc "nhường" Văn hoài bão mơ hồ chuyện thi thơ cái việc ngàn vạn người xưa nay mấy ai còn lại với hậu thế. Nhưng câu đối không chỉ đùa vui. "Hà tất vấn phong lưu" "Mạc sầu vô tri kỷ" đã chạm thấu tới điều sâu thắm của nỗi u hoài nhân thế!

3. Thi sĩ Yến Lan lại là cuộc chia sẻ sâu xa giữa vinh quang và cay đắng của việc dấn thân nghề cầm bút:

- Nẫm niên dư bắc thượng nam quy tứ hữu thi đàn do lưu văn nghệ sử

- Thất tuần ngoại triêu ngâm mộ vịnh nhứt sinh hoa bút trường thán nguyệt vân thiên.

Dịch nghĩa: Hơn 30 năm ra Bắc về Nam bốn người bạn thân cùng góp mặt vào văn nghệ sử/ Ngoài bảy mươi sáng ngâm chiều vịnh cây bút hay trong đời cũng ngửa mặt than dài với mây trăng.

Nhà thơ Yến Lan vốn là một trong Tứ Linh (long lân quy phụng) của Bàn Thành Tứ Hữu cùng với Hàn Mặc Tử Quách Tấn Chế Lan Viên tạo nên một "Trường thơ Bình Định" và sau thêm Bích Khê Hoàng Diệp... dần thành "Trường thơ loạn" sừng sững trên thi đàn. Thời này người ta nhớ tới Yến Lan với các trứ tác hay đến từng chữ: "Bến My Lăng" "Bình Định năm 1935"... Riêng "Bến My Lăng" ông đã mặc định một bến thơ huyền thoại với ánh trăng vàng diễm ảo trong hồn người yêu thơ các thế hệ. Dù có "do lưu văn nghệ sử" nhà thơ tài hoa này cũng "trường thán nguyệt vân thiên". Ý tứ sâu xa này không hẳn chỉ nhắc tới tai nạn chữ nghĩa Yến Lan từng vướng mấy chục năm trước. Nó như cái bất lực tất yếu của văn nghệ sĩ mọi thời.

4. Với NSƯT Hoàng Chinh một trong "tứ đại danh ca" của hát bội Bình Định câu đối lại độc đáo ở khía cạnh khác:

- Hồi thủ bất thăng bi vạn kim bửu kiếm tàng thu thuỷ

- Tiêu hồn duy hữu biệt mỗi niệm lương nhân thống ngã hoài.

Dịch nghĩa: Ngoảnh đầu nhìn lại buồn khôn tả gươm báu ngàn vàng đã ẩn dưới làn nước mùa thu/ Nỗi đau lớn tử biệt mỗi lần nghĩ đến người bạn quý lòng tôi đau đớn lắm.

Câu đối này Vũ tiên sinh viếng NSƯT Hoàng Chinh một trong "Tứ đại danh ca" của hát bội Bình Định. Cái hay ở chỗ câu đối dùng toàn lời các câu hát của những vở hát bội trứ danh trong những đêm diễn thâu canh ở Bình Định. Câu đầu ở Địch Thanh Tân Dã đồn câu sau là lời Lan Anh trong Hộ Sanh Đàn. Mượn nỗi buồn của Lưu Bị tiễn Từ Thứ rời Thục về Tào vì mẹ mà ví với "bửu kiếm tàng thu thuỷ" sao mà hợp cảnh NS Hoàng Chinh qua đời cũng vào mùa thu câu sau là nỗi lòng người còn lại. Với một tài danh như Hoàng Chinh việc chọn lời tuồng tích sâu sắc để viếng tặng tôn vinh là sát hợp và có lẽ chỉ Vũ mới làm được bởi vì trước khi thành nhà nghiên cứu ông cũng là một diễn viên hát diễn của hát bội Bình Định.

5. Đây là câu đối viếng soạn giả cải lương Vĩnh Điền:

- Tuyệt tác ngâm thành vị cập trùng quan tinh đẩu lạc

- Khô kỳ hạ tận hốt nhiên nhứt mộng hải thiên không.

Dịch nghĩa: Vở kịch cuối vừa xong chưa kịp xem thì trăng sao rơi rụng/ Gỡ được ván cờ tàn thì bỗng nhiên như giấc mộng trời biển trống vắng.

Đây là câu đối viếng soạn giả cải lương Vĩnh Điền chắt rể của Đào Tấn. Ông là tác giả cùng thời với Ngọc Linh Hà Triều Hoa Phượng... Sau năm 1975 với danh nghĩa cán bộ chuyên trách về Đào Tấn của Bộ Văn Hoá Vũ Ngọc Liễn nhiều lần vào nhà bà Chi Tiên con gái út Đào Công để sưu tầm các tư liệu. và quen thân vợ chồng Vĩnh Điền đang ở đây phụng dưỡng bà. Sau này khi bà qua đời cuộc sống của gia đình soạn giả này càng lúc càng khó khăn: cải lương không còn thịnh như trước năm 1975 gia đình Vĩnh Điền đã bán ngôi nhà trên đường Võ Duy Nghi này mua lại một ngôi nhà nhỏ hơn ở đường Đồng Khởi một phần tiền còn lại gửi ngân hàng tháng tháng có ít lãi suất. Coi cũng như tạm ổn chuyện căng thẳng cơm áo. Cùng lúc này ông vừa viết xong vở cải lương đề tài Tây Sơn. Vì nhiều lẽ vở diễn do Nhà hát Trần Hữu Trang dàn dựng cứ sửa đi sửa lại và ông đã không kịp xem tác phẩm của mình. Hiểu hết hoàn cảnh này của soạn giả Vĩnh Điền có mặt ngay lễ tang ông nhà văn Sơn Nam đã nói với Vũ Ngọc Liễn rằng "Câu đối viếng của anh hay quá! " Khô kỳ hạ tận..." không hẳn ván cờ bí trong đời đâu dễ gỡ...

6. Câu đối dành cho nhà khảo cổ học Diệp Đình Hoa có vẻ vui vui bè bạn:

- Ngã môn đồng tuế hựu đồng hương tứ thập niên tiền đồng thị Bắc Kinh lưu học sĩ

- Thế cuộc phiên phong hoàn phiên vũ thất dư tuần hậu phiên thành Hà Nội thác cư ông.

Dịch nghĩa: Chúng ta cùng tuổi lại cùng quê bốn mươi năm trước cùng đi học ở Bắc Kinh/ Cuộc thế gió đó rồi mưa đó ngoài bảy mươi bạn lại thành ông già ở trọ đất Hà thành.

Nhà khảo cổ học Diệp Đình Hoa người Vĩnh Thạnh Bình Định cùng đi học Bắc Kinh với Vũ tiên sinh. Ông Diệp có nhiều công trình giá trị về khảo cổ biên khảo. Câu này ông Vũ lỡm bạn rằng dù thành danh cỡ nào Diệp cũng chỉ là ông già ở trọ đất Hà Thành trong sự "phiên phong hoàn phiên vũ". Vũ về với Bình Định và "làm dóc" với bạn thôi nhưng cuộc thế gió đó rồi mưa đó cũng không hời hợt chút nào.

7. Với nhà thơ Thanh Thảo:

- Hoa bút mỗi huy châu cơ mãn chỉ

- Tiết lâu kiến lập bằng hữu hân nhiên.

Dịch nghĩa: Mỗi lần vung bút châu ngọc đầy trang giấy/ Lầu tiết tháo dựng được bạn bè vui mừng lắm.

Đây là câu đối Vũ Ngọc Liễn mừng nhà thơ Thanh Thảo xây được nhà. Cũng là lời ngợi khen sự thán phục của Vũ dành cho người bạn nhỏ tuổi hơn sau 10 năm quen thân nhau ở Quy Nhơn. Vũ khen phục thơ Thanh Thảo nhưng trên hết khí tiết nhà thơ này mới là sự lớn. Vũ nói hộ nhiều người quen và chưa quen Thanh Thảo nhưng từ lâu đã mến mộ nhà thơ không riêng chuyện chữ nghĩa...

8. Với một nhà quản lý đương chức yêu và tin Vũ tiên sinh có cách dành tặng rất riêng:

- Hảo dã Văn Trọng Hùng muộn nhi thi nộ nhi kịch

- Truy tuỳ cổ nhân chí tiến tận chức thoái tận tâm.

Dịch nghĩa: Khá lắm Văn Trọng Hùng buồn thì làm thơ giận thì viết kịch/ Noi theo cái chí người xưa tiến thì làm tròn chức phận về thì trọn tấm lòng với đời.

Viết tặng nhà thơ kịch tác gia Văn Trọng Hùng Vũ tiên sinh có dùng lại ý "muộn nhi thi nộ nhi kịch" khi viết cho Lưu Trọng Lư. Có thể nói chất muộn nộ trong thơ kịch Văn Trọng Hùng còn sát hợp hơn. Nhưng chữ "hảo dã" khen tặng không hẳn chỉ dành cho chuyện thơ kịch. Tắc giả này đang là một cán bộ quản lý ngành văn hoá. Khi Vũ hạ bút tiến tận chức thoái tận tâm ông đã tin một quan chức tốt lại thêm ý ký thác nhắn gửi. Một người yêu ghét rạch ròi như ông đã trải qua bao yêu giận như ông chuyện ký thác tin yêu dành cho một bạn trẻ đương chức cũng là sự hiếm.

- Sinh hoạt kháo gia trù đản năng thưởng cổ kim giai thư hảo hoạ

- Tâm trường vô tục khí phương khả du thiên hạ danh sơn đại xuyên.

Dịch nghĩa: Đời sống dựa vào cái bếp nhà nhưng cũng thường được thưởng thức sách hay tranh đẹp/ Lòng ruột không có khí tục tiện cho việc đi đây đó chiêm ngưỡng cánh đẹp trong thiên hạ.

Tôi muốn kết chuyện kể bằng câu đối ông dành "tặng" cho mình. Sao không ông cũng là một "nhân vật" lừng lững đó thôi. Nhân vật hàng đầu trong nghiên cứu sân khấu truyền thống và nhất là với những đóng góp về danh nhân Đào Tấn và hát bội một đời dành cho cuộc phục dựng kịp thời các giá trị văn hoá quý này của dân tộc trước sau ông vẫn là nhà chuyên môn nhà khoa học không ham quyền chức không sợ uy vũ. Ông tặng mình mấy chữ tâm trường vô tục khí vừa khí chất vừa tự tin đến cao ngạo. Biết làm sao được khi mà các thứ "tâm" nhân danh cứ nhan nhản trong đời!

Cũng khó trước bao cám dỗ trước bao mồi danh lợi nhưng nếu sống trong đời ngay thẳng chính trực thì dù có "xì vấy xì vá"  (chữ trong một vở hát bội) chắc rằng cũng vô tục khí! À quên vì là ngày xuân xin sửa lại nếu lòng dạ tốt độ lượng với đời dẫu... có dĩ lỡ gì chắc cũng là thanh khí...

  • Lê Hoài Lương

More...

Ngọc Trản: Bài quyền tiêu biểu của võ Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Ngọc Trản: Bài quyền tiêu biểu của võ Bình Định

Bài quyền Ngọc Trản đã được võ sư Phi Long Vịnh (Tuy Phước) mang sang Châu Âu biểu diễn trước bạn bè quốc tế. Vì sao Ngọc Trản quyền được xem là hội đủ các yếu tố có tính cơ bản và là một trong những bài mang tính chính thống tiêu biểu của võ Bình Định?

Võ sư Phi Long Vịnh biểu diễn bài quyền Ngọc Trản. Ảnh: H.T
"Chén ngọc" tìm lại

Bài quyền Ngọc Trản có tự bao giờ xuất xứ ở đâu chưa rõ. Tuy nhiên theo lưu truyền trong dân gian bài quyền này là gia phả của võ phái An Vinh (Tây Vinh - Tây Sơn) trong môn phái của võ sư Hương Mục Ngạc truyền lại. Trong quá trình tìm tư liệu để nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng võ cổ truyền Bình Định các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bài thiệu quyền Ngọc Trản trong gia phả họ Trương ở Phù Mỹ.

Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường người xứ Thanh Hà tỉnh Hải Dương vào định cư ở vùng núi Ngạch (nay thuộc xã Mỹ Hiệp huyện Phù Mỹ) vào đầu thế kỷ thứ XVII (khoảng năm 1605). Sau đó định cư ở thôn Phú Thiện (xã Mỹ Hòa Phù Mỹ) cho đến ngày nay. Trong gia phả của dòng tộc để lại dòng họ Trương có nhiều người học giỏi thi đỗ cử nhân cả văn lẫn võ và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ như Trương Đức Giai Trương Đức Lân Trương Trạch... Trong đó Trương Trạch chính là thầy dạy võ cho ông Trương Thanh Đăng sau này làm chưởng môn phái Sa Long Cương (một trong những môn phái có ảnh hưởng lớn ở Nam Bộ). Còn căn cứ vào bài vị thờ ông Trương Đức Giai tại từ đường họ Trương thì ông Giai là người biên soạn tập sách võ hiện vẫn còn lưu truyền trong dòng họ Trương.

Với việc phát hiện ra bài thiệu các nhà nghiên cứu mới nhận thức được tính liên hoàn âm - dương xuyên suốt cả bài quyền và chỉnh lý được những sai lầm do việc lưu truyền "tam sao thất bổn" trước đây.

"Chén ngọc trên đài bạc"- ẩn ý người xưa

Ngọc Trản là chén ngọc. Vậy ẩn ý của người xưa khi đặt tên bài quyền và lời thiệu của bài quyền này như thế nào hiện vẫn có những giải thích khác nhau. Võ sư Nguyễn Anh Dũng (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng: "Võ công và chén rượu hình như có sự gắn bó ngàn đời. Trước khi lên đường ra chiến trận được vua ban ngự tửu chúc kỳ khai đắc thắng lúc ca khúc khải hoàn cũng được vua đón tận cổng thành tự tay rót rượu mừng mã đáo thành công. Hoặc việc chinh chiến không về cũng thường tình như uống chén rượu vậy thôi".

Tuy nhiên võ sư Hồ Bửu (Giám đốc Võ đường Tây Sơn - Bình Định tại Mỹ) học trò của võ sư Diệp Bảo Sanh (Chưởng môn nhân đời thứ hai của Bình Thái Đạo làng võ An Thái) và Hồ Nhu (tức Hồ Ngạnh làng võ An Vinh) thì tìm ý nghĩa của bài quyền này từ liên tưởng khác.

Võ sư Hồ Bửu cho rằng: "Bài Ngọc Trản có câu mở đầu Ngọc Trản ngân đài tả hữu tấn khai. Ngọc trản (chén ngọc chén nhỏ uống rượu hay trà) ngân đài (đĩa bạc có chân dùng để đặt trái cây cúng). Nhà của người Việt hầu hết đều có một bàn thờ tổ tiên ông bà. Trên bàn thờ ấy phía trước là cặp chân đèn cầy chính giữa là một cái lư hương. Kế đến phía trong và trước bài vị là lục bình cắm hoa một đĩa bằng bạc có chân người Bình Định gọi là cổ bồng đặt trái cây và bộ tách trà hay một nậm rượu với những chén ngọc nhỏ nhắn xinh xinh. Gia đình giàu có thì chén ngọc đũa ngà cổ bồng bằng bạc; còn nhà nghèo khó cũng cố gắng lựa một bộ chén và cái đĩa đựng trái cây đẹp nhất mà với họ quý như ngọc như ngà để cúng kiến ông bà.

Chén ngọc và đĩa bạc là hai vật thể làm sao có thể khai mở tiến ra bên trái bên phải? À! Thì ra câu thiệu này ngụ ý nói tổ tiên đã bỏ công sức mồ hôi nước mắt và cả xương máu để xây đắp ngôi nhà và đất nước Việt Nam.... Vậy điều đầu tiên của người học võ là phải biết tri ân các bậc tiền nhân và phải noi gương dấn thân bảo vệ non sông để Tổ quốc này mãi mãi trường tồn".

Quyền Ngọc Trản hiện được lưu truyền và phổ biến rộng rãi ở Bình Định với luyện tập công phu tấn công toàn diện kết hợp cương nhu lại có những thế né tránh phản đòn lợi hại; khi di chuyển thì linh hoạt nhẹ nhàng nhưng khi ra đòn thì nhanh và mạnh. Người biểu diễn bài quyền này có thần nhất hiện nay là võ sư Phi Long Vịnh. Võ sư Vịnh có thể biểu diễn bài quyền này chỉ trong phạm vi một chiếc chiếu (rộng 1 2m dài 1 6m đến 1 7m). Điều thú vị nữa là võ sư Phi Long Vịnh cũng mang họ Trương. Võ sư Phi Long Vịnh được học võ từ người cha là võ sư Trương Văn Cần và bác ruột là võ sư Trương Ninh. 18 tuổi võ sư Vịnh đã bắt đầu thượng đài và cả thời trai trẻ của ông gắn liền với những trận so găng khắp Trung Nam.

Ngọc Trản quyền đã được Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần thứ 3 tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 15 đến 26.4 .1995 bình chọn thống nhất đưa vào chương trình quy định chung của tất cả các võ phái cổ truyền trên toàn quốc.
(Theo Báo Bình Định)

More...