BÀI HÁT: ĐI TÌM NGƯỜI HÁT LÝ THƯƠNG NHAU

By Tinh Khuc Quy Nhon

BienQuyNhon - Gửi tặng những ai đang đi tìm bài hát )


 BÀI HÁT:
ĐI TÌM NGƯỜI HÁT LÝ THƯƠNG NHAU




Sáng tác: Vĩnh An
Biểu diễn: Trung Đức

Thương nhau tình thắm ối a nghĩa nồng.
Nghe câu hát anh đi tìm đi tìm người hát
câu hát lý thương nhau.
Anh ra vườn đào em đã sang đồng mía.
Anh lên rừng quế em lại đến nương dâu.
Anh đi tìm em. Em ở phương nào?
Anh ra vườn dừa dừa xum xuê trái.
Đưa tay anh hái nhưng mãi đợi chờ ai ...
Anh xuống đồng sâu em lại lên ruộng cạn.
Anh đi tìm bạn bạn còn đi xa...
Như ong tìm hoa hoa nở phương nào ?
Để lòng anh mong để lòng anh nhớ
Anh thương em như thế hỡi cô gái Nghĩa Bình.
Bốn mùa trồng cây bốn mùa em hái quả.
Dầu bao vất vả mà em vẫn hát câu hát lý thương nhau.

(=> lại từ đầu ..... )

Tiếng hát quê hương tiếng hát ân tình
Tiếng hát Nghĩa Bình ơi biết mấy yêu thương.


More...

Vang danh những làng võ ven sông

By Tinh Khuc Quy Nhon

Vang danh những làng võ ven sông

Không biết ngẫu nhiên hay sự sắp đặt của lịch sử mà những làng võ nổi tiếng nhất của Bình Định đều nằm gần xa hai bờ sông Côn. Đi dọc theo sông Côn  đến các làng võ Thuận Truyền An Vinh An Thái... để tìm hiểu về những đường roi đường quyền vang bóng một thời; rồi những thực hư quanh cuốn binh thư "tuyệt đỉnh bí kiếp"...

 

Năm 83 tuổi võ sư Hồ Nhu vẫn còn biểu diễn được những đường roi đầy uy lực.

Về làng "roi Thuận Truyền"

Trải qua nhiều con đường đất ngoằn ngoèo ở thôn Hoà Mĩ xã Bình Thuận (huyện Tây Sơn) chúng tôi mới tìm được ngôi nhà xưa của võ sư Hồ Nhu (thường gọi là Hồ Ngạnh) sư tổ của đường roi Thuận Truyền. Hiện đang sinh sống tại đây là võ sư Hồ Sừng người cháu nội được võ sư Hồ Nhu hết mực yêu thương và truyền dạy võ công. Võ sư Hồ Sừng đã 70 tuổi đôi mắt ông sáng lên khi kể về ông nội Hồ Nhu. Theo các nhà nghiên cứu thì song thân võ sư Hồ Nhu là ông Hồ Đức Phổ (Đốc Năm) và bà Lê Thị Quỳnh Hà đều là những võ nhân cao thủ. Nhưng thật thú vị khi võ sư Hồ Sừng cho biết ông Hồ Đức Phổ ra kinh thành Huế dự thi văn thì gặp bà Quỳnh Hà (người Huế) dự thi võ. "Trái ngược" như vậy nhưng mối lương duyên đã khiến họ gặp gỡ và gắn kết cuộc đời với nhau. Khi về quê chồng bà Quỳnh Hà đã đem theo những tuyệt chiêu võ học của dòng họ mình. Điều đặc biệt là bà Quỳnh Hà không vội vàng truyền dạy võ công cho con trai mà cho con đi thọ giáo nhiều cao thủ trong vùng. Sau đó bà xem con đánh rồi chỉ ra những điểm mạnh yếu trong các chiêu thức và uốn nắn xây dựng cho con lối đánh hiệu quả nhất. Đặc biệt theo võ sư Hồ Sừng tuyệt kĩ roi "đánh nghịch" độc đáo và cực kì lợi hại của Hồ Nhu không phải học từ một vị cao thủ nào mà chính là được bà Quỳnh Hà truyền dạy. Võ sư Hồ Sừng kể: "Bà cố nội đã tập cho ông nội tôi cách sử dụng roi đánh nghịch ngược với cách đánh thuận thông thường trên cơ sở sử dụng các tuyệt kĩ roi của nhiều môn phái khác nhau. Nhờ khổ luyện ông nội tôi đã có thể đánh nghịch cũng thuần thục như đánh thuận. Sau này khi phải giao chiến với các cao thủ ông nội tôi nhờ có ngọn roi đánh nghịch bất ngờ và hiểm mới có thể giành chiến thắng...".

 

Được ông nội truyền dạy võ sư Hồ Sừng đã gìn giữ được những đường roi Thuận Truyền danh tiếng.

Lò võ của võ sư Hồ Sừng mở tại ngôi nhà từ đường cũng là lò võ duy nhất ở Thuận Truyền từ sau ngày giải phóng đến nay. Hằng năm đều có hàng trăm môn sinh trong và ngoài tỉnh đến học. Nhờ liên tiếp đào tạo được các võ sĩ đạt thành tích cao nên lò võ Hồ gia trở thành vệ tinh cung cấp rất nhiều vận động viên cho Đội tuyển Võ cổ truyền Bình Định. Những năm gần đây do tuổi đã cao nên võ sư Hồ Sừng đã giao lại cho các con trai ông truyền dạy võ.

Đến thắp nhang cho võ sư Hồ Nhu chúng tôi xúc động khi thấy trên bàn thờ tổ đặt hai lễ vật cực kỳ ý nghĩa là hai chiếc cúp vàng Câu lạc bộ xuất sắc nhất đạt được trong Giải Vô địch Võ cổ truyền các CLB tỉnh Bình Định năm 2006 2007. Còn tại giải năm nay CLB võ thuật Hồ Bé (con trai của võ sư Hồ Sừng) cũng đã đoạt giải Nhì cấp CLB.

 

Bàn thờ sư tổ Hồ Ngạnh có được hai lễ vật ý nghĩa là hai chiếc cúp vàng.

Sông Côn "nối" hai dòng quyền

Rời làng Thuận Truyền đi ngược về phía Nam gần chục cây số nữa là đến làng võ An Vinh nằm trải dài theo bờ bắc sông Côn. Theo con đường ven sông rợp mát bóng tre chúng tôi tìm đến nhà võ sư Trần Dần cũng là lò võ nổi tiếng nhất ở An Vinh. Thầy của võ sư Trần Dần là Hương kiểm Mỹ vốn là đệ tử ruột của Hương mục Ngạc người sáng lập ra quyền An Vinh.

Trong câu chuyện kể của võ sư Trần Dần (70 tuổi) về làng võ An Vinh luôn lấp lánh niềm tự hào về một thưở vàng son với "Roi Thuận Truyền quyền An Vinh". Những năm đó vào mùa hè nước sông Côn cạn bãi cát rộng ven sông luôn có đông đảo người dân An Vinh ra luyện võ. Võ sư Hương kiểm Mỹ thường lựa lúc trời nắng nhất ra nằm hàng giờ trên cát để luyện công. Võ sư Trần Dần ấn tượng mãi hồi kháng chiến chống Pháp ông đã được chứng kiến trai tráng trong làng phục kích tên huyện trưởng dùng tài võ nghệ đánh tan tác bọn lính bảo vệ rồi bắt trói hắn bỏ lên thuyền xuôi sông Côn về Quy Nhơn giao nạp cho cách mạng. "Kĩ thuật chiến đấu của quyền An Vinh là như thế nào?"- chúng tôi vừa dứt câu hỏi võ sư Trần Dần như chớp đã tung vào khoảng không trước mặt những đòn tay xé gió. Rồi ông cho biết: "Lúc dạy võ sư phụ Hương kiểm Mỹ đã hỏi tôi: "Cọp có mang được gậy được dao không mà bắt được mồi?". Tôi mới ngộ ra. Cọp bắt được mồi đâu chỉ nhờ bộ móng sắc mà còn nhờ động tác vồ nhanh mạnh. Nguyên lí chiến đấu của quyền An Vinh cũng vậy đòn thế đánh ra phải nhanh mạnh và dồn dập để chiếm thế thượng phong trước đối thủ".

 

Võ sư Trần Dần đang dạy cậu học trò người Gia Lai một đòn thế quyền An Vinh.

"Vậy còn đường quyền An Vinh khác đường quyền An Thái ở chỗ nào?"- chúng tôi hỏi tiếp. "Điểm khác nhau cơ bản dễ nhận thấy là quyền An Vinh là đánh đòn dài (tung hết cánh tay) còn quyền An Thái thường sử dụng đòn ngắn (một phần cánh tay) của quyền Tàu nên dễ gây thương tích nặng cho đối thủ hơn"- võ sư Trần Dần giảng giải.

Từ làng An Vinh nhìn sang kia sông là làng An Thái (xã Nhơn Phúc huyện An Nhơn). Tại đây giờ chẳng thể lần ra chút di tích nào nơi thầy giáo Hiến quyết định ở lại lập nghiệp trên đất An Thái. Chỉ biết khi ấy ông chọn một gò cao nhìn xuống dòng sông Côn uốn khúc rồi lập trường luyện võ dạy văn. Ba anh em nhà Tây Sơn xuôi dòng sông Côn đến xin nhập học và được ông thâu nhận. Có cơ duyên là nơi hội tụ An Thái đã hun đúc tinh hoa võ nghệ nhiều phái võ. Trong đó nổi bật nhất là sự xuất hiện của phái quyền Tàu do ông Diệp Trường Phát (Tàu Sáu) khai mở vào đầu thế kỉ XX. Chúng tôi lần tìm được ngôi nhà cũ của cụ Tàu Sáu giờ đây không có người ở chỉ còn bộ khung mang theo dấu ấn một thời. Anh Tạ Văn Trúc cháu rể của cụ Tàu Sáu nói: "Vào ngày 18 tháng Giêng giỗ tổ con cháu học trò mới hội về đông". Thật đáng tiếc khi truyền thống võ học của dòng họ Diệp nay ở An Thái chẳng còn mấy ai kế nghiệp. Trên đất An Thái nay cũng chỉ còn duy nhất võ đường Bình Sơn của võ sư Lâm Ngọc Phú truyền dạy võ thuật kết hợp từ hai nguồn võ của dòng họ ông và võ Tàu của cụ Tàu Sáu. Võ sư Phú tâm sự: "Lớp trẻ trong vùng giờ đây cũng không còn mặn mà lắm với việc học võ có học cũng chỉ là trong vài tháng hè để rèn luyện sức khoẻ. Thỉnh thoảng cũng có người phương xa đến xin học tôi đều thu nhận và chỉ dạy tận tình với mong gìn giữ và quảng bá võ cổ truyền Bình Định...".

 

Thầy Thích Hạnh Hoà đang hướng dẫn đệ tử tập võ tại sân chùa Long Phước.

Đi tìm "tuyệt đỉnh bí kiếp"

Tiếp tục đi về khu vực hạ nguồn sông Côn chúng tôi tìm đến chùa Long Phước (xã Phước Thuận huyện Tuy Phước) nơi được tôn vinh là "Thiếu lâm tự" của Bình Định và đang giữ cuốn "tuyệt đỉnh bí kiếp" được đồn thổi lâu nay. Ngôi chùa có tuổi đời trên dưới 200 năm này nay đã mang ít nhiều dáng vẻ hiện đại. Nét cổ kính chỉ còn lưu lại trên hai ngôi tháp cổ rêu phong nằm hai bên chánh điện. Thầy Thích Hạnh Hoà chủ trì chùa Long Phước cho biết: CLB võ thuật Chùa Long Phước ra đời từ năm 1987 ban đầu chỉ có ông và đệ tử Vạn Thanh đứng ra huấn luyện. "Cơ duyên" là ở chỗ Vạn Thanh khi còn tu ở chùa Lộc Sơn (xã Nhơn Thọ) đã được Chủ trì Tịnh Quang trao lại bản chép tay cuốn "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp". Đây là cuốn cổ thư tương truyền là do sư Hư Minh viết cách đây gần năm thế kỉ ghi chép lại binh pháp chiêu pháp đòn thế võ thuật của các vị vua vị danh tướng nước ta thời Đinh Lê Lý Trần... Ngoài ra nằm trong bộ cổ thư còn có phần tư liệu mang tên "Tây Sơn liệt tướng" của ông Nguyễn Trung Như (tướng thời Tây Sơn) đã ghi lại những chiêu pháp thao lược đặc biệt của Tây Sơn tam kiệt cũng như của các danh tướng Tây Sơn khác.

Chủ trì Thích Hạnh Hoà cho biết: "Một buổi sáng nọ Vạn Thanh đã đem đến cho tôi một cuốn sách ố sờn. Đọc lướt vài dòng tôi biết ngay sách quý liền bàn với Vạn Thanh cùng nghiên cứu dịch một số chiêu pháp thao mẫu trong cuốn binh thư để đưa vào giảng dạy cho các lớp võ sinh của chùa Long Phước". Nhờ vậy CLB đã gặt hái được những thành công ngoài mong đợi nhiều đệ tử xuất thân từ chùa đã giành được huy chương vàng cấp Quốc gia như Trần Duy Linh với bài "Lôi Long Đao" Nguyễn Thị Kim Hải với "Lôi phong tuỳ hình kiếm".... Và rồi lớp trước học xong truyền dạy cho lớp sau đến nay chùa Long Phước đã đào tạo được hàng ngàn võ sinh đến từ mọi miền đất nước. Nhiều người trong số đó nay đã thành võ sư huấn luyện viên vận động viên trụ cột của Đội tuyển Võ cổ truyền ở Bình Định và nhiều địa phương khác.

 

"Thầy tâm huyết trò khổ luyện" mới chính là "tuyệt đỉnh bí kíp" của chùa Long Phước.

Cách đây 10 năm Vạn Thanh đã hoàn tục để trở lại đời thường. Theo hướng dẫn của thầy Hạnh Hoà chúng tôi tìm đến nhà võ sư Nguyễn Đông Hải (tên thật của Vạn Thanh) ở thôn Vĩnh Phú xã Nhơn Thành để tìm hiểu rõ hơn về bộ binh thư "tuyệt đỉnh bí kíp". Khác với suy nghĩ của tôi võ sư Đông Hải không đề cao nhiều đến giá trị bộ binh thư mà thật lòng tâm sự: "Cái "duyên" của tôi có được bộ binh thư sẽ không phát huy tác dụng nếu không gặp được thầy Hạnh Hoà người hiểu biết sâu rộng về võ học và luôn nhiệt tình phát triển phong trào võ thuật ở chùa Long Phước. Nhưng những nỗ lực truyền dạy võ của thầy trò chúng tôi cũng chỉ là thứ yếu điều quan trọng nhất là các học trò đã có tinh thần đam mê khổ luyện mới có thể đạt được thành công...".

Hoá ra không phải bộ binh thư mà "thầy tâm huyết trò khổ luyện" mới chính là "tuyệt đỉnh bí kíp" đích thực của chùa Long Phước. Chúng tôi đã nhận ra vậy sau cuộc hành trình đi tìm tuyệt đỉnh bí kíp...

  • Viết Thọ-Hoài Thu-Văn Trang





More...

Một vùng biển nhớ

By Tinh Khuc Quy Nhon

Một vùng biển nhớ

Có người bạn của tôi nói rằng nhắc đến Quy Nhơn không thể không nhắc đến những con đường nho nhỏ yên bình; những công viên xanh và các quán cà phê. Và đặc biệt không thể không nhắc đến biển với những con sóng hiền hoà với dáng lưỡi liềm uốn cong quanh phố. Theo anh mỗi người Quy Nhơn đều có trong tâm hồn mình một mảnh hồn của biển xanh dịu dàng của cát vàng của tiếng sóng và bóng những hàng dương...

Có lẽ đúng như lời anh nói. Mỗi khi xa quê lâu ngày tôi thường nhớ về biển. Tôi nhớ những ngày tuổi thơ lang thang trên biển nhặt những vỏ sò hay đuổi bắt con còng gió cùng với chúng bạn tôi nhớ những chiều ra biển nô đùa thoả thích giữa sóng nước mây trời những đêm trăng ngồi ngắm luồng sáng đẹp diệu kỳ lung linh trên mặt nước thẳm sâu. Và khi ta đối diện với biển vẫn là biển ấy nhưng không lần nào giống lần nào. Mỗi lần đứng trước biển bao giờ cũng đi kèm với những cảm giác vừa xưa cũ muôn đời lại vừa mới mẻ quanh đây. Như trong một tiểu thuyết của John Banville biển cùng với muôn lớp sóng là sự bao gộp của cả ba chiều thời gian: quá khứ hiện tại tương lai. Và mỗi chúng ta là những "con sâu nho" uốn mình trong nắng ta cũng như biển biển của những hoài niệm thực tại và mộng mơ. Biển của những đổi thay vô thường.

Có những chiều men theo tuyến đường An Dương Vương - Xuân Diệu dạo quanh một vòng cung biển nhìn mặt nước trong xanh và đón lấy những cơn gió mát lành từ đại dương thổi lại lòng không khỏi tự hào về quê hương. Vì không phải thành phố nào trên cả nước cũng có biển để cho con người ngắm sóng cảm nhận gió biển và trải nghiệm những khoảnh khắc của đời mình trước đại dương bao la. Biển ở Quy Nhơn lại mang dáng vẻ rất riêng. Bờ biển không rộng nhưng hết sức trữ tình biển không tấp nập xô bồ mà vẫn giữ được vẻ bình yên dịu dàng của nó. Đấy là một vẻ đẹp đậm chất Á Đông. Và trong thế tương hợp với không gian của một thành phố hiền hoà như Quy Nhơn biển trở nên rất đáng yêu rất giàu thi vị.

Lắng nghe trong tiếng sóng trong tiếng xì xào của những hàng dương biển đang nói với ta những lời của ngàn đời qua. Tâm hồn của người Nhật đặc trưng nghệ thuật của người Nhật nếu có thể gói gọn trong câu thơ "Không lúc nào nghĩ đến bạn bè thân thiết nhiều như khi ngắm tuyết trăng hoa" thì đối diện với vẻ đẹp của biển trong mỗi người lại nảy lên những xúc cảm và tình yêu thật nguyên sơ trong sáng. Trước vẻ đẹp của biển Quy Nhơn tôi hay nghĩ về những người thân về bạn bè về những chuyện đã qua; muốn được chia sẻ và đồng cảm. Biển là không gian cho những khoảnh khắc lắng lòng khi vui khi buồn biển luôn hiền hoà bao dung.

Chiều mưa hôm nay một vùng biển nhớ lại hiện về theo khúc ca của người thơ họ Trịnh Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về...

Trong tâm hồn bỗng sống dậy những niềm yêu bên phố.

Quy Nhơn ơi !

  • Lê Minh Kha 

More...

Về Bình Định ăn bánh hỏi

By Tinh Khuc Quy Nhon

Về Bình Định ăn bánh hỏi


Kỳ công một nghề truyền thống

Nhiều người thường hỏi: "Không biết bánh hỏi có từ lúc nào. Và tại sao người ta lại đặt tên là bánh hỏi?". Theo người Bình Định bánh hỏi có từ rất lâu đời. Cũng là thứ bánh làm từ bột gạo như nhiều loại bánh truyền thống khác nhưng thứ bánh hỏi của "xứ nẫu" vẫn cứ là lạ. Lúc đầu mới làm ra loại bánh lạ nầy ai thấy cũng... hỏi là thứ bánh gì? Cái tên bánh hỏi có lẽ đã được khai sinh từ đó?! Còn theo nhiều chuyên gia ẩm thực bánh hỏi chính là "biến thể" của bún tươi có ở nhiều vùng miền nước ta. Người dân đất võ thấy sợi bún lớn nên đã chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại. Từ đó tạo ra món bánh hỏi.

Nếu so sánh bánh hỏi và bún có cách chế biến gần giống nhau cùng chất liệu bột gạo song làm bánh hỏi công phu và tỉ mỉ hơn. Đại thể quy trình làm bánh của người đất võ như sau: Gạo vo sạch ngâm một đêm (khoảng 10-12 giờ). Xong vớt ra đem xay nhuyễn bằng cối đá (sau này xay bằng máy xay bột). Cho nước bột gạo sền sệt vào chiếc bao vải sạch để ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là "giảo" bột - giống cách làm bánh canh. Tiếp theo lại đưa vào khuôn ép thành bánh. Khuôn bánh hỏi ở trên to đáy khoan những lỗ li ti nhỏ. Bí quyết nghề làm bánh hỏi là nhờ chiếc khuôn. Lỗ khuôn quá nhỏ bột không chạy qua. Lỗ quá lớn sợi bánh sẽ lớn như sợi... bún.

Các khối bột đã nhào nặn sẵn người ta bỏ vào khuôn dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc lỗ lại nhỏ cần sức ép lớn nên người thợ phải dùng đến hệ thống đòn bẩy. Sức ép trên mặt khuôn rất lớn một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột loăn xoắn tuôn ra ở đáy khuôn. Người thứ hai dùng tay ngắt ra từng đoạn nhỏ đưa vào nồi hấp cách thủy một lần nữa mới đem ra thị trường tiêu thụ.

Bánh hỏi thời nay

Người dân đất võ có câu: ‘ Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ; Em thương một người có mẹ không cha; Bánh xèo bánh đúc có hành hoa; Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn... . Lá hẹ ăn với bánh hỏi rất ngon. Hẹ tuy cùng họ với hành tỏi nhưng lá nhỏ và xanh hơn hương lá hẹ lại không gắt như lá hành tươi nên rất hợp với bánh hỏi.

Ngoài việc dùng xì dầu làm nước chấm rất ngon bánh hỏi cũng có thể chấm với nước mắm pha loãng với gia vị là ớt tỏi đường chanh bột ngọt ...

Khi ăn bánh người Bình Định thường cho thêm chút dầu phộng hoặc dầu dừa đã khử hành chín. Dầu ăn trộn với lá hẹ xắt nhỏ tẩm lên từng miếng bánh làm cho hương vị bánh hỏi rất lạ kích thích khẩu vị. Khi ăn chỉ cần một làm chén xì đầu với ớt tỏi đường giả nhuyễn vắt thêm miếng chanh tươi là có ngay món điểm tâm sáng thật tuyệt.

Bánh hỏi đi đôi cháo lòng đấy là món khoái khẩu của người đất võ. Cháo lòng nấu hơi loãng với huyết heo ninh nhừ thịt nạc băm nhuyễn thêm chút gia vị tiêu hành bột ngọt cho vừa ăn. Cũng vì cách ăn này mà thỉnh thỏang ở các vùng miền khác của cả nước quán ăn nào có bán bánh hỏi thường cũng phục vụ kèm thêm đĩa lòng heo dạ trường gan dạ dày dồi heo ... rất tuyệt.

Người Bình Định khi cúng giổ cưới hỏi lễ lạt đều có món bánh hỏi. Các làng nghề làm bánh hỏi truyền thống ngon nổi tiếng vùng này có ở Quy Nhơn Tây Sơn An Nhơn Tuy Phước ... Mỗi ngày các lò bánh có thể bán ra thị trường hằng trăm kilôgam.

Ở Bình Định bánh hỏi được bán rất phổ biến. Nhưng ngon nhất là ở khu vực ngã ba Phú Tài (TP. Quy Nhơn). Có hàng chục quán ăn với món cháo lòng - bánh hỏi món điểm tâm dễ ăn mà cũng rất hấo dẫn với nhiều du khách phương xa.

Thực đơn bánh hỏi ở Bình Định hiện có khoảng đến... 10 món; như: bánh hỏi chả giò bánh hỏi lòng heo bánh hỏi thịt nướng bánh hỏi chạo tôm bánh hỏi tôm càng bánh hỏi thịt bò nướng bánh hỏi gà nướng...

Cùng với bánh tráng bánh ít lá gai bún song thằn... món bánh hỏi từ lâu đã trở thành đặc sản riêng của vùng đất võ. Một món ăn tuy rất đỗi bình dân nhưng lại có sức quyến rũ lạ kỳ.

Nhân dịp Festival Tây Sơn - Bình Định 2008 du khách phương xa nếu có dịp đến vùng đất này cũng nên thử qua một lần cho biết! Kinh nghiệm cho thấy nhiều người đến đây thưởng thức món đặc sản này xong thường cũng lại hay thắc mắc: "Bánh hỏi là bánh gì?".

Hỏi xong rồi lại muốn ăn thêm...

Theo Báo Du Lịch

More...

Những điều ít biết về mộ Hàn Mặc Tử

By Tinh Khuc Quy Nhon

Những điều ít biết về mộ Hàn Mặc Tử

Đứng từ con đường mới mở chạy ngang sườn núi ven thành phố Quy Nhơn (Bình Định) vào những ngày trời ít sương mù người ta có thể nhìn thấy những mái nhà của làng phong Quy Hoà lô xô ven biển. Con đường dốc đổ xuống nơi thi sỹ Hàn Mặc Tử sống những ngày cuối đời hơn nửa thế kỷ trước lượn quanh co vắng heo hút. Quy Nhơn còn lưu dấu nhiều vết tích của nhà thơ bạc mệnh này.

 

Tưởng niệm Hàn Mặc Tử ở khu mộ cũ.

Một cái chết và những điều bất tử

Vốn là một làng tập trung các bệnh nhân mắc bệnh cùi (bệnh phong) được các nữ tu sỹ lập nên từ hơn một thế kỷ trước tên tuổi làng phong Quy Hoà được nhiều người biết đến cũng một phần bắt nguồn từ chuyện tình cờ gắn bó với cái chết của thi sỹ tài hoa Hàn Mặc Tử.

Hàn Mặc Tử trở thành một bệnh nhân của làng từ tháng 9.1940 đến 11.1940 thì qua đời trong bệnh tật. Căn phòng nơi Hàn trút hơi thở cuối cùng nay trở thành nhà lưu niệm vẫn giữ nguyên những đồ đạc đơn sơ ngày đó: chiếc giường cá nhân chiếc ghế cùng vài vật dụng thông thường.

Ông được chôn trong nghĩa địa của làng phong. Theo lời kể của những người chứng kiến thời đó mộ của ông cũng không có gì đặc biệt so với các bệnh nhân khác: một nấm đất nhỏ như kích cỡ của hàng trăm ngôi mộ khác xếp theo dãy thứ tự nằm lặng lẽ trong muôn vàn cái chết lặng lẽ của người mắc bệnh cùi - vốn không có gia đình hay nhiều bè bạn khi cuối đời.

Suốt 19 năm Hàn nằm lại trong nghĩa địa làng phong. Theo lời kể của nhiều nhà nghiên cứu về cuộc đời và thơ Hàn trong thời gian đó do hoàn cảnh chiến tranh đường giao thông không thuận lợi và điều kiện khó khăn nên mãi đến ngày 13.01.1959 gia đình và bạn bè mới cải táng (bốc mộ) sang địa điểm mới cho người đã chết. Buổi lễ cải táng cho nhà thơ được tiến hành khá đơn giản: chỉ có hai người chị hai người em ba người bạn và một vị linh mục tham dự.

Đến năm 1991 cố nhạc sỹ Trần Thiện Thanh (ca sỹ Nhật Trường) cùng một số nhạc sỹ khác yêu mến tài năng thơ trẻ này đã đóng góp tiền để xây dựng một ngôi mộ -  đài tưởng niệm trên nền mộ cũ của Hàn. Quần thể mộ gồm một khoảng sân phía chính giữa là đài tưởng niệm có hình tượng một cây bút cây thánh giá dựng trên cuốn thơ. Những nét uốn lượn của cuốn sách thơ bệ tượng đài hình phù điêu bao quanh khu mộ cũng dễ liên tưởng đến hình tượng vầng trăng khi khuyết lúc đầy vốn luôn thấp thoáng ẩn hiện trong thơ Hàn.

Nhạc sỹ Trần Thiện Thanh vốn là một người rất yêu thơ Hàn. Những năm 1960 ông đã sáng tác bài hát nổi tiếng về Hàn Mặc Tử "Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa...". Người vợ của ông tên Nam Trân nhưng hâm mộ thơ Hàn đến mức thêm ‘họ của nhà thơ vào trước tên mình thành Hàn Nam Trân.

Theo lời của một số người bạn nhạc sỹ kể lại cảm động vì số phận của một nhà thơ lớn suốt hàng chục năm phải nằm nhỏ nhoi quạnh quẽ sau một lần viếng thăm mộ Hàn Mặc Tử nhạc sỹ đã sáng tác bài hát nói trên và đau đáu nuôi ý định: "Nơi một thi sỹ lớn đã sống những ngày cuối đời và nằm cô quạnh suốt hai mươi năm chẳng lẽ không có một dấu vết gì để nhớ?".

 

Dựng lều thơ bên mộ Hàn.

Điều ước cuối cùng chưa thoả

Từ làng phong Quy Hoà ngược dốc lên đường quốc lộ sát chân núi rồi lại xuống dốc sang triền núi bên kia qua quãng đường dăm cây số sẽ gặp khu mộ Hàn trên Ghềnh Ráng.

Theo lời kể của những người thân gia đình Hàn Mặc Tử khi còn sống Hàn đã từng tâm sự với bạn bè muốn khi chết sẽ được chôn trên đèo Son là một địa điểm ở đầu thành phố Quy Nhơn vì đó là khu vực dựa lưng vào núi mặt quay ra biển. Nhớ lời Hàn năm xưa sau khi bốc mộ người thân của Hàn cũng muốn thực hiện ý muốn của người đã khuất nhưng khi đó đèo Son là khu vực cấm nên mọi người đã chọn Ghềnh Ráng là khu vực cũng hội đủ những yếu tố như Hàn đã từng ao ước.

Từ Ghềnh Ráng để lên đến mộ Hàn du khách leo qua các bậc thang đá giữa hai hàng cây song song chụm đầu vào nhau rì rào bốn mùa đón gió biển. Mộ Hàn nằm dựa lưng vào núi nhìn bao quát cả dải bờ biển Quy Nhơn chạy dài trước mặt hút trọn tầm mắt một phần thành phố Quy Nhơn. Dưới chân khu mộ qua một vực đá thoai thoải với muôn vàn tảng đá nhiều hình thù xếp lớp là sóng biển bốn mùa vỗ bờ.

Mộ rộng chừng dăm thước vuông ốp đá đơn sơ xung quanh tàn cây mát rượi. Dòng chữ lớn RIP (Rest in peace - Dịch nôm na: An nghỉ ngàn thu) màu trắng nổi bật trên nền đá ốp hồng. Phía trên đầu mộ là tượng Đức Mẹ Maria hiền từ nhìn xuống. Mộ chí không ghi tên ông là nhà thơ nổi tiếng mà chỉ ghi khiêm nhường "Đây an nghỉ trong tay Mẹ Maria: Hàn Mặc Tử tức Phêrô Phanxicô Nguyễn Trọng Trí".

 

DZũ Kha với nghệ thuật bút lửa.

Chàng thi sỹ dựng lều bên mộ

Nhiều người dân ở Quy Nhơn nói rằng: "Hàn Mặc Tử sau khi chết hơn 60 năm vẫn không cô đơn". Ai đó có thể không tin nhưng nếu đã từng đến thăm mộ Hàn một lần và gặp chàng thi sỹ bỏ nhà để lên dựng lều cạnh mộ Hàn chỉ để thoả ước muốn ngày đêm ngâm thơ Hàn sưu tầm những tư liệu về Hàn Mặc Tử thì sẽ tin câu chuyện "Hàn không cô đơn sau khi chết" là có thật.

Chàng thi sỹ đó là Trương Vũ Kha hay còn gọi là Dzũ Kha là "Bút lửa giữ thơ Hàn". Vì quá yêu thơ Hàn mà người đàn ông trạc tuổi hơn 40 dáng người cao dong dỏng có mái tóc dài đầy chất nghệ sỹ vốn tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật này đã từ bỏ đô thị để về Ghềnh Ráng chăm sóc mộ Hàn.

Khu mộ được Vũ Kha trang hoàng bằng nhiều phiến đá phiến gỗ khắc thơ cầu kỳ nét chữ bay bướm. Vũ Kha cũng không khắc chữ thông thường bằng cách đục đẽo mà anh khắc chữ bằng bút điện bút lửa. Không chỉ dựng căn nhà gỗ đơn sơ bên mộ Hàn để ngày ngày chép lại thơ Hàn quét dọn chăm sóc mộ Hàn anh còn là hướng dẫn viên du lịch miễn phí cho du khách bỡ ngỡ tới lần đầu cần hướng dẫn. Cũng chính Kha là người đã tìm lại được nhiều tư liệu quý về Hàn Mặc Tử như một số bản thảo các bài thơ do chính tay Hàn viết hơn 60 năm về trước.

Hỏi anh về nguyên nhân của việc "hâm mộ" Hàn Mặc Tử tới mức đó Kha nhẹ nhàng đọc những vần thơ anh viết: "Bạn lên phố thị xênh xang. Riêng ta ở lại đa mang xứ Ghềnh. Phồn hoa náo nhiệt lãng quên. Hoạ thi bút lửa sưởi bên mộ Hàn". 

Sáu mươi năm đã qua kể từ ngày Hàn Mặc Tử qua đời theo lời kể của những người già trong khu vực Ghềnh Ráng - làng phong Quy Hoà ngày ấy và bây giờ vẫn mang dấu ấn Hàn Mặc Tử. Ra bãi biển Quy Hoà lại chợt nhớ đây là nơi Hàn vẫn thường thơ thẩn mỗi chiều lẩm nhẩm những vần thơ; ngồi trên ngọn núi có những tảng đá lớn hình quả trứng bên những dãy nhà bệnh nhân cũ lại chợt hỏi tảng đá này có phải Hàn đã từng ngồi chơi? Đêm ngắm trăng sáng bên Ghềnh Ráng hiểu thêm nỗi đau của những người mắc bệnh cùi cơn đau vật vã nhất thường kéo đến vào những tuần trăng...

Làng phong bây giờ được chia làm hai khu riêng biệt: khu điều trị bệnh nhân - hay còn gọi Bệnh viện phong - da liễu Trung ương Quy Hoà và khu làng của những người đã khỏi bệnh nhưng họ không trở về quê mà  tụ họp lại với nhau chọn nơi đây làm quê hương thứ hai của mình. Làng của những người đã lành bệnh có tên chính thức là Khu dân cư khu vực 2 phường Ghềnh Ráng.

Lần đầu tới làng phong nếu không được nói trước khách phương xa có lẽ không biết được đây là ngôi làng của những con người đã từng bị xã hội ghẻ lạnh hắt hủi xua đuổi theo hủ tục nhiều năm về trước. Làng phong nay cũng bình yên như ngàn vạn ngôi làng trên đất nước có đường làng rợp bóng cây có mắt trẻ khúc khích dõi theo dáng người khách lạ có những ngư dân ngừng tay đan lưới dưới hiên nhà nở một nụ cười chào khách mới đến có chú chó vằn ngoáy đuôi rối rít đón chủ về...

Làng bình yên như bức tranh trong thơ của Hàn mà ở đây già trẻ gái trai ai cũng đều thuộc: "Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc. Trên giàn thiên lý bóng xuân sang"...

. Theo Gia Đình Net.vn



More...

Cô "Hoa khôi toàn năng" Võ cổ truyền Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Cô "Hoa khôi toàn năng" Võ cổ truyền
Bình Định
Trần Thị Trà Huy vẫn được bạn bè ưu ái gọi là "Hoa khôi toàn năng" của Đội tuyển Võ cổ truyền Bình Định. Bởi không chỉ có khuôn mặt khả ái dễ mến Trà Huy còn là một VĐV giỏi từng đoạt nhiều thành tích cao tại các giải đấu của tỉnh toàn quốc.

Cô VĐV 19 tuổi quê ở xã Phước Thuận (huyện Tuy Phước) này tâm sự: Suýt chút nữa tôi đã không thể theo nghiệp võ nếu không được sự động viên của thầy Võ Văn Tính. Ngày ấy mẹ thấy tôi quá ốm yếu nên gửi tôi đến chùa Long Phước (huyện Tuy Phước) để học chút ít võ nghệ phòng thân và cho khỏe người. Đến đây tôi thấy chỉ toàn có... con trai học võ nên đâm ra mắc cỡ và muốn nghỉ học. Thế nhưng thầy Võ Văn Tính thầy dạy võ ở chùa khi ấy đã động viên tôi cố gắng bởi theo thầy tôi có những tố chất tốt để có thể học võ.

 

                    VĐV Trần Thị Trà Huy.

Ảnh:  Văn Lưu

 

Học được mấy tháng Trà Huy đã tiến bộ nhanh chóng và được chọn vào Đội tuyển Võ cổ truyền của huyện Tuy Phước thi đấu giải của tỉnh vào năm 2002. Tại giải này Trần Thị Trà Huy đã đem về cho huyện chiếc HCĐ ở nội dung biểu diễn. Có thành tích ngay ở lần đầu thi đấu Trà Huy thêm tự tin và càng cố gắng hơn trong việc tập luyện. Năm 2003 một bước ngoặt mới đã đến với Trà Huy. Cô được chọn vào lớp năng khiếu võ cổ truyền của tỉnh. Được ăn ở tập trung và tập luyện hàng ngày trình độ chuyên môn của Trà Huy càng được nâng lên. Năm 2006 sau khi đạt được chiếc HCB quý giá tại Đại hội TDTT Toàn quốc Trần Thị Trà Huy vinh dự được sang Hàn Quốc để biểu diễn võ thuật.

"Khi biết tin mình sắp được đi ra nước ngoài để biểu diễn võ cổ truyền tôi mừng đến mức không thể ngủ được. Ngày còn nhỏ ở quê tôi vẫn thường ước ao được đi nơi này nơi khác nhưng có bao giờ mơ rằng mình được ra nước ngoài đâu. Vậy mà giờ đây nhờ nghiệp võ tôi đã làm được điều đó..." - Trà Huy nhớ lại. Sau chuyến đi biểu diễn tại Hàn Quốc một năm (năm 2007) Trà Huy lại xuất sắc đoạt HCV và HCB tại Giải Vô địch Võ cổ truyền Toàn quốc. Và như để tưởng thưởng cho những gì mà Trà Huy đã gặt hái được một lần nữa cô lại có mặt trong đoàn VĐV Bình Định sang Italia và Rumania để biểu diễn võ cổ truyền.

Trà Huy cho biết: "Tại Italia và Rumania chúng tôi được đón tiếp rất trọng thị. Tôi quá bất ngờ khi bạn bè quốc tế rất ngưỡng mộ võ cổ truyền Việt Nam . Vì thế dù phải tập luyện rất mệt nhọc cho các tiết mục để biểu diễn nhưng tất cả các VĐV trong đoàn đều rất vui và hạnh phúc. Mỗi lúc chúng tôi bước lên sàn diễn khán giả bên dưới đều hô vang: "Việt Nam ! Việt Nam !" khiến hết thảy các thành viên trong đoàn đều cảm thấy rất tự hào".

Hiện tại Trà Huy đã tốt nghiệp THPT và cô đang mong muốn được tiếp tục theo học đại học TDTT để có thể gắn bó lâu dài với ngành. Trà Huy tâm sự: "Chính nghiệp võ đã mang đến cho tôi nhiều hạnh phúc và đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Vì thế tôi muốn được gắn bó lâu dài với nghiệp bằng cách tiếp tục theo học ngành thể thao".

Nhận xét về cô học trò của mình HLV Trần Duy Linh cho biết: "Trần Thị Trà Huy thật sự có tài. Điều này một phần được hun đúc bởi niềm đam mê mà Huy có từ nhỏ. Trà Huy tiếp thu rất nhanh điều mà HLV truyền đạt thực hiện các động tác vừa chuẩn xác vừa có "hồn"; trong đó phải nói đến bài quyền sở trường "Lão hổ thượng sơn" mà Trà Huy đã biểu diễn xuất sắc và đoạt HCV tại Giải Vô địch Võ cổ truyền Toàn quốc năm 2007...".

  • Công Tâm

More...

Chuyện về hai bà mẹ của hai nhà thơ lớn Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu

By Tinh Khuc Quy Nhon

Chuyện về hai bà mẹ của hai nhà thơ lớn
Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu
Gò Bồi (huyện Tuy Phước) nằm dọc theo dòng sông Gò Bồi là một chi lưu của dòng Hà Thanh. Gò Bồi thời xưa đẹp và sầm uất đã để lại bao nhiêu hình ảnh với khách thơ:  

Nắng hàng cau... (nơi yên nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử).
Ảnh: Hoàng Tuấn

Mai chiều lưới gõ đều tay nhịp
Sớm tối thuyền câu thoảng giọng hò.

Dãy phố không dài lắm chừng một cây số nhà cửa san sát: nhà lầu nhà ngói nhà tranh chen nhau soi mình trong bóng nước khiến Gò Bồi nên thơ. Vào những đêm trăng trăng soi bóng nước nước gợn sóng lăn tăn mặt sông như dát vàng bóng những con thuyền in xuống khiến sông trở nên lung linh huyền ảo. Phải chăng đất thơ đã sinh ra nhà thơ? Nhà thơ tình Xuân Diệu đó. Có lẽ cũng từ những chất thơ của miền đất nhỏ này đã thấm vào hồn Xuân Diệu khiến ông trở thành nhà thơ tình nổi tiếng chăng ?

Cuộc tình của thân mẫu nhà thơ Xuân Diệu cũng đầy thơ mà cũng nhiều nước mắt. Mối tình bắt đầu từ một buổi chiều có một người khách lạ ăn mặc toàn màu đen bước lên bến chợ Gò Bồi. Ông Tú ngơ ngác nhìn quanh có ý dò hỏi tìm người quen và nơi ở trọ để mở trường dạy học. Có lẽ trời xui đất khiến đã cho bà Nguyễn Thị Hiệp (thân mẫu nhà thơ Xuân Diệu) gặp ông. Cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên và tình cờ này khiến họ quen nhau. Bà Hiệp vốn đã dang dở một đời chồng trở về quê sống với mẹ bao nhiêu đau khổ bị dồn nén bỗng gặp ông đồ Nho xa nhà mưu sinh. Rồi nơi xóm Than bên kia sông ông đồ dạy học cũng là nơi những đêm trăng thường tổ chức những cuộc hát hò giã gạo. Họ gặp nhau ông đồ làm cố vấn cho bên nam bày những câu hát đáp lại mà bên nữ lại là bà Hiệp. Những câu hò qua đáp lại khiến họ càng gần gũi và say mê nhau hơn:

Nữ:

Anh ghẹo chi con gái có chồng
Như cơm chan nước lạnh mặn nồng vào đâu?
Nam hát lại:
Rượu ngon cái cặn cũng ngon
Thương nhau bất luận chồng con mấy đời.
Những câu hát tình tứ tương tự cứ dần dần gắn bó đôi trai tài gái sắc. Họ yêu nhau và nên vợ nên chồng.
Xuân Diệu là đứa con đầu lòng chào đời sống nơi quê ngoại.
Quê ngoại là gì ? Quê ngoại là ai
Mà tôi xa cách ba chục năm hoài
Bồi hồi sóng nước bâng khuâng gió
Đầm đậm cá chuồn thơm thơm khoai.
Sau đó mấy năm thì bà vợ nhà từ đất Nghệ vào. Cuộc tình tan vỡ Xuân Diệu về với cha ở Collège Quy Nhơn. Thân mẫu nhà thơ Xuân Diệu ở lại Gò Bồi với mẹ. Nỗi buồn thương đã khiến bà càng đau khổ. Người ta thường thấy bà ngồi bên bến sông lơ đễnh mắt nhìn nơi xa xăm mà hát những câu đầy khổ đau:
Xa nhau vì bởi thế gian
Cho nên lụy nhỏ suốt tràn năm canh
Hồi nào lê lựu một nhành
Bây giờ (kẻ) cuối bãi (người) đầu gành thảm chưa.
Ngoài nỗi đau lìa chồng bà còn chịu nỗi xót xa vì xa con. Thế mà bà vẫn chịu đựng chờ đợi. Hàng tháng bà lại đi thăm con một lần ở Quy Nhơn cho mãi đến khi Xuân Diệu thành tài. Nỗi đau thương dường như giảm đi ít nhiều khi hằng năm Xuân Diệu lại về thăm mẹ vào dịp giỗ ông ngoại.

Trong những ngày kháng chiến gian khổ Xuân Diệu ra Bắc bà Hiệp ở lại miền Nam theo kháng chiến. Năm 1954 bà tập kết ra Bắc sống với Xuân Diệu. Cuộc hội ngộ sau mười năm xa cách đã đền bù phần nào nỗi buồn mấy mươi năm xa con. Xuân Diệu viết:

Má ơi! Má của con đã già yếu lắm
Má là nguồn gốc của con
Má là vạn Gò Bồi làng Tùng Giản
Má là sông không cạn núi không mòn
Con chưa kể đời má bảy mươi năm
Một kho tàng hy sinh và nhẫn nại
Thuở ấy bao nhiêu nước mắt thầm.
Thời gian sống với Xuân Diệu ở miền Bắc quả là những ngày hạnh phúc nhất với bà. Bà từ giã cõi đời vào cuối năm 1969 trên đất Bắc. Mãi đến năm 1980 thân xác bà được con trai là Xuân Sanh đem về miền Nam .

Thân mẫu của nhà thơ Hàn Mặc Tử bà Nguyễn Thị Duy tuy không sinh ra ở Gò Bồi nhưng đã gắn bó với Gò Bồi từ năm 1938 - 1939 cho đến cuối đời và thân xác bà còn gởi lại nơi đây.

Khi các con đã lớn Hàn Mặc Tử và anh chị em đều có cuộc sống riêng tư. Những ngày Hàn Mặc Tử vào Nam theo đuổi sự nghiệp văn chương Hàn nhớ mẹ lắm. Hàn có bài thơ "Giang hồ nhớ mẹ" rất tiếc bài thơ không còn mặc dù chúng tôi tìm kiếm nhiều nguồn tài liệu nhưng vẫn chưa phát hiện ra.

Còn mẹ nhà thơ bà tìm về trú ngụ tại đầu thôn Tùng Giản tức Gò Bồi một xóm quê hẻo lánh ở nhờ nhà ông Câu Bảy.

Ông Câu Bảy khá giàu nhà ngói lớn kiểu mới trước nhà có một ao sen trước ao sen là dòng sông Gò Bồi. Từ nhà bước ra sông là bến Chuông. Cái làng ven sông này tĩnh lặng và toàn là người theo đạo Thiên chúa. Để mưu sinh thân mẫu nhà thơ Hàn Mặc Tử làm nghề buôn bán đồ cổ.

Năm 1939 khi Hàn Mặc Tử phát hiện ra mình bị bệnh phong được tin ở Gò Bồi có một ông thầy thuốc Nam chuyên trị bệnh này thế là Hàn cũng về trú ngụ với mẹ để chữa bệnh. Hàn về ở đây nhưng ít khi xuất hiện nhiều khi trốn chui nơi túp lều cuối vườn nhà. Người chăm sóc cho Hàn không ai khác đó chính là mẹ. Bà đã ngày ngày cơm cháo thuốc thang cho Hàn. Sự hy sinh vô bờ bến ấy chỉ có những người trong gia đình mới biết. Bệnh ngày càng nặng Hàn Mặc Tử trở lại Quy Hòa và mất. Thân mẫu Hàn Mặc Tử vẫn tiếp tục ở lại Gò Bồi ngày ngày ra bến Chuông nhìn về phía Quy Nhơn để nhớ đến người con bất hạnh. Bà sống cuộc đời âm thầm. Mãi đến năm 1949 - 1950 khi họa sĩ Phạm Hổ về đây mở lớp hội họa chúng tôi theo học và thường gặp nhau tại nhà ông Câu Bảy để thưởng thức trà sen bàn luận về văn chương. Mỗi lần hội họp chúng tôi được bà cho uống trà sen. Bà thường ngồi bên cạnh về phía xa lắng tai nghe mỗi lần nhắc đến Hàn là đôi mắt bà sáng lên vui sướng.

Bà mất năm 1951 trong âm thầm. Chúng tôi cũng không hay biết gì nên cũng chẳng đến thăm viếng. Mãi về sau này khoảng năm 1958 - 1959 chúng tôi mới có dịp nhắc đến Hàn và nhắc đến bà. Nấm mồ nhỏ nhắn của bà được xây bên kia bờ sông hướng mộ quay về bến Chuông như một nỗi niềm luyến tiếc.

  • Nguyễn Phúc Liêm

More...

Một bài hát cho quê hương Bình Định Quy Nhơn yêu dấu

By Tinh Khuc Quy Nhon

Ca khúc: Thương về Bình Đinh Quy Nhơn
Thơ: Cao Thanh Tâm (Italia)
Nhạc: Lâm Hoàng (Canada)


Một bài hát cho quê hương Bình Định Quy Nhơn yêu dấu
 "Thương về Bình Định Quy Nhơn"
nhạc Lâm Hoàng (Canada) thơ Cao Thanh Tâm (Italia).
Xin chia sẻ cùng Báo Bình Định tất cả người dân xứ Nẫu
và các Bạn trong NNYVN. Thân mến CTT
 


Đi tìm một bài hát cho quê hương
Vừa rồi anh bạn thân của tôi có kể một câu chuyện vui: Nhân một lần họp lớp cũ thời đại học anh và các bạn có tổ chức cho mọi người giao lưu văn nghệ. Đến phần "hát cho nhau nghe" mỗi người được yêu cầu hát một bài hát nói về miền đất mình đã sinh ra. Thế là người ở Hà Nội thì hát những bài như Có phải em mùa thu Hà Nội Hà Nội mùa vắng những cơn mưa người ở Hải Phòng thì hát
Thành phố Hoa phượng đỏ người ở Huế thì hát Mưa trên phố Huế người sống ở Tây Nguyên thì đã có Ly cà phê ban mê Còn chút gì để nhớ... Đến lượt anh bạn tôi lục tìm mãi trong trí nhớ anh chỉ nhớ loáng thoáng một vài đoạn trong một số bài hát anh từng được nghe như Quy Nhơn thành phố thi ca Nắng Nghĩa Bình... Rất may cuối cùng anh cũng có thể chữa cháy bằng một làn điệu dân ca đậm chất xứ Nẫu.

Sau khi kể lại câu chuyện này anh bạn bỗng nhiên hỏi tôi: " Nếu được chọn một bài hát thật hay thật tiêu biểu cho Quy Nhơn - Bình Định cậu sẽ chọn bài nào ?". Lần này đến lượt tôi lúng túng. Vì quả thật câu hỏi ấy không dễ trả lời. Những lần lên mạng vào các trang web điện tử các diễn đàn của người Bình Định tôi cũng hay thích tìm những ca khúc những bài hát về quê hương mình. Chịu khó tìm kiếm kết quả cũng không phải là ít (ngay ở mục Ca khúc tặng bạn của Bình Định điện tử cũng đã có khá nhiều bài hát viết về mảnh đất miền Trung thân thương này).

Nhưng để chọn một bài hát đi vào lòng người được nhiều người biết đến lan truyền và phổ biến không chỉ trong tỉnh mà còn ở ngoài tỉnh không chỉ trong tâm hồn người dân địa phương mà ở cả tâm hồn người khách phương xa; bài hát để khi nhắc đến Bình Định là người ta nghĩ ngay đến nó như trường hợp của Hà Nội Quảng Bình Huế Hà Tĩnh Đà Lạt... quả thật là khó!

Quy Nhơn - Bình Định là mảnh đất của thi ca và võ thuật của bao trầm tích văn hoá. Vẻ đẹp hữu tình của sông núi của những thắng cảnh dễ làm rung động lòng người. Tỉnh và thành phố lại đang có những bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt. Mạch nguồn ấy tiềm năng ấy vốn đã sẵn có và trong những giây phút hứng khởi xuất thần của người nghệ sĩ tài hoa tâm huyết các tác phẩm hay rất có thể sẽ được ra đời. 

Có một thực tế là thơ văn nhạc hoạ thường làm đẹp cho những vùng đất. Ngay cả những vùng đất những thành phố những con sông ngọn núi không thật sự "sơn thuỷ hữu tình" nhưng cũng có thể được nhiều người biết đến. Bởi vì nó gắn liền với những tầng ý nghĩa mang tính văn hoá nó thành kỷ niệm thành nỗi nhớ và tình yêu. Những phố núi thành nhạc thành thơ đẹp lên biết lao lần trong ca khúc Còn chút gì để nhớ để tim ai mãi bồi hồi những khi chiều về lang thang bước trên những triền cao... Bến Phong Kiều của Trung Quốc không hơn những nơi khác nhưng bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế đã thổi hồn làm sống dậy niềm yêu trong tâm thức của nhiều người. Để đến bây giờ nơi đây là địa điểm du lịch hút khách gắn liền với một sự tích một bài thơ một nhà thơ...

Một bài hát thật hay về Quy Nhơn - Bình Định hẳn sẽ làm cho tỉnh cho thành phố đã đẹp lại càng đẹp hơn trong hồn người. Và ta lại càng thêm yêu quý thêm tự hào về miền đất - nơi ta sinh ra và lớn lên. Để những khi xa nhà chợt nghe những giai âm và ca từ quen thuộc lòng lại không khỏi xuyến xao. Những người ngoài tỉnh cũng sẽ biết đến Quy Nhơn - Bình Định nhiều hơn qua những bài hát này.

Dĩ nhiên đấy là mong ước. Trong thực tế để có được một bài hát thật hay là điều thật khó. Qua báo chí tôi được biết một thành phố lớn như Đà Nẵng dẫu đã tổ chức cuộc thi sáng tác bài hát về quê hương trong thời kỳ mới nhưng kết quả lại không được như mong muốn. Và người Đà Nẵng vẫn phải tiếp tục đi tìm những bài hát về Đà Nẵng cho Đà Nẵng.

Dẫu biết là khó nhưng mong sao trong thời gian tới chúng ta sẽ có được nhiều bài hát hay về Quy Nhơn - Bình Định. Theo tôi để làm được điều này ngoài sự cố gắng tài năng và cái "duyên" của người nghệ sĩ cần có sự hỗ trợ động viên của các ban ngành liên quan các cơ quan báo chí - truyền thông để những bài hát về quê hương ấy sớm được ra mắt và phổ biến trong đời sống tinh thần của nhiều dân địa phương cũng như trên các vùng miền khác trong và ngoài nước.

Mong lắm thay !

  • Lê Minh Kha

More...

Vua Quang Trung với tư tưởng "Dựng nước lấy học làm đầu"

By Tinh Khuc Quy Nhon

Vua Quang Trung
với tư tưởng "Dựng nước lấy
học làm đầu"


"Dựng nước lấy học làm đầu". Đó là ý tưởng nhìn xa trông rộng của vua Quang Trung nói riêng và của triều đại Tây Sơn nói chung khi được thành lập trên cơ sở một phong
trào nông dân rộng rãi chưa từng có trong lịch sử dân tộc .

Công cuộc xây dựng đất nước sau chiến thắng giặc Mãn Thanh đặt lên vai người lãnh đạo đất nước. Vua Quang Trung đã chứng tỏ mình chẳng những là nhà lãnh đạo kiệt xuất của phong trào Tây Sơn mà còn tỏ ra có bản lĩnh lẫn tầm chiến lược trong việc xây dựng đất nước văn hiến sau chiến thắng.

 

Hình ảnh Vua Quang Trung trên bìa sách Quang Trung - Nguyễn Huệ những di sản và bài học.

 

Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.

Ngọc Hân công chúa đã khóc chồng bi thiết trong Ai tư vãn như vậy. Trong Ai tư Vãn ngọc Hân công chúa so sánh công đức của vua Quang Trung với các vua Thang Võ Nghiêu Thuấn - Là sự đánh giá rất cao về người anh hùng áo vải. Nhưng như thế chỉ với Nho giáo không thôi Quang Trung không đủ sức để kiến tạo lại đất nước sau chiến thắng. Quang Trung đã tự trang bị cho mình một vốn tri thức văn hóa mang ý nghĩa thiết thực.

Khắc họa hình ảnh vua Quang Trung Nguyễn Huệ như là một thiên tài không ngừng tiến thủ Ngô Thì Nhậm trong Bang giao hải thoại đã viết: " Quang Trung là người vốn tính ham học dẫu trong can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lý. Ngày thường nghị luận ý tứ rành mạch khơi mở nhiều điều mà sách vở ngày xưa chưa từng biết". Ở đây chúng ta chú ý đến tinh thần ham học hỏi và biết vận dụng tri thức sách vở vào thực tiễn của vua Quang Trung. Điều đó thật khác xa với nhiều kẻ sĩ được đào luyện dưới cửa Khổng sân Trình. Bản thân Quang Trung cũng phải học văn hóa và lịch sử Việt Nam do một quan bí thư riêng "mỗi tháng sáu lần chầu để giảng giải kinh sách" nên ông khá am hiểu lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Hơn ai hết Quang Trung nhận thức rất rõ vai trò của tri thức trong công cuộc xây dựng đất nước. Sau chiến thắng quân Thanh vua Quang Trung đã dần dần để các văn thần nắm các chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền. Điều đó được nêu rõ trong Chiếu lập học và chiếu cầu hiền của nhà vua trong mục đích "văn trị" của công cuộc trị quốc. Chiếu cầu hiền nói rõ: "Dựng nước lấy học làm đầu trị nước chọn nhân tài làm gốc... Trẫm buổi đầu dựng nghiệp tôn trọng việc học lưu tâm yêu mến kẻ sĩ muốn có người thực tài ra sức giúp nước".

Việc làm cấp thiết của vua Quang Trung là tổ chức kỳ thi hương đầu tiên ở Nghệ An để tuyển chọn nhân tài do Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo. Chiếu lên ngôi đã quy định: "Nho sinh và sinh đồ cứ đợi đến kỳ thi vào thi hạng ưu thì tuyển vào hạng kém thì bãi về trường xã học...". Như vậy Quang Trung rất chú trọng đến chất lượng và tính thực tiễn của việc học "Học cho rộng rồi ước lượng cho gọn theo điều học biết mà làm". Đó là một thế hệ nhân tài quan lại không chỉ có hiểu biết mà còn có khả năng làm việc thực sự để phục vụ vương triều đất nước.

Do yêu cầu như thế nên người dạy học phải đạt 2 tiêu chuẩn: Kiến thức và đức hạnh. Chiếu lập học nêu: "Chọn nho sĩ trong xã có đạo đức hạnh kiểm đặt làm thầy dạy giảng tập cho học trò xã hội".

Thời vua Quang Trung xã thôn đều có học xã chăm lo việc học. Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến xã thôn có trường công lập. Còn ở kinh đô văn miếu là học đường chính ở Bắc thành thường xuyên hoạt động đào tạo. Quang Trung giao cho Nguyễn Thiếp đảm đương chức vụ Viện trưởng viện sùng chính.

Hàng loạt chính sách cải cách giáo dục đã được đưa ra cho phù hợp với xã hội mới như đề cao chữ Nôm đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của dân tộc. Trong thi cử Quang Trung bắt giám khảo ra đề bằng chữ Nôm thí sinh làm bài bằng chữ Nôm. đây là lần đầu tiên nhà nước phong kiến đưa chữ Nôm vào thi cử. Đó là lòng tự tôn dân tộc trong văn hóa. Quang Trung thuận theo ý Nguyễn Thiếp để cải cách giáo dục về phương pháp: "Nước Việt ta từ khi lập quốc đến bây giờ chính học lâu ngày đã mất đi. Người ta chỉ tranh đua tập việc học từ chương cầu lợi... Chúa tầm thường tôi nịnh hót quốc phá gia vong những tệ kia ở đó mà ra" cho nên việc học "phải tuần tự mà tiến đọc cho kỹ mà ngẫm nghĩ cho tinh học cho rộng rồi ước lượng cho gọn theo điều học biết mà làm họa may nhân tài mới có thể thành tựu nước nhà nhờ đó mà vững yên".

Chính vì coi trọng việc học như vậy cho nên một mặt chế độ giáo dục ấy ắt sẽ sản sinh ra những nhân tài biết đem công sức mình xây dựng đất nước (tiếc rằng nhà Tây Sơn tồn tại quá ngắn chỉ 4 năm) mặt khác tập hợp được quanh mình những bậc hiền tài lỗi lạc đương thời như: Nguyễn Thiếp Phan Huy Ích Ngô Văn Sở... Họ là những văn thần võ tướng của cựu trào thấm nhuần tư tưởng: "Trung thần bất sự nhị quân" nhưng họ thấy ở Quang Trung một tấm lòng thành chiêu hiền đãi sĩ thật lòng muốn xây dựng đất nước chăm lo cho trăm họ chứ không thuộc loại vua chỉ biết vun vén củng cố cho ngai vàng của mình.

Thái độ tôn trọng việc học và nhân tài đất nước thể hiện từ trong bản chất có ngay từ những ngày đầu khi Quang Trung vào thành Thăng Long và sau đó trong lời phê vào đơn của dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại những hàng bia đá ở Văn Miếu đã bị đổ vì chiến cuộc:

Nay mai dọn lại nước nhà

Bia nghè lại dựng trên tòa nhân gian.

  • XP (St)

More...

Trả lại lịch sử công lao nhà Nguyễn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Trả lại lịch sử công lao nhà Nguyễn

Nhã nhạc - một di sản nổi bật của nhà Nguyễn đã được tôn vinh
























Thống nhất đất nước mở mang phát triển kinh tế có những chính sách cai trị làng xã tiến bộ vượt bậc cầu viện ngoại bang làm mất nước... những điều tưởng như trái ngược nhất lại tồn tại chung trong thời nhà Nguyễn.


Sau hai ngày làm việc Hội thảo quốc gia về "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" đã kết thúc tại Thanh Hóa chiều ngày 19/10. Trong thời kỳ cả nước đấu tranh chống thực dân đế quốc tội cầu viện ngoại bang tội làm mất nước vào tay thực dân Pháp đã làm lu mờ tất cả những công tích của triều đại này. Thời gian hơn nửa thế kỷ kể từ khi kết thúc trên 300 năm cai trị của Nhà Nguyễn đã đủ cho các nhà sử học hôm nay có được những đánh giá khách quan chính xác về thời kỳ lịch sử này. Hàng trăm nhà khoa học đã thảo luận và thống nhất được nhiều vấn đề cơ bản mang tính thay đổi nhận thức lịch sử về thời kỳ này. Trả lại lịch sử những công lao của triều Nguyễn Công lao nổi bật mà các nhà khoa học đã thống nhất ghi nhận cho chúa Nguyễn là việc khai phá vùng Thuận Quảng mở rộng lãnh thổ vào tận đồng bằng sông Cửu Long xác lập chủ quyền trên vùng đất mới. Từ đó tạo nên diện mạo đất nước Việt Nam hôm nay. Là sự tiếp nối của cả quá trình lịch sử cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX nhưng công lao thống nhất đất nước đã chính thức được ghi nhận là của Nguyễn Ánh. Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng còn có những giá trị mà hôm nay chúng ta cần học tập. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: "Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay. Chính sách Đình Nghị: Đã đi họp là phải phát biểu. Ý kiến trong Đình Nghị phải được ghi chép. Nếu không phát biểu trong kỳ họp trước kỳ sau sẽ không được đi họp nữa. Hay chủ trương Hầu trị: Người của địa phương không được đứng đầu trong địa phương. Phải đi nơi khác làm quan khi đến địa phương khác không được lấy vợ mua đất ở đó. Giám khảo chấm thi không được tham gia khi có người nhà đi thi hoặc phải trình báo...Đây là những chính sách mà ngày nay chúng ta cần học tập."

Sau hội thảo này Hội khoa học lịch sử sẽ trình lên Chính Phủ yêu cầu
được soạn lại sách giáo khoa lịch sử và biên soạn Quốc sử Việt Nam
một cách công bằng chính xác nhất với lịch sử

Đã có thời kỳ những di sản văn hoá của thời Nguyễn không được coi trọng. Các nhà khoa học hôm nay đã thống nhất ghi nhận những giá trị văn hoá đồ sộ mà thời kỳ này mang lại trong đó nổi bật là 3 di sản văn hóa có giá trị toàn cầu (Cố đô Huế phố cổ Hội An và Nhã nhạc cung đình Huế). Từ đó đưa ra những phương án bảo tồn và phát triển. KTS Phùng Phu- giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế cho biết: "Trong năm 2008 tổng thu của Trung tâm là 80 tỷ. Nguồn lợi từ việc bảo tồn khai thác di sản là rất lớn không chỉ về giá trị văn hoá". Những vấn đề còn tranh cãi và vấn đề không thể cắt nghĩa "Hội thảo mang tính chất quy tụ các tham luận này còn tồn tại một số vấn đề. Có những vấn đề có thể bàn thêm và sẽ làm sáng tỏ tuy nhiên cũng có những vấn đề không thể cắt nghĩa".- GS Phan Huy Lê thừa nhận. Đây là một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Do hoàn cảnh khu vực cũng như thế giới đã có biến chuyển. Trong khi đó Nhà Nguyễn lại rụt rè yếu kém trong canh tân đất nước. Các nhà khoa học đã thừa nhận: Trước hoạ xâm lược của phương Tây nước nào không canh tân thì mất nước là tất yếu. Vấn đề kháng chiến chống Pháp thất bại là tất yếu hay không tất yếu thu hút sự thảo luận sôi nổi thậm chí là những ý kiến trái ngược. Trước nhiều ý kiến rằng mất nước vào tay Pháp là tại nhà Nguyễn PGS. TS Phạm Xanh cho rằng: "Việt Nam không thể tránh khỏi số phận đó nếu không phải là thực dân Pháp thì cũng là Tây Ban Nha Hà Lan hay Anh Quốc... Các nước phong kiến lớn hơn chúng ta như Trung Quốc Nhật Bản rồi các nước khác như Philippine Triều Tiên... đều lần lượt rơi và tay đế quốc". Cùng quan điểm đó thầy giáo Nguyễn Quang Trung Tiến- Giảng viên trường Đại học Khoa học Huế cho rằng: "Chúng ta thắng Pháp sau 1945 là chúng ta đánh thắng bằng cái đầu hiện đại chứ không phải bằng cái đầu phong kiến. Tuy lực lượng cách mạng vẫn là nhân dân nhưng lãnh đạo cách mạng là tư tưởng cộng sản hiện đại và xu hướng của thế giới lúc đó thuận lợi". GS Phan Huy Lê đã đề nghị tiếp tục nghiên cứu và phải dựa trên căn cứ sử liệu: "Trách nhiệm không thể chối cãi của nhà Nguyễn dưới triều Tự Đức khi để mất nước nhưng về nguyên nhân thì phải phân tích kỹ hơn nghiên cứu sâu hơn cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan cả những chính sách không đáp ứng được yêu cầu canh tân và quá trình 26 năm kháng chiến chống Pháp (1858 - 1884) với nhiều hạn chế trong đối sách - điều hành. Tuy nhiên phải thừa nhận thời kỳ này vẫn có những điểm sáng chứ không chỉ là một màu tối." Từ những kết luận về hội thảo GS Phan Huy Lê cho biết: Hội khoa học lịch sử sẽ trình lên Chính Phủ yêu cầu được soạn lại sách giáo khoa lịch sử đặc biệt sẽ biên soạn Quốc sử Việt Nam một cách công bằng chính xác nhất với lịch sử dân tộc./.  
Bài&ảnh: Cẩm Hà  
( Theo Tạp chí Nối vòng tay lớn - Cộng hoà Balan )

More...