Thêm một tác phẩm viết về Tây Sơn - Nguyễn Huệ (*)

Thêm một tác phẩm viết về Tây Sơn - Nguyễn Huệ (*)


Nửa năm cho một truyện thơ dài 3.256 câu lục bát rồi thành ấn phẩm xuất bản về một đề tài lịch sử bi tráng bậc nhất của dân tộc cảm nhận đầu tiên của tôi là quá đỗi ngỡ ngàng.

Tôi quen biết Vũ Đình Ninh biết anh yêu văn chương làm nhiều thơ cả truyện ngắn nữa đã nhiều năm căn bản viết rồi đọc "giao lưu" với bạn bè. Giờ khác nhiều. Anh đã chính thức dấn thân bằng tác phẩm. Tôi luôn nghĩ tác phẩm chỉ là tác phẩm khi nó xuất hiện trước công chúng.

Vuốt ve cuốn sách bìa cứng nhìn số lượng 1.000 bản cái ngỡ ngàng của tôi bật ra câu hỏi rằng anh đã chi phí tổng cộng bao nhiêu anh bảo 25 triệu đồng. Tôi chúc mừng anh "cuộc chơi" đáng nể này. Số tiền không hẳn nhiều hay ít sự dấn thân với văn chương mới đáng nói. Anh đã như mũi tên bắn đi sẽ đến đích hoặc rơi vào vô tăm tích. Đây là cái giá khắc nghiệt của văn chương nếu không coi nó là "chơi".

 
 

Anh có kể về một giấc mơ xui anh viết như lên đồng truyện thơ này. Tôi không quan tâm. Tôi (và bạn đọc chắc thế) sẽ tiếp nhận tác phẩm anh bằng chính nó. Về căn bản nội dung truyện thơ cũng dựa trên các cứ liệu lịch sử quanh vương triều Tây Sơn chói sáng rồi vụt tắt nhấn mạnh khía cạnh bi hơn hùng vãn là ý tưởng căn bản của truyện thơ. Vũ Đình Ninh không mấy quan tâm đến lịch sử đã được viết nhiều anh muốn phát biểu quan niệm của mình về lịch sử. Nên truyện thơ không kể lại đầy đủ chi li thời kỳ đầy bão giông về "đám cháy vĩ đại" này của lịch sử. Lịch sử chỉ là cái cớ cho anh phát ngôn. Chuyện này tôi tôn trọng tác giả. Nhưng anh kể cho một người viết lời bàn đầu sách về giấc mơ của anh có người nữ xinh đẹp nhầm anh (Vũ Đình Ninh) là Vũ Văn Nhậm- giấc mơ kích thích anh viết tác phẩm này- và rồi hư cấu chi tiết Nhậm vì mê sắc mà hỏng chứ không phải vì "lộng quyền" như sử sách ghi khiến Nguyễn Huệ phải khẩn cấp ra bắt giết! Cuộc "siêu thoát" này của Nhậm lại được mô tả khá công phu: "Bên ta em phận nô tì/ Bên em ta gã tình si dại khờ/ Đời tình em trải chiếu thơ/ Vui hoang ta lội kín bờ thiên thai". Tôi thấy đây là nhà thơ với các "kiều nữ" một đêm bây giờ hơn là một vị tướng lĩnh được giao quyền chấp quản Bắc hà! Không chuyện hư cấu trong văn học không đồng nghĩa với nhập vai cho sướng cho thỏa thuê "quyền năng" sáng tạo như thượng đế! Mà thượng đế chỉ một thôi tin hay không một là đủ.

Hồi nhỏ tôi thường bị "hành hạ" bằng việc đọc các truyện thơ nôm cho ông ngoại nghe. Những truyện thơ bày bán trên các mẹt tre ngoài chợ phiên như bây giờ người ta bày bán cá bìa màu xanh đỏ in lòe nhòe xin kể tên các tập bà ngoại  tôi mua:  Lâm Sanh Xuân Nương Phạm Công Cúc Hoa Thoại Khanh Châu Tuấn Lục Vân Tiên... Trừ Lục Vân Tiên hầu hết khuyết danh. Lâu rồi cả trăm năm rồi dù khuyết danh dù hữu danh lối viết nôm na ấy. Bỗng được đọc một truyện thơ vào thế kỷ XXI cũng viết nôm na để chuyển tải ý tưởng không đơn giản kiểu "ở hiền gặp lành ở ác gặp dữ" hoặc đạo lý tuyên xây thời trước về nhân lễ nghĩa trí tín... Có gì đó tôi cứ phân vân không yên tâm. Hay như mốt tận cùng cũ là mới độc đáo? Lẽ nào văn chương giống mốt?

  • Tuyết Nhung

(*) Đọc "Tây Sơn ai tư vãn truyện" của Vũ Đình Ninh NXB Hội Nhà văn 2009.

TKQN

Gửi Người xem

Người xem đã cho người đọc nhiều tư liệu hay và trang tinhkhucquynhon thêm sôi động.
Cám ơn nhiều.
Chúc vui.

TKQN

Gửi Lê Bá Duy

Cám ơn LBD đã ghé trang tinhkhucquynhon.
Chúc luôn vui.

người xem

LỜI BÀN TÁC PHẨM TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN

LỜI BÀN TÁC PHẨM TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN
Trần Hinh

( tiếp theo )

Kỳ lạ thay như có ai đã xuôi Vũ Đình Ninh một mình một xe từ sáng sớm đi thẳng đến một nơi mà mình chưa biết. Rồi ai đã khiến Vũ Đình Ninh đến tựa lưng vào một gốc cây như tạm gửi xác ở đấy. Đúng là chỉ có thể gửi xác vào một nơi hoang vắng như thế thì phần xác mới được yên không bị quấy rầy khi phần hồn chu du trong hơn chín tiếng đồng hồ để nhận biết những hình ảnh của quá khứ thuộc không gian và thời gian tồn tại của nhà Tây Sơn.

Kỳ lạ thay như có ai đó đã xuôi bạn bè tự khai báo những quyển sử sách của mình có và sẵn lòng cho Vũ Đình Ninh mượn. Vì vậy mà Vũ Đình Ninh không hề mất thời gian để sưu tầm tài liệu tham khảo trước khi viết.

Cũng khó mà giải thích tại sao trong suốt bốn mươi lăm ngày Vũ Đình Ninh ngồi viết thì bà con bạn bà không một ai đến thăm hỏi hay vui chơi với Vũ Đình Ninh. Điều đó đã tạo được một không gian yên tĩnh không bị phân tâm để suy nghĩ để cảm xúc được liền mạch khi viết. Điều có thực đó là sự may mắn ngẫu nhiên hay do một quyền năng vô hình đã sắp đặt như vậy. Thật có trời mà biết.

Trong tập truyện có nhiều hư cấu rất hay không thể trích dẫn hết được. Tôi chỉ xin trích dẫn một hư cấu nói về cái chết của Vũ Văn Nhậm được suy diễn từ câu nói của người đàn bà trong mơ: "Ông là Vũ Văn Nhậm sao lại ngồi đây". Vũ Đình Ninh nghĩ rằng mình không thể giống một danh tướng tài ba lừng lẫy được. Vả chăng có giống nhau là giống ở tính hiếu sắc. Ừ mà xưa nay những bậc tài hoa yên hùng chẳng ai lại không hiếu sắc và Vũ Văn Nhậm chắc chắn là một con người như thế. Từ suy diễn đó Vũ Đình Ninh hư cấu một Vũ Văn Nhậm trong khi tạm lắng việc binh đao lại sống xa vợ đã nhiều lúc rời tổng hành dinh dan díu với đám kỹ nữ bỏ bê việc quân binh đã gây nên những điều tiếng không hay ho gì cho một vị tư lệnh tối cao của Tây Sơn ở đất Bắc Hà. Biết Vũ Văn Nhậm sa đà đến mức ấy Nguyễn Huệ lập tức ra Bắc Hà xử trảm Vũ Văn Nhậm. Chuyện hư cấu này nói rõ một điều là Vũ Văn Nhậm đã chết vì hoa thơm cỏ lạ chứ không phải chết vì tội bất trung như Nguyễn Hữu Chỉnh. Và hư cấu này còn nói lên rằng Nguyễn Huệ vì phải giữ nghiêm quân pháp chứ không phải vì ganh ghét tài năng mà giết Vũ Văn Nhậm như sách sử đã nói oan cho Nguyễn Huệ.

Lịch sử nhà Tây Sơn là lịch sử của những sự tích anh hùng và cũng có không ít những chuyện bi thương. Việc trả thù rất dã man và hèn hạ của Gia Long bày ra ở Phú Xuân không thấy có ai trong khi bị hành quyết lại xin đầu hàng hay tỏ ra khiếp sợ trước cảnh đầu rơi máu chảy thịt nát xương tan và nỗi đau thương đến ngút trời. Đó chính là đỉnh điểm của tính hùng và tính bi của từng người bị hành quyết cũng như của triều đại Tây Sơn ở giờ phút cuối cùng. Cái hùng và cái bi như ăn ở với nhau trong suốt lịch sử triều đại Tây Sơn. Và dường như cái bi đọng lại lâu hơn đọng lại âm ỉ như lấn át cái hùng. Có phải vì như vậy chăng mà tựa đề của tác phẩm chỉ gồm những ngôn từ nói lên cái bi: "Ai tư vãn" trong tựa đề "Tây Sơn ai tư vãn truyện" và còn nhấn mạnh thêm tính bi ở phụ đề "Đoạn trường vi thanh" là nỗi đau kết thành chuỗi gồm toàn những từ ngữ nói lên cái bi.

Trong tác phẩm "Tây Sơn ai tư vãn truyện" có rất nhiều chuyện hư cấu. Những chuyện gọi là hư cấu đó xem ra cũng có tính hợp lý khó mà bài bác. Và biết đâu khi chúng ta coi đó là chuyện hư mà lại là chuyện thực ở cõi hư - cái cõi từng có thực đã lùi xa chúng ta từ hơn hai thế kỷ. Nếu như Nguyễn Du nói đúng: "Thác là thể phách còn là tinh anh" thì giấc mơ của Vũ Đình Ninh là do phần "TINH ANH" tức linh hồn của những người có liên quan mật thiết với nhà Tây Sơn lúc bấy giờ đã báo mộng cho Vũ Đình Ninh. Hoặc nói một cách khác Vũ Đình Ninh được thế giới tâm linh sử dụng như một trạm thu phát tín hiệu và chỉ có một số người nào đó mới được sử dụng làm trạm thu một khi có khả năng phát lại tín hiệu thu được đó thành ngôn ngữ của cõi đời. Trạm thu phát tín hiệu Vũ Đình Ninh đã thu tín hiệu phát từ không gian trong hơn chín giờ và đã phát lại tín hiệu đó liên tục trong bốn mươi lăm ngày tạo thành tác phẩm "Tây Sơn ai tư vãn truyện".

"Tây Sơn ai tư vãn truyện" là một tác phẩm văn học nói về lịch sử triều đại Tây Sơn được diễn đạt bằng thơ lục bát đã có những đoạn thơ hay nhiều câu thơ hay. Nhưng vì dùng thơ để nói sử nên tính sử thi đã bao trùm lên toàn bộ tác phẩm. Điều đó thật đáng quý biết bao.

Qui Nhơn ngày 25 tháng 7 năm 2009

người xem

LỜI BÀN TÁC PHẨM TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN

LỜI BÀN TÁC PHẨM TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN
Trần Hinh

Quen biết Vũ Đình Ninh cũng đã mười năm. Vũ Đình Ninh nhỏ hơn tôi 17 tuổi có biết chút ít chữ Hán nên tôi gọi Vũ Đình Ninh là Vũ đệ - một cách gọi thân mật pha chút dí dỏm của tôi. Vũ Đình Ninh là con người thích đùa hay trêu chọc bạn bè bằng những tiểu phẩm ứng tác tại chỗ. Văn thơ Vũ Đình Ninh đã viết gồm cả truyện ngắn truyện dài và thơ viết ở nhiều thể loại có cả thơ Đường luật nhưng nhiều nhất là thơ tự do với nhiều bài rất hay ca ngợi cỏ cây hoa lá ong bướm gió trăng. Âu đó cũng là thơ ca ngợi thiên nhiên cả đấy thôi. Thực ra con người hay một bộ phận nào đấy của con người cũng đều là một vi thể cấu thành thiên nhiên. Nguyễn Du chẳng đã từng hiểu như vậy đó sao:

"Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên".

Thơ Vũ Đình Ninh đậm đặc tính thiên nhiên ấy.

Văn và thơ của Vũ Đình Ninh đã viết cũng không ít và viết để đọc cho bạn bè nghe chơi không bao giờ nghĩ đến việc in thơ in văn thành tập này tập nọ. Đùng một cái Vũ Đình Ninh cho ra mắt độc giả tập truyện dài đến 3.256 câu thơ lục bát mang tên "Tây Sơn ai tư vãn truyện" có phụ đề là "Đoạn trường vi thanh" được viết chỉ trong 45 ngày. Đành rằng sau đó cũng có tu sửa một số từ ngữ chứ không phải tu sửa cốt truyện. Tôi là người chứng kiến từ đầu đến cuối sự ra đời của tập truyện thơ này. Khi Vũ Đình Ninh viết đoạn đầu đã đọc qua điện thoại cho tôi nghe 720 câu. Một vài lần sau đó Vũ Đình Ninh lại đọc cho tôi nghe những đoạn mà Vũ Đình Ninh đắc ý. Nhưng nghe thì nghe chứ chưa bao giờ tôi khen hoặc chê một cách vội vàng ngoài một lời khuyên: Ninh hãy tiếp tục viết đi. Với một tập thơ dày như thế làm sao tránh khỏi những câu thơ còn mỏng. Nhưng ở đây tôi không bàn đến việc dày hay mỏng của từng câu thơ và điều đó còn phải chờ sự đánh giá của độc giả. Riêng tôi chỉ xin nói đến sự kỳ lạ đã thôi thúc Vũ Đình Ninh cho ra đời tập "Tây Sơn ai tư vãn truyện" được viết từ sau những giấc mơ.

Số là ngày 20 tháng 3 vừa rồi Vũ Đình Ninh đến dự sinh nhật tôi có kể cho tôi nghe giấc mơ của Vũ Đình Ninh từ hai ngày trước đó tức ngày 18 tháng 3 nhằm bữa thứ tư ngày nhâm tuất 22 tháng 02 năm Kỷ Sửu 2009. Rằng tự nhiên sáng sớm hôm đó cao hứng thế nào không biết mà một mình một xe Vũ Đình Ninh phóng thẳng đến một nơi mà mình chưa từng đến. Nơi đó chính là Núi Bà có chùa Linh Phong - nơi danh nhân Đào Tấn đã đến gửi thân sau khi giũ áo từ quan và cũng là nơi được nhân dân sùng kính. Đến nơi Vũ Đình Ninh dựng xe ở chân núi rồi lững thững một mình leo lên núi ngắm nhìn non nước trời mây mà không hề hay biết ở tầng núi cao hơn có chùa Linh Phong. Chưa dạo núi được bao nhiêu mới hơn 9 giờ sáng mà Vũ Đình Ninh đã thấy mệt phải dựa lưng vào một gốc cây để tạm nghỉ thì giấc ngủ ập đến lúc nào không biết. Khi thức dậy đã 19 giờ kém 15 phút màn đêm đã phủ kín Núi Bà. Vũ Đình Ninh hoảng hốt gọi điện thoại đến Khổng Vĩnh Nguyên hỏi chừng lối ra khỏi núi. Vũ Đình Ninh ra về mà lòng thấy bàng hoàng lâng lâng và nhớ như in giấc mơ kéo dài hơn 9 tiếng đồng hồ tại gốc cây.

Giấc mơ rằng: Vũ Đình Ninh đang ngồi có một người đàn bà xinh đẹp tuổi chưa tới bốn mươi đến vỗ vai nói rằng: "Ông là Vũ Văn Nhậm sao lại ngồi đây". Vũ Đình Ninh cãi lại: "Tôi là Vũ Đình Ninh chứ không phải Vũ Văn Nhậm" thế rồi bà ta biến mất. Lại một ông tuổi chừng hơn bốn mươi dáng người cao gầy đến dắt Vũ Đình Ninh đi như bay đến nhiều nơi gặp rất nhiều người. Giấc mơ đã gieo vào tâm thức Vũ Đình Ninh rằng những nơi đã đến là địa danh ghi dấu những chiến công hiển hách của triều đại Tây Sơn những người đã gặp trông rất oai phong lẫm liệt hình như đó là Nguyễn Nhạc Nguyễn Huệ Nguyễn Lữ và những danh tướng thời Tây Sơn. Sau giấc mơ Vũ Đình Ninh vẫn còn thấy những hình ảnh trong mơ cứ chờn vờn trước mặt như một lời mách bảo khuyên nhũ Vũ Đình Ninh hãy viết nhanh bản trường ca về những sự tích bi hùng của triều đại Tây Sơn.

Ngày 21 tháng 3 tức ngày 25 tháng 02 âm lịch ngày giỗ thân phụ Vũ Đình Ninh. Sáng ngày 22 tháng 3 Vũ Đình Ninh đến nhà bạn là Vũ Đình Huy kể chuyện giấc mơ ở Núi Bà Huy nghe chẳng nói gì lại hết lời ca ngợi tập thơ "Đoạn trường vô thanh" của Phạm Thiên Thư mà Huy vừa mới đem về từ thành phố Hồ Chí Minh. Như có được sự gợi ý vô hình nào đó Vũ Đình Ninh buộc miệng nói với Huy rằng mình sẽ viết "Đoạn trường vi thanh" hàng trăm trang cho mà coi. Vũ Đình Ninh ra về thì chiều đó cụ Bảo Hồ đến chơi và sẵn lòng cho Vũ Đình Ninh mượn tất cả sách sử nói về triều đại Tây Sơn trong đó có quyển: "Tây Sơn bi hùng truyện". Nghe nói quyền sách này của Hồ Hữu Tường (đã qua đời) mà sách được in lại đứng tên tác giả Lê Đình Danh. Thôi thì tên tác giả là ai xin gác lại một bên. Vấn đề là quyển sách ấy có nhiều cứ liệu xưa nay hiếm mà Vũ Đình Ninh đã tham khảo cộng với những gì đã thấy trong giấc mơ cùng với những hiểu biết vốn có về nhà Tây Sơn mà Vũ Đình Ninh đã viết nên tập "Tây Sơn ai tư vãn truyện" bắt đầu từ ngày 27 tháng 3 năm 2009 sau giấc mơ ở Núi Bà chín ngày. Trước máy vi tính Vũ Đình Ninh viết như tuôn trào câu trước gọi câu sau ra ngay không gì có thể cản ngăn được. Ngay cả người vợ đêm đêm cũng để cho Vũ Đình Ninh ngồi bên máy vi tính chứ không phải để đi ngủ sớm với mình như thường lệ. Vũ Đình Ninh viết một mạch bốn mươi bốn ngày liền thì bị khựng lại ngồi ngoẹo đầu trên ghế thiêm thiếp ngủ thì mơ thấy một thiếu phụ xinh đẹp tóc rối bời và dài đến ngang lưng đập đầu vào ngục máu chảy ràng rụa mà vẫn vương vương một nụ cười kiêu hãnh cho đến khi tắc thở. Vũ Đình Ninh cho rằng đó là cái chết của Ngọc Hân công chúa trong ngục thất chứ không phải bà đã tìm đường trốn về bắc sống cuộc đời lầm lũi và chết ở tuổi già như có sách đã nói. Giấc mơ này đã giúp Vũ Đình Ninh viết trôi chảy ở đoạn kết thúc tập truyện chỉ trong một ngày sau đó - ngày thứ bốn mươi lăm.

( còn tiếp )

Lê Bá Duy

Chào TKQN

Vắng đã tuần nay TK về
Chúc mừng hội ngộ miền sơn khê
Ngôi nhà lắm kẻ hay lui tới
Vậy mà Tình Khúc đến rồi mê
- Hẹn gặp lại!

TKQN

Gửi người xem

Cám ơn người xem đã cho đọc những tư liệu quý.

người xem

CHUYỆN PHÉP VUA & LỆ LÀNG NGÀY NAY
khoivudongnai 19 August 2009 04:54 Bài báo & Tin tức Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (0) Bản inBản in

VỤ VIỆC TỈNH BÌNH ĐỊNH RA LỆNH CẤM PHÁT HÀNH CUỐN SÁCH VỀ TRỊNH CÔNG SƠN CỦA TÁC GIẢ BAN MAI ĐÃ CÓ PHẢN HỒI TỪ PHÍA NHÀ XUẤT BẢN VÀ ĐƠN VỊ LIÊN KẾT IN ẤN CỤ THỂ LÀ DỊCH GIẢ ĐOÀN TỬ HUYẾN. Ý KIẾN CỦA ÔNG NHƯ SAU:

Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng: cần đúng luật!

Dịch giả Đoàn Tử Huyến người trực tiếp biên tập cuốn sách này đồng thời là Chủ tịch Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây đơn vị liên kết xuất bản cho biết:

- Cuốn sách Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng xuất bản từ tháng 8/2008 được phép phát hành đến nay đã tròn một năm. Trong thời gian qua trong chừng mực tôi được biết chỉ có ông Nguyễn Hoàn lên tiếng phê phán công trình này.

Rồi cách đây ít lâu có người ở NXB Lao động nói với tôi rằng nghe nói Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Bình Định có gửi công văn yêu cầu thu hồi cuốn sách này. Tôi gọi điện trực tiếp hỏi ông Chủ tịch Hội ông ta trả lời là không có việc đó. Giờ đây lại thấy báo chí đăng tin quyết định của UBND tỉnh Bình Định về việc cấm lưu hành cuốn sách này "trên địa bàn tỉnh vì có nội dung vi phạm Luật Xuất bản" (Báo Bình Định).

Tôi thấy đây là một hiện tượng không bình thường trong xã hội nhà nước pháp quyền chúng ta. Một khi ấn bản đã được nộp lưu chiểu và qua khâu "hậu kiểm" ở Cục Xuất bản thì nó được chính thức lưu hành toàn quốc và được pháp luật bảo trợ.

Ông Lê Huy Hòa - Giám đốc NXB Lao động cho biết: "Về cuốn sách này sau khi phát hành Cục Xuất bản đã gửi thông báo cho phát hành bình thường sau hậu kiểm do vậy tỉnh Bình Định không có quyền thu hồi. Chỉ có điều Cục Xuất bản có nhắc nhở là cách viết của tác giả trong cuốn sách đôi chỗ hơi khó hiểu tái bản lần sau cần biên tập kỹ hơn!"

Trong trường hợp phát hiện "có nội dung vi phạm Luật Xuất bản" thì chỉ duy nhất Cục Xuất bản là cơ quan cấp phép cho các hoạt động xuất bản mới có quyền ra quyết định (tạm đình chỉ đình chỉ phát hành thu hồi tịch thu cấm lưu hành tiêu huỷ xuất bản phẩm vi phạm - mà cũng phải theo đúng trình tự thủ tục hành chính do luật pháp qui định).

Ngoài ra các cơ quan cấp trên trực tiếp của Cục Xuất bản hoặc Toà án mới có quyền ra lệnh cho Cục Xuất bản xử lí việc đó. Các địa phương không có quyền đình chỉ việc phát hành những ấn phẩm không thuộc quyền mình quản lí đã được phép lưu hành trong cả nước mà chỉ có trách nhiệm phát hiện các vi phạm đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lí.

- Nhưng như báo chí đưa tin Hội đồng thẩm định tỉnh Bình Định cho rằng tác phẩm Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng có nội dung thiếu khách quan; xuyên tạc sự thật lịch sử; xúc phạm nhiều trí thức nhạc sĩ khác...

Là người biên tập cuốn Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng tôi không tin chuyện này. Đây là một luận văn thạc sĩ của tác giả Ban Mai (tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thuý hiện làm việc tại ĐH Quy Nhơn). Luận văn của chị đã được bảo vệ trước cả một hội đồng chuyên ngành gồm nhiều giáo sư tiến sĩ có uy tín chuyên môn vững vàng chính trị.

Trong quá trình xuất bản cuốn sách này cũng được cân nhắc biên tập đọc duyệt kĩ lưỡng nên khó có thể mang những "tội tày trời" như qui kết ở trên. Theo tôi ở đây chỉ là quan điểm cách nhìn khác nhau đối với một vấn đề - cụ thể là đối với nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn (chương IV của cuốn sách viết về Trịnh Công Sơn và chiến tranh VN - chỉ hơn 10 trang - nghiên cứu về ca từ nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn). Đây là một vấn đề học thuật mà khi trao đổi về học thuật thì phải dùng học thuật để nói chuyện chứ không nên qui chụp chính trị.

Tôi biết trong bài báo của mình ông Nguyễn Hoàn có ý buộc tội tác giả Ban Mai coi cuộc chiến tranh (mà Trịnh Công Sơn nói lời phản chiến) không phải cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược. Đây là ý kiến của cá nhân ông Hoàn và tác giả Ban Mai đã viết bài trả lời về vấn đề này. Nhưng như tôi đã nói đó là ý kiến riêng một mình ông còn nếu đây quả là một hiện tượng đáng phê phán thì chắc chắn phải có rất nhiều người hưởng ứng dân ta đông lắm hơn 80 triệu người cơ mà cũng đầy tinh thần cảnh giác cả chứ.

- Trước quyết định cấm lưu hành cuốn sách của UBND tỉnh Bình Định là người chịu trách nhiệm biên tập ông sẽ làm gì?

Là biên tập viên chịu trách nhiệm về nội dung cuốn sách trước nhà xuất bản và trước pháp luật nếu các cơ quan có thẩm quyền theo đúng pháp luật kết luận cuốn sách sai đến đâu thì tôi xin chịu xử lí kỉ luật đến đấy. Mặt khác tôi cũng có trách nhiệm bảo vệ nó khi nó bị xâm phạm. Như tôi đã nói việc UBND tỉnh Bình Định ra quyết định cấm lưu hành cuốn sách dù chỉ trên địa bàn tỉnh là sai trái xâm phạm đến quyền lợi của ấn phẩm tác giả nhà xuất bản Lao động và đơn vị liên kết.

Các địa phương không thể không thích là cấm mà phải ứng xử đúng theo pháp luật quốc gia. Tôi nghĩ dư luận và các cơ quan chức năng cần lên tiếng về hành vi này. Có thể tôi sẽ đề nghị với nhà xuất bản Lao động xem xét nếu cần thiết sẽ khiếu nại khởi kiện đối với cơ quan ra lệnh cấm phát hành cuốn sách.

Lê Duy (thực hiện)

người xem

TỈNH BÌNH ĐỊNH KHÔNG CHO LƯU HÀNH MỘT CUỐN SÁCH ĐÃ ĐƯỢC IN NĂM 2008 ( tiếp theo )

Trước hết nói về chương VI TCS- người ca thơ (trang 99- 133). Đây là cái lõi của chuyên luận là hướng tiếp cận chủ đạo và mục tiêu vươn tới của tác giả Ban Mai nên ngòi bút của chị khá họat và sắc. Mở đầu chương VI Ban Mai tóm lược hệ thống lý luận về ca từ khá tinh gọn chịu ảnh hưởng nhiều của GS Dương Viết Á. Nhưng chị vẫn có phát kiến riêng mới về mối quan hệ giữa các thành tố: âm nhạc ngôn ngữ bài thơ lời ca. Đó là mối quan hệ tương đồng tương sinh tương hỗ song không thoát ly tính dị biệt giữa lời ca với bài thơ. Từ cơ sở lý thuyết này tác giả soi dọi vào ca từ Trịnh Công Sơn đưa ra nhiều kiến giải tường minh lý thú.

Nửa thế kỷ qua nhiều nhạc sĩ nhà nghiên cứu đều thống nhất chung một nhận định rằng ca từ Trịnh Công Sơn là những thi phẩm kiệt tác ông viểt ra để hát. Ngay cái tiêu đề của chương VI Ban Mai cũng mượn lời của Văn Cao-cây đại thụ của âm nhạc VN thời tiền chiến: "Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ bởi ở Sơn nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính cái nào là phụ." Bởi thế nhiều người công nhận ông là nhà thơ lớn thậm chí là "Nguyễn Du của thế kỷ XX". Song trước Ban Mai chưa ai tổng hợp ca từ Trịnh Công Sơn theo các thể loại thơ: 4 chữ 5 chữ 6 chữ 7 chữ 8 chữ lục bát và thơ tự do ca dao tục ngữ. (trang 107- 110). Vấn đề tưởng đơn giản nhưng nó chứng minh nhà thơ viết nhạc họ Trịnh đã rất giỏi chọn thể loại thơ cho từng ca khúc phù hợp với chủ đề đối tượng mà ông phản ánh sao cho nhuần nhuyễn âm luật nhất. Phát kiến thứ hai về sự lạ hóa ca từ tuy trước đó đã có nhiều người bàn tới (Bửu Ý Bùi Vĩnh Phúc...) nhưng chị là người trình bày kỹ đầy đủ nhất về cách cắt chữ cuối câu thêm chữ thuần Việt vào sau động từ danh từ và ( trang 117- 125) đặc biệt là phần trình bầy phương pháp Điệp. Ban Mai đã đưa ra dẫn chứng đầy thuyết phục các thủ pháp điệp ngữ cách quãng điệp ngữ vòng tròn điệp câu với tần số đậm đặc trong 2 bài "Cát bụi" và "Bống ơi" (trang 114- 115) khiến tôi không khỏi cúi rạp mình trước thiên tài thơ và âm nhạc Trịnh Công Sơn. Có thể nói hai phát kiến của tác giả Ban Mai giúp ta hiểu sâu hơn về "thương hiệu" Nhạc Trịnh lừng lững trong bầu trời âm nhạc Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX dù trước chị mọi người đã nghĩ hoặc nói đến nhưng không trọn vẹn.

Chương IV TCS và chiến tranh Việt Nam (trang 52- 68) tôi chọn đề cập sau cùng bởi tính nhậy cảm mà những người như ông Nguyễn Hoàn đã lợi dụng để bài xích cuốn sách và UBND tỉnh Bình Định ra quyết định cấm lưu hành! Không phải ngẫu nhiên nước Mỹ gọi Trịnh Công Sơn là một Bob Dylan của người việt và năm 2004 ông qua đời đã 3 năm vẫn được trao "Giải thưởng âm nhạc hòa bình thế giới" (WPMA). Trước Ban Mai năm 1991 cô Yoshi Michiko (Nhật) đã làm luận văn Thạc sĩ tại Pháp về đề tài "Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn". Nhạc phản chiến của Trịnh công Sơn có sức lan tỏa ra thế giới bởi ông không đứng về phe nào trong cuộc chiến. Ông đứng về phe CON NGƯỜI. Trái tim ông thuộc về nhân loại. Ban Mai với tư cách nhà nghiên cứu ca từ Nhạc Trịnh chị phải khách quan và trung thực với lịch sử. Trong chương IV Ban Mai có quyền nhắc lại những sự kiện sau năm 1975 Trịnh Công Sơn có giai đọan bị nghi ngờ hắt hủi thậm chí bôi nhọ là có thật nhân chứng vẫn còn sống và họat động. Chị cũng có quyền ca ngợi bài hát "Cho một người nằm xuống" nhạc sĩ viết tặng một sĩ quan Cộng hòa Lưu Kim Cương thay cho bất cứ ai chết trận trong cuộc chiến ở cả hai phía... Tôi tin đông đảo bạn đọc thông cảm và ủng hộ lời chị viết ở cuối chương IV: "Cho đến ngày nay sau hơn 30 năm kết thúc chiến tranh nhìn lại những chặng đường thăng trầm của đất nước có lẽ đã đến lúc chúng ta dũng cảm nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua và thân phận các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn" (trang 68).

Lời kết

Gấp cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" của Ban Mai lại tôi trộm nghĩ tác giả có thể có vài thiếu sót về học thuật bạn đọc sẽ công tâm đánh giá nhưng toàn bộ tác phẩm là khách quan trung thực ít nhiều có đóng góp cho nền học thuật nước nhà. Có thể người ra quyết định cấm lưu hành chưa chắc đã đọc hoặc chỉ đọc lướt qua. Tôi ngờ rằng có ai đó trong giới văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định đã ác ý thổi phồng mặt nhậy cảm của chương IV mà tham mưu cho "Sếp" lớn trên tỉnh chăng? Hy vọng công luận và các cơ quan hữu trách ở Trung ương sẽ trả lại sự công bằng cho tác giả- tác phẩm...

Hà Nội 16/8.2009

người xem

TỈNH BÌNH ĐỊNH KHÔNG CHO LƯU HÀNH MỘT CUỐN SÁCH ĐÃ ĐƯỢC IN NĂM 2008 ( tiếp theo )

Và những cảm nhận của một người yêu Nhạc Trịnh

Tôi đọc cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" lần đầu vào dịp tết Kỷ Sửu. Ngày xuân sau giờ khai bút được đọc cuốn sách nghiên cứu có văn phong mềm mại lời văn khúc triết kiến giải tường minh của một cây bút nữ cũng thấy nhẹ lòng đọng lại trong tôi ít nhiều ấn tượng đẹp về tác giả Ban Mai. Nay nghe tin sách bị cấm lưu hành có cái gì thôi thúc tôi đọc kỹ lại phần chuyên luận (trang 17- 142) trong sách của chị.

Công bằng mà nói Ban Mai đã chọn một đề tài khó cho luận văn thạc sĩ của mình bởi đối tượng nghiên cứu là Trịnh Công Sơn thân phận khá phức tạp lại quá nổi tiếng được nhiều người suy tôn là nhạc sĩ viết tình ca hay nhất thế kỷ XX của Việt Nam. Và vì thế đã có quá nhiều người viết về con người và sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của ông. Là người đi sau Ban Mai chắc phải dũng cảm tin ở bản lĩnh của mình. Chị chọn hướng nghiên cứu đột phá vào ca từ của Trịnh Công Sơn chú ý đến tính triết học của nó trong mối tương quan nhân quả với hoàn cảnh cá nhân gia đình xã hội bầu khí quyển triết học các trào lưu chính trị... Tình yêu Nhạc Trịnh từ thủa bé thơ kết hợp với cảm quan mỹ học hiện đại và việc sử dụng các phương pháp xếp chồng văn bản của Charles Mauron phương pháp liên văn bản do Mikhail Bakhtin khởi sướng... là chìa khóa giúp chị mở vỉa quặng ngôn ngữ trong mỏ quặng quý hiếm của ca từ Trịnh Công Sơn.

Đi sâu vào nội dung chuyên luận ngoại trừ chương I Quá trình nghiên cứu là yêu cầu bắt buộc của luận văn Thạc sĩ các chương còn lại đều có dấu ấn riêng về sự đóng góp của tác giả ở mức độ khác nhau với tư cách nhà nghiên cứu ca từ Nhạc Trịnh. Theo thiển nghĩ của tôi có 3 chương không có nhiều khám phá phát hiện mới lạ về Nhạc Trịnh là: Chương II TCS- Tiếng hát dã tràng (trang 28- 41) lược thuật quá trình làm người hành trình sáng tạo đan quyện vào nhau trong con người nghệ sĩ họ Trịnh. Chương III Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu (trang 42- 51) nói về sức lan tỏa và ảnh hưởng của Nhạc Trịnh trong cộng đồng trước và sau năm 1975; dù khác nhau tuổi tác học vấn vị thế xã hội hay đối lập nhau về chủ thuyết khuynh hướng chính trị thì người nghe vẫn yêu Nhạc Trịnh theo cách cảm của riêng mình. Chương V TCS- người tình của cuộc sống (trang 69- 98) nói về biên độ rộng lớn của tình yêu sự dấn thân và triết lý vô thường trong ca từ Nhạc Trịnh. Nhìn chung đóng góp của tác giả Ban Mai trong 3 chương nói trên chủ yếu là công phu sưu tầm nhân chứng và sự kiện lịch sử sự hệ thống hóa và chắt lọc tinh hoa của những người viết trước. Nhờ đó người đọc có được hiểu biết khá đầy đủ về con người Trịnh Công Sơn cùng sự toàn mỹ về gia tài âm nhạc đồ sộ của ông. Nói như vậy không có nghĩa ở 3 chương này Ban Mai chỉ thụ động trong đánh giá Nhạc Trịnh. Khi so sánh văn bản Thơ Mới của Xuân Diệu Chế Lan Viên Hàn Mặc Tử... với văn bản ca từ Trịnh Công Sơn chị vẫn chủ động đưa ra nhận xét riêng khá tinh tế sâu sắc mà những người viết trước chưa đề cập đến: " Tuy nhiên ở đây ta thấy Thơ Mới luôn níu kéo thời gian luôn muốn quay về quá khứ nên "chắn nẻo xuân sang". Còn Trịnh Công Sơn cũng buồn cũng tiếc nuối thời gian nhưng ông hiểu đó là quy luật muôn đời của tạo hóa nên chấp nhận chứ không níu kéo cùng hòa vào thiên nhiên để "chăn gió mưa sang". Những ca khúc viết về thân phận con người của Trịnh Công Sơn trước sự sống cái chết và nỗi tàn phai cũng chỉ là đi tìm cái hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số phận bắt buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó do định mệnh an bài và cái không gian vô định phải nhận diện. Theo nhà Phật đó là nhân quả là luân hồi là sự sinh trưởng không ngơi nghỉ và biến hóa vô cùng để phát triển tạo nên cái "nghiệp" cho số phận." (trang 76). Song có lẽ những kiến giải độc lập sáng tạo và phát hiện riêng mới của Ban Mai về Nhạc Trịnh nói chung ca từ Nhạc Trịnh nói riêng nằm tập trung nhiều ở chương IV và chương VI.

người xem

Chuyện về xứ Bình Định Tây Sơn xin copy từ blogs Khôi Vũ:

TỈNH BÌNH ĐỊNH KHÔNG CHO LƯU HÀNH MỘT CUỐN SÁCH ĐÃ ĐƯỢC IN NĂM 2008:

GẦN ĐÂY TỈNH BÌNH ĐỊNH CÓ VỤ HỘI VHNT KHAI TRỪ HỘI VIÊN LÊ HOÀI LƯƠNG. SAU QUYẾT ĐỊNH NÀY DƯ LUẬN VĂN CHƯƠNG ĐÃ ỒN ÀO CẢ TRONG VÀ NGOÀI TỈNH ĐẾN NAY MỚI TẠM LẮNG (NHƯNG CHƯA BIẾT TƯƠNG LAI SẼ CÓ GÌ MỚI?).

CHƯA HẾT XỨ TÂY SƠN LẠI VỪA "NỔI" LÊN VỚI VỤ CHÍNH QUYỀN RA LỆNH ĐÌNH CHỈ PHÁT HÀNH MỘT CUỐN SÁCH CỦA TÁC GIẢ TRONG TỈNH MÀ CUỐN NÀY ĐÃ ĐƯỢC MỘT NXB TRUNG ƯƠNG IN VÀ PHÁT HÀNH TỪ CUỐI NĂM 2008!

DƯỚI ĐÂY LÀ TIN VỤ VIỆC VÀ BÀI VIẾT Ý KIẾN CỦA VŨ NGỌC TIẾN VỀ VỤ VIỆC NÀY.

Tỉnh Bình Định đình chỉ lưu hành tác phẩm "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng"

(SGGP).- Ngày 13-8 tin từ UBND tỉnh Bình Định cho biết đã có quyết định đình chỉ việc phát hành tác phẩm "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng" của tác giả Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông-Tây ấn hành trên địa bàn tỉnh với lý do vi phạm Luật Xuất bản.
Tác phẩm "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng" được phát triển từ luận văn cao học của thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Thúy (tức Ban Mai) cán bộ Trường Đại học Quy Nhơn.

Tuy nhiên theo đánh giá của hội đồng thẩm định địa phương tác phẩm này có nội dung thiếu khách quan; xuyên tạc sự thật lịch sử; xúc phạm những trí thức nhạc sĩ khác... vi phạm khoản 4 Điều 10 Luật Xuất bản và khoản 1 Điều 6 Nghị định 111/2005/NĐ-CP ngày 26-8-2005 của Chính phủ. Trong công văn gửi Cục Xuất bản (Bộ Thông tin - Truyền thông) UBND tỉnh Bình Định cũng đề nghị xem xét xử lý vi phạm của NXB Lao Động Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông-Tây về việc ấn hành tác phẩm trên.

H.TRỌNG

Bàn về cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" của Ban Mai
Vũ Ngọc Tiến

Tin UBND tỉnh Bình Định ngày 13/8/2009 ra quyết định cấm lưu hành cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" của Ban Mai làm sửng sốt giới văn học nghệ thuật cả nước về một văn bản trái luật và ngạo mạn kiểu "phép vua thua lệ làng"! Trái luật bởi ấn phẩm ra đời đúng theo trình tự của Luật Xuất bản còn nội dung trình bầy kết quả nghiên cứu về một nhạc sĩ thiên tài danh nhân văn hóa được cả nước mến mộ thế giới ghi nhận. Ngạo mạn bởi Nxb Lao Động thuộc Trung ương quản lý nội dung ấn phẩm là luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ được Hội đồng các GS PGS thẩm định kỹ càng mấy ông quan chức hàng tỉnh sao không nhớ câu ngạn ngữ "Sơn ăn tùy mặt ma bắt tùy người"? Lại có luồng dư luận coi lệnh cấm chỉ như ném vào hư không bắt gió đuổi mây bởi sách đã in nộp lưu chiểu Quý IV/2008 phát hành rộng rãi trên cả nước thì một tỉnh lẻ miền Trung làm sao thu hồi? Lệnh cấm sách sao dường như không nhằm vào sách mà nhằm vào người viết sách trong bối cảnh nội bộ Hội VHNT Bình Định tổ chức đang nát như tương nhân tình rối như canh hẹ trước kỳ đại hội?...Song dư luận vẫn chỉ là dư luận. Lời nói gió bay. Ta hãy thử tìm hiểu trong cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" tác giả Ban Mai viết gì?

Lướt qua cuốn sách

Cuốn "Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng" của tác giả Ban Mai (tên thật Nguyễn Thị Thanh Thúy) Thạc sĩ giảng viên ĐH Quy Nhơn. Sách do Nxb Lao Động phối hợp với Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông- Tây ấn hành theo Quyết định xuất bản số523- QĐLK/LĐ ngày 22/8/2008 và giấy XNĐKKHXB/CXB số 38-133/LĐ ngày 22/8/2008. Sách in xong nộp lưu chiểu vào Quý IV/2008. Bìa trình bày của họa sĩ Văn Sáng khá đẹp trong sự giản dị tao nhã. Hai mảng màu tương phản bố cục chữ và những nét vẽ chấm phá minh họa khơi gợi cho ta cảm nhận về chiều sâu văn hóa triết lý vô thường của người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh. Ở trang lót bìa cuối sách chỉ ghi mấy lời giới thiệu rất vắn tắt của Nxb Lao Động:

"Tác giả tập chuyên luận Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng tái hiện cuộc hành trình làm người và thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn qua những phân tích soi chiếu vào hệ thống ca từ của ông giúp người đọc có được cái nhìn khách quan thấu đáo hơn về Nhạc Trịnh một hiện tượng văn hóa Việt Nam hiện đại..."

Sách dày 472 trang chia hai phần chuyên luận và phụ lục. Phần chuyên luận Trịnh Công Sơn- vết chân dã tràng ngắn gọn (trang 17- 142) gồm các chương: Quá trình nghiên cứu- TCS tiếng hát dã tràng- Vết chân dã tràng ngàn năm in dấu- TCS và chiến tranh Việt Nam- TCS người tình cuộc sống- TCS người ca thơ- Kết luận và tài liệu tham khảo. Theo lời giới thiệu của GS Nguyễn Đình Chú (ĐH Sư phạm Hà Nội) ở đầu sách phần này vốn là luận văn tốt nghiệp cao học của tác giả với tên đề tài được Ban Mai chọn là "Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn". Ông nhận xét: "Đây là vấn đề cốt lõi trong nội dung ca từ của Nhạc Trịnh. Do đó nhiều bậc thầy bậc đàn anh đi trước đã nói tới và nói đến nhiều điều rất hay nhưng chưa có điều kiện nói hết. Ban Mai với yêu cầu một luận văn Thạc sĩ dĩ nhiên trên cơ sở tiếp thu thành quả của người đi trước phải có sự phát triển nâng cao bằng những phương pháp khoa học khác nữa mà kết quả đã được ghi nhận." Ở phần phụ lục (trang 143- 471) bao gồm: Danh mục các tập nhạc TCS danh mục các ca khúc TCS và đặc biệt là nội dung ca từ của 242 ca khúc do tác giả Ban Mai dày công sưu tầm chỉnh lý và lựa chọn đưa vào sách. Đây là kết quả của quá trình lao động kiên trì cực nhọc say sưa nghiêm cẩn của chị cần được tôn vinh bởi lâu nay người yêu Nhạc Trịnh không mấy ai có cơ hội tiếp cận đầy đủ gia tài đồ sộ của người nhạc sĩ tài hoa đã quá cố. Tôi đọc lướt qua 242 ca khúc được chị chỉnh lý công bố nội dung ca từ chợt có nhận xét dường như chị đã thanh lọc bớt đi nhiều ca khúc có ca từ "nhậy cảm" chăng? Không nói đến con số 300 500 hay 800 ca khúc theo lời đồn đại của công chúng nhưng tại thời điểm ra sách Ban Mai biết rất rõ 288 ca khúc được ông Phạm Văn Đỉnh (người Việt tại Pháp) công bố trên mạng Internet.

( còn tiếp )