Lễ hội cầu ngư ở Bình Định

Lễ hội cầu ngư ở Bình Định
Đất nước ta từ Nam đến Bắc mỗi dân tộc một vùng văn hoá mỗi địa phương một nét riêng phong tục tập quán.Từ lễ đâm trâu lễ bỏ mả đến ngày hội cồng chiêng của đồng bào Tây Nguyên còn có các lễ cơm mới lễ xuống đồng lễ cầu ngư của người miền xuôi và ngư dân vùng biển... Đâu đâu cũng lấp lánh vẻ đẹp văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc.

Ở Bình Định ngoài các lễ hội miền xuôi hay miền núi còn có ngày hội cầu ngư của nhân dân các xã ven biển. Tồn tại từ lâu đời lễ hội cầu ngư là nét đẹp văn hoá truyền thống vô cùng độc đáo của ngư dân. Nó phản ánh đời sống văn hoá tinh thần phong phú và những tín ngưỡng mang màu sắc huyền bí trên sóng nước.

 Từ lễ hội cầu ngư

Xuất phát từ cuộc sống lênh đênh sóng gió luôn phải đối chọi với bão tố phong ba bằng những phương tiện thô sơ thiếu thốn người dân vùng biển đành phải tin/dựa vào cõi thần linh. Hằng năm họ tổ chức lễ cầu ngư cúng "ông Nam Hải" hay cá voi để cầu xin cho trời yên bể lặng tàu thuyền ra khơi vào lộng được nhiều tôm cá. Vì luôn  phải  đối mặt vời những tai hoạ bất ngờ ập đến người dân vùng biển thường tin vào những thế lực siêu hình  cho nên lễ cầu ngư còn để cầu mong thuỷ thần những người chết sông chết biển phù hộ cho họ. 

Lễ hội cầu ngư thường được tổ chức ở lăng thờ cá voi vào dịp mùa xuân. Đây là nơi cải táng hài cốt của cá voi (cá ông) chết trôi dạt vào bờ. Ở Qui Nhơn có lăng thờ ông Nam Hải thuộc phường Trần Phú được xây dựng từ nhiều năm nay để khói hương thờ cúng thần biển. Ở  cữa biển Đề Gi xã Mỹ Thành (Phù Mỹ) cũng có lăng thờ lớn tập trung gần 100 bộ xương cá voi bày trang trọng trong các quách để thờ cúng.  

Lễ hội cầu ngư thường được tiến hành theo hai phần là: Lễ nghinh (đưa linh) tức là rước hồn các "Đức ông" cùng những người chết sông chết biển về nơi yên nghỉ. Tiếp theo là phần khởi ca với nhiều hoạt động vui chơi như múa hát đua thuyền thi bơi... Các hoạt động ở phần này phản ánh những sinh hoạt lao động của ngư dân trên trên sóng nước.  

Và chèo bả trạo 

Nét đặc sắc trong lễ hội cầu ngư là loại hình múa hát bã trạo. Chèo bã trạo như một hoạt cảnh múa hát thể hiện những sinh hoạt lao động của ngư dân  như: chèo thuyền kéo lưới hoặc đặc tả cảnh đưa linh của một đoàn thuyền chuyên chở những linh hồn oan uổng đến cõi siêu linh.

Đội chèo bã trạo thường từ 8 đến 16 người có nơi 12 đến 18 người tranh phục theo lối nghi lễ cổ và 3 vị chỉ huy gồm: tổng mũi tổng khoan (tổng trung) và tổng lái. Mở đầu lễ hội là một đoạn múa chèo thuyền. Sau khi được lệnh của tổng lái các tay chèo cùng nhảy bước một từ một hàng thành hai hàng rồi chuyển thành 4 hàng dọc. Tiếp đó họ quỳ lạy 3 lạy và bắt đầu day mái chèo. Từ động tác này ba vị chỉ huy hát theo các điệu tẩu mã nói lối hoặc hát khách hát nam. Các con trạo (bạn chèo) thỉnh thoảng phụ hoạ theo hoặc lặp lại một đoạn của các vai tuồng. Đối với chèo đưa linh lời hát thường là những câu cầu siêu mang tính huyền ảo như:                              

"Hò hò đưa linh                 

 Đưa linh phản hồi                  

Ai đem chiếc thuyền loan qua bể Bắc                  

Không cho chim nhạn đậu chốn non đoài..."        

Hoặc như:                  

"...Mau chỉnh tu bát nhã từ thuyền                  

Đưa âm linh chớ có nại phiền                  

Qua khổ ải đặng thoát vòng nghịch kiếp"   

 Thông thường nội dung các bài hát ở phần đưa linh mang nhiều tính nhân đạo thể hiện sự cảm thông thương xót đối với những người vì tai hoạ bất ngờ phải bỏ mình giữa biển.

Từ động tác bơi chải trong ngày hội đua thuyền đến động tác chèo đưa linh trong hát múa bã trạo tuy vẫn còn giữ đạo cụ là mái chèo nhưng đã được cách điệu và thay đổi cho phù hợp với nội dung điệu múa. Nếu trong bơi đua động tác phải khoẻ nhanh nhẹn thì trong đưa linh nó cần chậm rãi kính cẩn và nhẹ nhàng. 

Ở phần khởi ca vì mang tính chất là một hoạt cảnh nên buổi múa hát bã trạo diễn ra đầy đủ một quá trình đi biển từ lúc dong thuyền ra khơi cho đến lúc trở về.Trong  suốt quá trình đó đoàn chèo  có lúc phải đối chọi với bảo tố hoặc lúc biển lặng thì buông câu kéo lưới...Những động tác này gợi cho người xem cảm giác thân thuộc và lòng  yêu thương gắng bó với biển giã với nghề nghiệp. Người xem hồi hộp theo nhịp điệu  lao động căng thẳng:            

 "Ủa lạ trời dông nên mới chớp loà                  

nhìn biển lặng  phút đâu đà nổi sóng                  

bớ   đà trưởng dông! Dông! Bớ đà trưởng."           

Từ cách nói lối  phù hợp với nhịp điệu khẩn trương chuyển sang sự bình tĩnh khi đã làm chủ tay chèo lúc trời yên biển lặn với điệu vè:          

"Linh đinh sóng gió dập dồi                  

rày sông mai biển mấy hồi gian nan                  

 gian nan nhiều đàn lao lực                  

thẳng tợ đờn chín khúc quặn đau..."   

Như vậy nội dung của hát múa bã trạo  không chỉ thuần tuý cầu siêu đưa linh mà còn  là một bài ca nghề nghiệp. Đặc điểm này còn  được thể hiện  ở cách trang phục  và múa hát theo kiểu hát tuồng của các vai tổng mũi tổng lái và các tay chèo trong hát múa bả trạo.             

Đến ngày Hội lớn của cư dân 

Với nội dung sinh động  và nhiều làn điệu đa dạng(như hò vè nói lối hát nam hát khách) múa  hát bã trạo của lễ hội cầu ngư tuy không có kịch bản mới nhưng vẫn được ngư dân yêu thích. Như vậy người ta đến với lễ hội cầu ngư không chỉ đơn thuần vì tính nghệ thuật  mà còn do vì nó gắng  liền  với nghi lễ. Khán giả diễn viên và cả những người tổ chức lễ hội khi vào cuộc đều mang theo một lời cầu nguyện   sự bình yên thịnh vượng cho gia đình làng xã.      

Ở Bình Định phần lớn các làng xã ven biển đều có lăng thờ ông Nam Hải. Đặc biệt ở khu vực 1 phường Trần Phú TP Qui Nhơn và  thôn Vĩnh Lợi  xã Mỹ Thành (Phù Mỹ) có lăng thờ ông Nam Hải lớn nhất. Các lăng này đã qui tập về hàng trăm bộ hài cốt  cá voi ngày ngày có người  chăm lo hương khói  và được tu tạo hàng năm.Và đến dịp mùa xuân nhân dân các vùng Cát Khánh(Phù Cát ) Hoài Hương Tam Quan(Hoài Nhơn) Phước Thuận(Tuy Phước)... hoặc một số xã biển Qui Nhơn lại  tổ chức lễ hội cầu ngư và hát múa bã trạo.   

Mấy năm gần đây với tinh thần bảo tồn chấn hưng văn hoá dân tộc ngành văn hoá tỉnh ta đã đưa lễ hội cầu ngư vào "ngày hội văn hoá thể thao miền biển" biến tập tục của một vạn chài thành ngày hội chung của ngư dân cả tỉnh. Đi đôi với việc này ngành văn hoá   cũng đã tiến hành khôi phục nhiều nét đẹp  mang tính nghệ thuật truyen  thống   như cho tôn tạo trùng tu  lại  một số lăng thờ ông Nam Hải hoặc động viên khôi phục các  đội chèo bả trạo  phục vụ lễ hội.  

 Có thể nói đến nay lễ hội cầu ngư  cũng như loại hình hát múa bã trạo  đã tìm được một vị trí xứng đáng  trong nền văn hoá dân tộc. Bỡi trải bao thăng trầm của thời gian và thử thách những gì còn lại thường là  cái tinh tuý đáng được bảo dưỡng trân trọng.


Mai Thìn (home.nau.vn)