Lễ Hội Ngày Xuân

By Tinh Khuc Quy Nhon

Lễ Hội Ngày Xuân

Ở Bình Ðịnh ngoài lễ hội Tế Ông nhằm mồng 10 tháng năm âm lịch và lễ hội Ðổ Giàn vào rằm tháng 7 hàng năm các lễ hội khác đều được tổ chức trong mùa xuân nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Những ngày cuối năm 23 và 28 tháng chạp người ta rủ nhau mua sắm ở phiên chợ Tết Gò Chàm sang ngày mồng 1 và 2 đầu năm dân chúng có lệ xuất hành gặp nhau ở hội tết Chợ Gò rồi mồng 5 tết hẹn nhau về Phú Phong dự lễ hội Ðống Ða. Sau ngày khai hạ tại thành Bình Ðịnh có hội Hát Xuân kéo dài hai ngày hai đêm đến mồng 10 tháng giêng và mồng 6 tháng 3 có lễ hội Cầu Ngư. Và ngay cả đồng bào Thượng cũng đóng góp mừng xuân với lễ hội Ðâm Trâu được tổ chức hàng năm tại các buôn làng vùng Vĩnh Thạnh (1).

Những lễ hội thường được tổ chức ở miền quê không một lời quảng cáo hay nhắc nhở thúc dục nhưng hội nào cũng đông nghẹt người. Dân chúng từ các nơi đổ về quần áo tươm tất tấp nập các ngả đường dẫn vào lễ hội bằng đủ loại phương tiện cũng "ngựa xe như nước áo quần như nêm" (Truyện Kiều Nguyễn Du). Và với dáng điệu thảnh thơi mặt mày hớn hở chứng tỏ "Tháng giêng là tháng ăn chơi" (ca dao). Những gì chật vật trong năm cũ họ tạm quên để nới rộng việc chi tiêu sắm sửa đãi đằng vì dù sao quan niệm "có đói cũng ngày Tết có hết cũng ngày mùa" (tục ngữ) đã ăn sâu vào lối sống của người dân Bình Ðịnh.

CHỢ TẾT GÒ CHÀM

Cách thị trấn Bình Ðịnh chừng hai cây số về phía bắc chợ Gò Chàm tọa lạc trên một khoảnh đất cao rộng chừng hai mẫu tây phía bắc giáp sông cầu Chàm phía tây sát quốc lộ 1. Ngày nay nơi ấy nhà cửa mọc lên san sát lại có một bệnh xá không còn dấu vết gì một ngôi chợ lớn nhất tỉnh nhưng địa giới là cây cầu bắc qua quốc lộ 1 vẫn còn đó và vẫn giữ nguyên cái tên "Cầu Chàm" như thuở nào. Theo các vị bô lão ngày xưa chợ này tên chữ là Lam Kiều thị có dựng trụ ngay trước chợ khắc ba chữ ấy và vùng này gọi là xứ Lam Kiều thời Minh Mạng thuộc làng An Ngãi tổng Thời Ðôn huyện Tuy Viễn phủ An Nhơn. Mang tên xứ Lam Kiều vì xưa kia trồng nhiều cây chàm để nhuộm vải thế thì đúng ra phải gọi là chợ Cầu Chàm nhưng dân chúng lại quen gọi là chợ Gò Chàm. Bởi đó có người còn cho rằng chợ được lập trên vùng đất gò có nhiều mồ mả người Chàm nên mới gọi là chợ Gò Chàm.

Năm 1940 chợ Gò Chàm dời vào khu đất phía đông bắc bên ngoài thành Bình Ðịnh sát với khu phố của thị trấn và đổi danh hiệu là chợ Bình Ðịnh nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ. Chợ mới vẫn giữ vai trò lớn nhất tỉnh nhóm chợ mỗi ngày và mỗi tháng có sáu phiên vào các ngày mồng 3 8 13 18 23 28. Ngoài ra xưa nay vẫn giữ lệ phiên chợ 23 28 tháng chạp âm lịch nhóm suốt ngày đêm và đông hơn các phiên chợ khác trong năm.

Phiên chợ tết khác với phiên thường vì có nhiều người đến chợ để dạo chơi ăn uống thết đãi bạn bè và càng về đêm người dạo càng đông. Người đi chợ để mua bán cũng tăng lên gấp nhiều lần vì phiên chợ này không thiếu món sơn hào hải vị nào cần mua sắm làm cỗ dọn tết. Họ réo gọi nhau tốp năm tốp ba cùng đến chợ cho vui trong bài vè chợ Gò Chàm đã diễn tả quang cảnh rộn rịp ấy:

Bớ chị em ơi! Ði chợ
Chợ nào bằng chợ Gò Chàm
Tôm tươi cá trụng thịt bò thịt heo
Còn thêm bánh đúc bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên u
Những con cá chép cá thu
Cá ngừ cá nục cá chù thiệt ngon

Người cần mua sắm quần áo nữ trang để chưng diện trong dịp tết đến chợ Gò Chàm tha hồ lựa chọn cho vừa ý:

Những còn hàng giép hàng giày
Nón ngựa nón chóp bán rày liên thiên
Lại còn những món nhiều tiền
Cà rá hột đá dây chuyền dầu thơm...

Chợ Gò Chàm còn có riêng một khu chuyên bán súc vật quen gọi là chợ Bò. Tuy đặt tên như vậy nhưng người ta đem bán đủ loại gia súc: từ trâu bò heo dê cừu đến gà vịt ngỗng chim chóc... và có cả thú rừng mới vừa săn bắt hay đã thuần hóa; cứ đến chợ Gò Chàm nhất là phiên chợ tết là có ngay. Một đặc điểm nữa phiên chợ tết có bán gà thiến cho thịt thơm ngon mềm và béo dùng vào việc làm lễ vật rất thông dụng. Dân trong vùng có tục lệ "mồng một tết cha mồng ba tết thầy" Nào là chàng rể lễ tết cha mẹ vợ tân gia đi tết thầy địa và thợ cả dựng nhà tang gia lễ tết thầy liệm thầy cúng võ sinh lễ tết sư phụ học trò lễ tết thầy cô giáo... rầm rộ thành phong trào lễ tết hàng năm.

Trong hai phiên chợ tết Gò Chàm phiên 23 lớn hơn và vui hơn vì ngày tết tương đối còn xa đủ thời gian kịp mua kịp bán. Nhiều thương nhân từ các tỉnh khác chở hàng hóa đến bán:

Xem ra chẳng thiếu hàng nào
Quảng Nam Quảng Ngãi cũng vào cũng vô ...

Có cả những lái buôn từ miền núi chở lâm sản xuống và mua sỉ hàng hóa thực phẩm ở đồng bằng đem về xứ bán lại kiếm lời:

Buôn mọi bán rợ
Mấy chú An Khê
Ở trển đem về
Xấp trần nài rể

Phiên chợ 23 còn một điểm thuận tiện nữa vừa lúc các trường thi xong kỳ đệ nhất lục cá nguyệt chuẩn bị liên hoan chia tay về nghỉ tết. Những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 ở thị trấn Bình Ðịnh có ba trường trung học đệ nhị cấp: một công lập một bán công và một tư thục có thêm môt trường tiểu học; các thầy cô và học sinh đều rảnh rỗi họ rủ nhau dạo chợ đêm mua vài món hàng đặc sản đem về xứ làm quà tết cả nhân viên của các ngành của quận An Nhơn cũng tham gia. Nhờ thế chợ tết càng đông đúc khách dạo chen chúc với kẻ bán người mua suốt đêm dập dìu tấp nập vui không xiết kể.

Phiên chợ 28 cận ngày tết quá nhất là những năm gặp phải tháng thiếu (chỉ có 29 ngày) nên vắng khách phương xa nhưng bù lại phiên cuối năm đặc biệt có thêm chợ hoa:

Ðường cát Dương An
Ðĩa bàn nội phủ
Thêm đủ hàng hoa...

Người ta đến xem hoa mua hoa nơi hội ngộ của nghệ nhân trong vùng và tao nhân mặc khách. Ở đây có đủ loại hoa kiểng từ những cội mai núi hình thù kỳ dị đến những cành mai vườn đầy ắp nụ. Chỉ cần mua vài chậu hoa lạ đem về tô điểm cho giàn cây kiểng (2) sẵn có là thấy cảnh nhà hực hở lên rồi.

Sau phiên chợ 28 hầu như trong tỉnh không còn phiên chợ nào đáng kể nữa dân chúng cũng cần ở nhà lo làm cỗ cúng rước ông bà và chuẩn bị đón giao thừa.

HỘI TẾT CHỢ GÒ

Người ta quen gọi là Chợ Gò thật ra chẳng thấy chợ búa đâu cả. Không một túp lều các ngày trong tháng không thấy một ngày nào nhóm chơ dù chỉ vài mươi người mua bán nho nhỏ như chợ xổm cũng không có. Nơi đó chỉ là một bãi đất bằng phẳng cao ráo rộng chừng hai mẫu tây thời Minh Mạng thuộc thôn Phong Ðăng tổng Tuy Hà huyện Tuy Phước phủ An Nhơn tỉnh Bình Ðịnh nay là thôn Phong Thạnh thuộc thị trấn Tuy Phước. Nơi đây địa thế hiểm yếu phong cảnh lại hữu tình; phía đông và nam có núi Trường Úc ôm choàng phía tây giáp quốc lộ 1 cũ phía bắc có nhánh sông Tọc thuộc nguồn Hà Thanh chảy qua với bờ cao dốc có hàng cây san sát lòa xòa soi bóng. Nếu không muốn nói là đất thiêng thì ít ra trên thực tế nơi đây là bãi đất bất khả xâm phạm vì tuy gần khu dân cư đông đúc nhưng xưa nay chưa ai lấn chiếm cất nhà hay trồng tỉa hoa màu.

Tương tuyền thời Tây Sơn nơi đây dùng làm chỗ tập trận của quân đội. Bộ binh đóng đồn trên núi Trường Úc thủy quân từ đầm Thị Nại vào cửa Làng Sông rồi ngược dòng sông Tọc đổ bộ lên Trường Úc hai bên thủy bộ giáp chiến. Ðể khuây khỏa nỗi nhớ nhà trong dịp tết các tướng Tây Sơn tổ chức cuộc vui ngay trên bãi thao trường vào sáng mồng 1 và mồng 2 tết nhưng khi trời vừa xế bóng thân nhân phải ra về để binh sĩ chuẩn bị canh phòng nghiêm nhặt về đêm. Vì vậy hàng năm các gia đình binh sĩ theo lệ đến nơi đây thăm chồng con. Dân địa phương mang hoa quả thức ăn nước uống ra bán lâu năm thành lệ. Khi quân Tây Sơn tan rã nơi đây trở thành Hội Tết Chợ Gò mỗi năm chỉ hội hai ngày mồng 1 và mồng 2 tháng giêng và cũng quen lệ tan chợ vào lúc xế trưa.

Chợ Gò có tính cách hội vui xuân dân gian hơn là phiên chợ. Từ người bán đến khách hàng đều mặc quần áo mới nói cười vui vẻ mặt tươi như hoa các bà các cô phấn son trang sức lộng lẫy như dự lễ cưới. Từ mờ sáng ngày đầu năm chợ đã nhóm ai đến trước bày hàng trước ai đến sau kế tiếp thành dãy. Không ai đứng ra xếp đặt tổ chức thế mà vẫn trật tự không hề tranh giành bán buôn theo lối kẻ chợ thông thường. Người bán là những dân cư quanh vùng thu góp trong vườn mớ trái cây gánh rau cải vài buồng cau vài xấp trầu họ đem đến bán lấy hên đầu năm. Người mua không phải là thiếu thức ăn nhưng muốn đem về một cái lộc đầu năm nhất là gian hàng trầu cau các cô thường mua cầu may cho năm mới gặp duyên thắm tình nồng.

Vui vẻ nhất là các gian hàng pháo bán đủ loại nào pháo tre pháo tống pháo điển pháo chuột pháo dây pháo thăng thiên pháo bông... Ðó đây giọng lái buông chào hàng ngân nga câu vè (3) theo điệu bài chòi:

Mời chư vị giai nhần tài tử
Tới đây nghe tôi thử pháo tre
Của bán ra không phải nói khoe
Thời thực vật sắm vừa túc dụng
Có pháo nhiều đốt mới vui tình
Từ cựu thời bộc trước nhi thinh
Có pháo mới văn minh xuân nhựt
Dưới con cháu cũng vui cũng ức
Trên ông bà khỏi bực khỏi phiền
Nếu như mà cứ giữ tiếc tiền
Lấy gì đặng minh niên hỉ hả...

Năm mới người ta kiêng cữ nhất là mua phải pháo điếc đốt không nổ gây xui xẻo cho cả năm. Khai thác tâm lý ấy người bán pháo cao giọng quảng cáo hàng:...

Mua pháo này về đốt
Vốn tôi không nói tốt
Hay thật tình có một mình tôi
Nhiều người bán xảo làm mồi
Ðốt đây khá về rồi lại dở
Có kẻ làm kêu cũng đỡ
Vấn nhiều tay tôi sợ không đều
Của bán ra là biết bao nhiêu
Một mình vấn nên kêu đều đặn
Mười như chục tiếng kêu đúng đắn
Ðốt cả trăm cũng chẳng điếc câm
Tiếng nổ lên chuyển động sơn lâm
Như đại bác vang gầm trời đất
Hễ đốt thì xác tan bay mất
Không khi nào gió phất ngún hừng
Của tôi làm tôi đã biết chừng
Xin quí vị mua đừng có ngại

Các gian hàng bán đồ chơi trẻ em cũng vui nhộn không kém. Ðặc biệt nhất những sản phẩm làm bằng vật liệu địa phương thuần túy Việt Nam như gà cồ chút chít nặn bằng đất sét rỗng ruột sơn phết xanh đỏ có lỗ thổi ra tiếng kêu o... o..; trống rung (trống bỏi) thành và cán bằng tre phất bong bóng heo hay da ếch có tra hai cây đính cục chì nhỏ mỗi lần rung tạo âm thanh thật vui tai: thằng nhào lộ; cối xay lúa; cối giã gạo; tướng quân múa võ đều làm bằng tre và gỗ cây gòn. Từ cuối thập niên 60 có xen những đồ chơi bằng nhựa hoặc bằng kim loại như búp bê xe tăng tàu bay súng lục... có lẽ vì đắt giá hay chưa quen với thị hiếu nên ít thông dụng.

Những gian hàng thức ăn nước giải khát cũng góp mặt không kém. Các món đặc sản địa phương được khách hàng ưa thích như nem Chợ Huyện của bảy Ù chim mía ở Lộc Lễ rượu nếp và rượu gạo ở Trường Thuế (dân chúng quen gọi là Trường Thế) đã mãi mãi đi vào ca dao của dân tộc:

Rượu ngon Trường Úc mê ly
Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi không đành

Ðến với Chợ Gò không những để ăn uống mua rau quả để lấy lộc mua pháo để lấy hên đâu năm hoặc để thưởng thức tài viết chữ "phượng múa rồng bay" trên liễn đối mà đến với Chợ Gò còn có đủ các trò vui chơi mang màu sắc dân gian như đánh bài chòi chơi lô tô giải đáp câu thai đánh cờ tướng đá gà... Nếu ai nặng máu đỏ đen thì tha hồ sát phạt ở các sòng bài như xóc dĩa bầu cua tôm cá xì lác... nhưng phần lớn họ đến đây để gặp gỡ bạn bè trao nhau những lời chúc tụng kéo nhau đi xem chợ và khi mặt trời đứng bóng thì chia tay ra về.

Hội tết Chợ Gò đơn giản chỉ có thế nhưng rất vui đậm đà tình bạn tình quê hương; năm nào bận việc không đến được vẫn thấy tiếc. Vì thế từ sáng sớm đoạn đường quốc lộ 1 cũ từ ngả tư Phủ Mới đến ngả ba Chợ Dinh (khoảng 5 cây số) đông nghệt người đi xe chở hành khách không thể qua lại được. Muốn đến Chợ Gò phải xuống xe đi bộ vài cây số có thể dùng xe đạp hay xe gắn máy đến gần địa điểm rồi tìm chỗ gửi xe an toàn mới rảnh tay vào cuộc vui xuân.

LỄ HỘI ÐỐNG ÐA

Lễ hội Ðống Ða được tổ chức từ năm 1960 địa điểm hành lễ là Ðiện thờ Tam Kiệt Tây Sơn tại làng Kiên Mỹ (đất Tây Sơn cũ) xã Bình Thành quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) vào ngày mồng 5 tết. Ðây là lễ hội truyền thống lớn nhất tỉnh Bình Ðịnh.
Lần giở lại trang sử oai hùng của dân tộc cuối năm 1788 vua Kiền Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Trước khí thế mạnh như vũ bão của giặc ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (18-12-1788) Tư mã Ngô Văn Sở nghe theo lời bàn của Ngô Thời Nhậm cho chuyển quân từ Thăng Long về Tam Ðiệp để bảo toàn lực lượng.

Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (21-12-1788) tin cấp báo về tới Phú Xuân thì ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang ở Bàn Sơn (phía nam núi Ngự Bình) và chỉ 4 ngày sau (29 tháng 11) Hoàng đế Quang Trung cùng đại binh đã có mặt tại Nghệ An. Nhà vua cho dừng quân ở đây để tuyển thêm tân binh và hội kiến với La Sơn Phu tử.

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân đại quân đến núi Tam Ðiệp. Quang Trung tuyên bố trước tướng sĩ: "Chỉ nội 10 ngày nữa ta sẽ đuổi hết được giặc Thanh. Bữa nay ta ăn tết Nguyên Ðán trước sang xuân ta sẽ ăn tết Khai Hạ vào ngày mồng 7 ở Thăng Long" (Việt Sử Tân Biên quyển 3 trang 431).

Quang Trung chia quân làm ba đạo:

- Ðại đô đốc Lộc và Ðô đốc Tuyết lãnh hữu quân(có sách chép là tả quân) đi đường biển. Ðại đô đốc Lộc theo sông Lục Ðầu tràn lên Bắc Ninh và Bắc giang Phượng Nhãn chận đường về của giặc. Còn Ðô đốc Tuyết đổ bộ vào Hải Dương tiếp ứng cho mặt trận miền Ðông.

- Ðại đô đốc Bảo và Ðô đốc Long (có sách chép là Mưu) đem tả quân có tượng và kỵ binh tăng cường đi bọc đường núi đánh tạt cạnh sườn vào phòng tuyến địch. Ðại đô đốc Bảo mở mặt trận phía tây dùng tượng binh từ huyện Sơn Minh (phủ U¨ng Thiên trấn Sơn Nam thượng) đánh vào căn cứ địch ở xã Ðại Án Nguyệt Án (tổng Vĩnh Hưng huyện Thanh Trì phủ Thường Tín trấn Sơn Nam thượng). Còn Ðô đốc Long đem tượng binh và kỵ binh đi đường tắt từ huyện Chương Ðức (phủ Ứng Thiên năm 1814 đổi thành phủ Ứng Hòa) đến huyện Thanh Trì (phủ Thường Tín) hành quân chớp nhoáng từ tây bắc xuống nam chiếm gọn hai căn cứ Nhân Mục và Yên Quyết rồi nửa đêm mùng 4 vây kín đồn Khương Thượng. Ðề đốc Sầm Nghi Ðống nhà Thanh chưa kịp xoay trở thì mũi nhọn cảm tử quân đã phá vỡ thành xông vào như nước vỡ bờ. Ðống phải mở đường máu chạy về Thăng Long nhưng khi đến gò Ðống Ða lại bị một cánh quân của Ðô đốc Long đón sẵn bí đường hắn phải thắt cổ tự ải.

- Ðạo quân thứ ba do chính Quang Trung thống lĩnh cả ba doanh: Tiền Trung Hậu quân; có Tư mã Sở và Nội hầu Lân lãnh Tiền quân làm mũi nhọn tiên phong. Tân binh ở Nghệ An sung vào Trung quân do nhà vua trực tiếp chỉ huy. Hậu quân có Hô Hổ hầu thủ vai đốc chiến và đề phòng địch tập hậu. Ngày 30 tháng chạp đại quân vượt bến đò Gián Khuất (Ninh Bình) dùng chiến thuật đấm so đũa tức là ngược chiều tiến quân của giặc chớp nhoáng hạ các đồn Thanh Liên Nhật Tảo Phú Xuyên Hà Hồi Ngọc Hồi...

Sáng mồng năm Tết tại cung Tây Long Tôn Sĩ Nghị đang sốt ruột theo dõi mặt trận phía nam bỗng nghe tin cấp báo quân của Ðô đốc Long như trên trời giáng xuống tiến vào cửa Tây với khí thế ngùn ngụt. Nghị hoảng quá không kịp mặc áo giáp bỏ cả sắc thư và ấn tín vội nhảy lên ngựa chưa kịp thắng yên cương chạy thoát ra thành Thăng Long vuợt cầu phao qua sông Nhị Hà. Quân Thanh tranh nhau chạy theo cầu phao bị ứ nghẽn đứt dây ném cả xuống sông chết vô số kể.

Trong lịch sử Việt Nam nhiều lần đánh đuổi quân ngoại xâm nhưng chỉ có lần này quét sạch 20 vạn quân Thanh trong 5 ngày và sớm hơn dự định 2 ngày. Trên hết là thiên tài quân sự của Ðại đế Quang Trung. Bên cạnh đó có ba người góp công đắc lực:

- Một văn thần đầy mưu lược và lòng cả quyết đã thuyết phục đám võ thần theo chiến lược "Dĩ dật đãi lao" dưỡng lấy cái nhàn cho quân ta để chống lại cái mệt nhọc của giặc rất hợp ý của Quang Trung. Ðó là Hy Doãn Ngô Thì Nhậm ngôi sao sáng của sĩ phu Bắc hà.

- Một ẩn sĩ người làng Mật Thôn xã Nguyệt Ao tổng Lai Thạnh huyện La Sơn phủ Ðức Quang trấn Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh) đã hiến kế "Quân quý thần tốc" trong chiến dịch đại phá quân Thanh cũng hợp với ý nhà vua. Ðó là Lam Hồng dị nhân Nguyễn Quang Thiếp (sau bỏ chữ Quang vì kiêng húy được người đời phong danh hiệu La Sơn Phu Tử.

- Một danh tướng của miền đất võ Bình Ðịnh với chiến thuật sét đánh ngang tai uy hiếp tinh thần địch quân đến cùng độ. Chỉ một đêm Sầm Nghi Ðống sợ quá phải tự tử; chỉ một sáng dồn Tôn Sĩ Nghị phải chạy trốn một cách nhục nhã. Ðó là Ðô đốc Ðặng Văn Long tự là Tử Vân người huyện Tuy Viễn phủ Qui Nhơn (nay là tỉnh Bình Ðịnh) được người đời phong danh hiệu Ðặng Thiết Tý (cánh tay của họ Ðặng cứng như sắt).

Năm 1802 Gia Long lật đổ được nhà Tây Sơn ngôi nhà từ đường nơi ba anh em Tây Sơn chôn nhau cắt rún bị san bằng; chỉ có cái giếng là di tích còn lại. Sau nhờ sáng kiến của dân làng ngôi đình Kiên Mỹ được dựng lên trên khu đất ấy. Mặt ngoài lập đình để thờ thần nhưng trong lòng không ai bảo ai họ vẫn ngầm hiểu lập ra để thờ Tam Kiệt Tây Sơn; vì mỗi lần tế xuân thu họ không bao giờ đọc văn tế mà chỉ khấn vái thầm.

Trong thời Việt Minh (1945-1954) đình Kiên Mỹ bị phá hủy. Năm 1960 nhân dân quận Bình Khê góp công của lập đền thờ Tây Sơn trên khu đất ấy. Ðiện thờ có ba gian gian giữa thờ Quang Trung gian hai bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương cùng các tướng sĩ. Nơi đây hàng năm tỉnh Bình Ðịnh tổ chức lễ Ðống Ða số người trẩy hội lên đến hàng trăm ngàn người. Dân chúng cho rằng ăn tết mà không biết hội dân gian ở Chợ Gò là điều đáng tiếc nhưng không đi dự lễ hội Ðống Ða thì coi như năm ấy chưa hưởng trọn hương vị Tết của tỉnh nhà.

Sáng ngày mồng 5 Tết đoạn quốc lộ 19 từ ngả ba Cầu Gành đến thị trấn Phú Phong khoảng 50 cây số đông nghẹt xe cộ. Người ở Tuy Phước Qui Nhơn lên Cầu Gành bằng hai ngả đường ngang qua thị trấn Tuy Phước và thị trấn Diêu Trì. Người ở tận đèo Cù Mông thị trấn Phú Tài và tỉnh Phú Yên theo quốc lộ 1 ra Cầu Gành. Người ở huyện Vân Canh và xã Phước Thành theo liên tỉnh lộ 6 xuống Diêu Trì rồi ra Cầu Gành. Người ở cao nguyên An Túc xuống đèo An Khê rồi theo quốc lộ 19. Người ở huyện Vĩnh Thạnh thì xuôi dòng sông Côn về dự hội. Người ở tận miền bắc tỉnh Bình Ðịnh như các huyện An Lão Hoài Ân Hoài Nhơn Phù Mỹ Phù Cát cũng theo quốc lộ 1 vào Cầu Gành. Người ở An Nhơn thì từ thị trấn Bình Ðịnh đi đường tắt đến An Thái rồi qua ngả Bình Nghi đến Phú Phong.

Muốn xem trọn vẹn lễ Ðống Ða phải đến điện Tây Sơn từ trưa mùng 4 Tết vì chiều hôm đó các nghi lễ cổ truyền đã được tổ chức. Lễ tế rất long trọng cả khu vực rộng lớn cờ lọng nghi trượng rợp trời chiêng trống rền vang người xem như cảm thấy lòng mình hòa nhập vào hồn thiêng sông núi địa linh nhân kiệt. Tối hôm ấy phải ngủ trọ tại xã Bình Thành hay tốt nhất là tại thôn Kiên Mỹ để sáng sớm hôm sau kịp chen chân đến khu vực hành lễ.

Chương trình ngày mồng 5 tuy có thay đổi hàng năm nhưng các mục chính thì năm nào cũng có: Ðó là bài diễn văn ôn lại lịch sử Tây Sơn với cuộc đại phá quân Thanh biểu diễn võ thuật trống trận Tây Sơn và thao diễn trận pháp.

Tiết mục võ thuật Tây Sơn trong những năm đầu thập niên 70 người ta thường thấy nữ võ sĩ Thanh Tùng con nhà võ ba đời lừng danh đất Tây Sơn biểu diễn các bài quyền như Lão Mai Ðộc Thọ hay các bài roi như Tấn Nhất Ô Du được tán thưởng với biệt danh "Hổ cái Miền Trung".

Tiết mục nhạc võ Tây Sơn là môn nghệ thuật độc đáo của Bình Ðịnh người biểu diễn vừa phải có tâm hồn nghệ sĩ vừa là bậc võ siêu đẳng và luyện đôi tay thần diệu để tác dụng lên tròng trống vành trống và thân trống bắng cả hai bàn tay cổ tay khuỷu tay cánh tay tiếp xúc vào một bộ trống gồm 12 chiếc lớn nhỏ khác nhau gọi là Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ tạo nên những âm thanh hùng tráng khác lạ khiến người xem như bị lôi cuốn thúc dục.

Tiết mục biểu diễn chiến trận Ðống Ða lại càng hào hứng và hấp dẫn hơn nữa được tổ chức trên địa thế qui mô dàn dựng công phu tập dượt chu đáo có cả ngàn người thao diễn với cờ xí chiêng trống sắc phục đồn lũy y như cảnh thật. Người xem tưởng mình đang sống trong thời đại Tây Sơn dậy lên lòng tự hào dân tộc và từ đó muốn làm một việc gì để đời cho đất nước cho quê hương.

Lễ hội được tổ chức trong tỉnh Bình Ðịnh nhưng lại là tầm cỡ quốc gia vì có đông quan khách cấp trung ương của các ngành hành chánh quân sự văn hóa giáo dục và các nhà trí thức từ Sài Gòn ra dự.

HỘI HÁT XUÂN

Hội Hát Xuân có từ lâu có lẽ phát xuất từ lúc tỉnh thành Bình Ðịnh được xây dựng năm Mậu Thìn (1808) Gia Long thứ 7 khi khánh thành có hát mừng và từ ấy năm nào cũng tổ chức lâu năm thành lệ.

Hàng năm sau tết Nguyên đán trong tháng giêng âm lịch có lệ hát bội tại Bình Ðịnh quen gọi là Hát Xuân do quan đầu tỉnh tổ chức đám hát này lớn nhất được tổ chức chu đáo nhất diễn xuất hay nhất và khán giả cũng đông đảo nhất so với các cuộc hát xướng trong năm ấy tại tỉnh nhà.

Con hát được lựa chọn toàn đào kép thượng thặng rút ra từ các gánh hát trong tỉnh nên gọi là "hát rút". Hát Xuân cũng chỉ diễn lại các tuồng nổi tiếng như "Sơn Hậu Phụng Nghi Ðình Ngũ Hổ Bình Tây Hộ Sanh Ðàn Diễn Võ Ðình Tân Dã Ðốn Tam Nữ Ðồ Vương..." nhưng rất hấp dẫn vì đào kép xuất sắc đảm nhận từ vai chính đến các vai phụ nên diễn xuất hoàn hảo từ đầu tới cuối.

Mặc dù sân khấu đặt trong sảnh đường rộng lớn nhưng quan lại và dân chúng từ các nơi đổ về đông nghẹt phải cất nhà tạm bằng tranh tre để dung nạp quan khách có chỗ ăn uống và nghỉ ngơi. Tuy là nhà tạm nhưng cũng xén cắt mái tranh ngay thẳng trần thiết kỹ lưỡng cũng trướng rũ màn che liễn hoành rực rỡ.

Tỉnh có đội lính dàn chào để đón quan khách cờ lọng rợp trời gươm tuốt trần súng cầm tay trông thật long trọng. Ngày khai mạc có đủ mặt các quan lớn nhỏ trong tỉnh và có nhiều đại biểu từ các tỉnh khác đến dự. Hàng ghế đầu ngồi giữa là quan Tổng Ðốc bên tả có quan Bố Chánh bên hữu có quan Án Sát ngoài ra còn có các vị thượng khách các quan đại thần về hưu. Thường thì quan đầu tỉnh lãnh vinh dự cầm chầu điều khiển cuộc hát tuy nhiên cũng có khi nhường lại roi chầu cho một vị quan khác vì không rành hát bội. Các hàng ghế kế tiếp lần lượt dành cho các tri phủ tri huyện các quan hưu trí thân hào nhân sĩ các viên thơ lại rồi đến Chánh Phó tổng các chức sắc làng xã sau cùng là dân chúng đứng xem trong trật tự yên lặng. Mọi người từ già trẻ lớn bé đều phải mặc áo dài sang thì bận áo cặp trong trắng ngoài đen hèn thì cũng phải áo đơn đàn ông đội khăn đóng đàn bà chít khăn hay đội nón.

Ðám hát kéo dài suốt hai ngày hai đêm diễn hết tuồng này đến tuồng khác đào kép thay phiên nhau trình diễn liên tục. Sáng bắt đầu từ 7 giờ đến 11 giờ chiều hát từ 1 giờ đến 5 giờ tối tiếp tục từ 7 giờ đến quá nửa đêm và phải trình diễn cho hết tuồng mới thôi. Ban ẩm thực làm việc suốt ngày đêm sẵn sàng cỗ bàn mỗi ngày ba bữa chu đáo. Bò heo dê gà vịt nhốt sẵn cần thì đem ra xẻ thịt ngay.

Gánh hát nào có nhiều đào kép được quan tỉnh chọn vào đám Hát Xuân thì được nổi tiếng. Riêng cá nhân của diễn viên cũng có nhiều quyền lợi được các quan thưởng tiền trong những pha độc đáo nếu rất xuất sắc được xét ban cho phẩm hàm trong làng nghệ sĩ như chức danh Chánh ca (hàm Chánh Cửu phẩm rồi lên Tùng Bát phẩm) Phó Chánh ca Quản ca... vì thế các diễn viên thi nhau trổ tài đem hết ngón nghề ra cống hiến.

Năm 1934 dinh quan tỉnh dời về Qui Nhơn thành Bình Ðịnh giao lại cho quan Phủ tuy nhiên hàng năm quan Tổng đốc vẫn về đây chủ trì việc Hát Xuân. Lần hát cuối cùng vào xuân Ất Dậu (1945) sau đó là thời kỳ Việt Minh thành Bình Ðịnh bị san bằng và Hội Hát Xuân cũng chấm dứt vĩnh viễn.

LỄ HỘI CẦU NGƯ

Cầu Ngư là lễ hội hàng năm của dân chài chuyên nghề đánh bắt cá biển. Làng Xương Lý quen gọi là Vũng Nồm (4) tổ chúc lễ vào mồng 10 tháng giêng âm lịch còn làng Hưng Lương (4) quen gọi là Vũng Bấc lại chọn ngày mồng 6 tháng 3 âm lịch và đây là lễ hội lớn nhất trong năm của hai làng này.
Buổi chiều trước ngày hành lễ tất cả dân chài chỉ trừ phự nữ đang có kinh nguyệt không được bén mảng đến còn bao nhiêu đều phải có mặt tại lăng thờ ông Nam Hải (cá voi) và đợi quá nửa đêm cuối giờ Tí đầu giờ Sửu (1 giờ sáng) mới cữ hành lễ.

Ban tế lễ gồm vị chánh tế đứng giữa chiếu tế trực diện với chánh điện vị bồi tế đứng sau các một bước sải chân (khoảng 1 mét). Ngoài ra còn bốn học trò gia lễ mang trống chiến (mặt trống gần bằng trống chầu nhưng thân trống ngắn bằng một phần ba) từng cặp đối xứng đứng hầu hai bên án trong và hai bên tiến đường. Ban nhã nhạc gồm một người đánh trống chầu đứng bên tả và một người đánh chiêng đứng bên hữu sân tế.

Lễ vật gồm có bò heo. Các con vật chịu lễ bị trói chặt tắm rửa sạch sẽ đật nằm trên sạp trước sân tế.

Ðứng đầu ban tổ chức là vị hương lễ tuyên bố khai mạc tức thì ba hồi chín tiếng trống chầu gióng lên rồi đến ba hồi chín tiếng chiêng vang dậy. Trên bàn thờ hương trầm nghi ngút tăng thêm vẻ uy nghiêm. Bốn học trò gia lễ vừa đi vừa đánh nhịp trống từ từ tiến vào vị trí đã định sẵn. Rồi đến hai vị chánh tế và bồi tế mặc áo rộng xanh đội mũ lễ đi giày hia hai tay chắp lại cung kính tiến vào chiếu tế trước chánh điện theo nhịp trống của bốn học trò lễ.

Các đồ tể mặc áo gọn gàng buộc thắt lưng đỏ cầm dao phang bén nhọn đứng bên sạp đợi lệnh. Một lần nữa ức và cổ con vật chịu lễ được chùi sạch bằng khăn ướt và lau lại bằng khăn khô rối cắt tiết máu tươi được hứng vào thau sạch đem dâng tế Thủy thần.

Bốn học trò gia lễ đồng loạt xướng hưng bái. Khi xướng "hưng" thì hai vị chánh tế bồi tế đứng thẳng người chắp tay trước ngực. Khi xướng "bái" thì cả hai qùy xuống đầu cúi sát cho trán chạm đất. Lạy đúng ba lần học trò lễ xướng "hưng bình thân".

Xong tiết mục lễ bái vị Hương lễ đọc văn tế với đại ý cầu xin thủy thần Ðông Hải phò hộ cho trời yên bể lặng năm mới được mùa cá. Sau đó màn hát bả trạo (hát có cầm mái chèo) tượng trưng cho con thuyền ra khơi đánh cá. Ðây là loại dân ca nghi lễ ở vùng ven biển miền nam Trung Việt trình bày hoạt cảnh bơi thuyền qua nghệ thuật diễn tuồng. Diễn viên toàn là đàn ông vừa hát vừa múa nhịp nhàng theo động tác chèo lái. Ðội hình hát bả trạo gồm một Tổng tiền (tức Tổng mũi) đứng trước tiếp theo có 8 hay 12 hoặc 16 con trạo (tức bạn chèo) xếp thành hai hàng dọc một Tổng thương (tức Tổng khoang) đứng giữa hàng bạn chèo và sau cùng là Tổng hậu (tức Tổng lái). Về trang phục và trang cụ Tổng mũi và Tổng lái mặc lễ phục cổ truyền nhưng Tổng mũi hóa trang rực rỡ nai nịt oai vệ như một vị tướng tay cầm cặp sênh mặt quay về phía bạn chèo gõ nhịp điều khiển; còn Tổng lái tay cầm chèo dài khoảng 2 mét múa động tác lái thuyền. Các bạn chèo đồng phục trắng đầu chít khăn thắt lưng đỏ chân đi bít tất có quấn xà cạp tay cầm mái chèo ngắn độ 1 2 mét múa động tác chèo thuyền. Về nghệ thuật có sự phối hợp nhịp nhàng giữa âm nhạc lời ca và động tác. Về nhạc cụ ngoài cặp sênh của Tổng mũi còn có đàn cò trống kèn đệm âm. Về diễn xuất Tổng mũi phải là một nghệ sĩ biết đủ các làn điệu dân gian từ ca ngâm lý hát bài chòi phú hò đến các làn điệu hát tuồng như nói lối tán oán thán xướng hát nam...

Xong màn hát bả trạo đến lượt hát bội hát đến sáng. Vì hát lễ nên phải chọn tuồng cho hợp với sự cung nghiêm như Hoa Dung Lộ (Quan Công tha Tào Tháo) Cổ Thành (Quan Công quá quan)...

Tiếp sau đêm tế ở lăng ông Nam Hải dân làng còn tổ chức hát bội ba đêm liền nhưng dời sân khấu ra bãi cát rộng bên ngoài lăng cho mọi người xem tránh sự xâm nhập tà tạp mang ô uế đến nơi thờ phượng.

LỄ HỘI ÐÂM TRÂU

Theo tài liệu thống kê và nhân chủng đồng bào Bania (Bahnar Bana) hiện nay có 136.859 người ở rải từ Kontum Pleiku An Túc và phía tây hai tỉnh Bình Ðịnh Phú Bổn (nay thuộc Phú Yên). Dân tộc thiểu số Bana có bảy chi nhánh nhưng chỉ có ba nhánh: Alakông Tơ lô và Bơ Nam (B.Mơ Nam) là tập trung ở An Túc dọc biên giới phía tây tỉnh Bình Ðịnh và đông đảo ở huyện Vĩnh Thạnh (1).

Hàng năm từ tháng chạp đến tháng ba âm lịch dân tộc Bana theo truyền thống mở lễ hội tạ ơn Giàng (Yang) là đấng thần linh tối cao của họ. Người Bana gọi lễ ấy là Koh Kpô hay Groong Kpô Tonơi tiếng Việt gọi là Lễ Hội Ðâm Trâu.

Theo Ðặc san Văn hóa Bình Ðịnh (ấn hành tại Qui Nhơn 1992) và các tài liệu khác già làng chọn bãi đất rộng bằng phẳng thuộc địa phận buôn làng mình để dựng giàn tế (gưng) là một quân thể gồm: Một cây tre cao thẳng còn nguyên ngọn gốc được chôn vững vàng gọi là nêu sát bên cây nêu là một cột lớn rắn chắc bằng cây muôn hay cây plang cũng được chôn chặt để đỡ cây nêu và dùng vào việc buộc trâu; nhưng nếu chọn được cây săn thẳng đủ vững chắc để làm nêu thì không cần trụ buộc trâu nữa. Và quanh cây nêu còn trồng 4 hay 8 trụ gỗ tròn cao độ 3 mét đường kính khoảng 15cm. Các trụ gỗ này được bố trí theo hình hoa thị đối xứng từng cặp và trang trí thành những vành khuyên sơn màu đen trắng xanh đỏ xen kẽ nhau. Ở đầu các trụ gỗ có các thanh ngang buộc nối hai trụ lại với nhau cấu kết theo thế liên hoàn vững chắc. Dọc theo chân cây nêu có các dây buông dài tết bằng lạt tre buộc những tấm nan hình tam giác và các ống tiêu gió bằng cây lồ ô đưa vi vu trước gió. Trên cùng cây nêu có treo túi thiêng tiếp theo là cánh phướng đan bằng lạt giang biểu tượng cho chim đại bàng (kring) hình ảnh của sức mạnh và trí tuệ (5).

Lễ hội Ðâm Trâu được tổ chức trong ba ngày hai ngày đầu tại giàn tế (gưng) ngày cuối ở sân Nhà Làng (nhà Rông). Ngày thứ nhất người ta dắt một con trâu to béo đầy sức lực đến giàn tế nối cổ trâu vào cột tế (Plang Kpô) bằng một dây thừng bện thật chắc dài độ 2 mét tây. Dân trong buôn và người xem đứng bao quanh giàn tế thành một vòng tròn rộng.

Giờ hành lễ bắt đầu dàn cồng rộn rã nổi lên chen lẫn âm thanh của bộ chiêng rền vang kết hợp với bộ trống lớn (Bnưng) dồn dập dậy lên bản giao hưởng hùng tráng như tiếng gọi từ hồn thiêng ngày hội.

Các thanh niên nam nữ xếp hàng dọc tay cầm gậy múa Kơ tếch (điệu múa dành riêng cho lễ hội Ðâm Trâu) đi vòng quanh giàn tế theo chiều ngược kim đồng hồ vị tù trưởng đứng vai chủ tế dẫn đầu các vị bô lão (chừng 5 6 người) mặc lễ phục sặc sỡ từ từ tiến đến giàn tế quỳ rạo khấn vái thần Giàng (Yang). Tiếp theo bài khấn là lễ Hiến tế một bô lão mạnh mẽ nhất trong ban tế lễ tay cầm giáo tay cầm khiên bước ra khỏi hàng lựa thế đâm một nhát vào con vật tế thần. Tuy bị thương nhưng trâu vẫn còn sức mạnh cố bứt dây chạy thoát nhưng không được đành chạy vòng quanh giàn tế. Mọi người trong buôn đồng loạt hú lên rung chuyển cả núi rừng và đi quanh giàn tế đánh cồng múa hát đến chiều tối mới mãn.

Ngày thứ hai cả buôn tập trung bao quanh giàn tế để làm lễ hiến sinh. Lần này trai tráng trong buôn vào cuộc. Họ cầm vũ khí và khiên la hét dồn đuổi con trâu chạy quanh giàn tế. Họ thi nhau bắn cung phóng lao đâm giáo vào con vật tế thần. Lòng dũng cảm và sự khôn khéo của họ được thể hiện qua cách săn đuổi con mồi và phần thưởng chiến thắng dành cho chàng trai nào lựa được thế đâm thẳng tim con vật gục xuống chết ngay. Già làng cầm bát đồng hứng máu tươi hòa với rượu dâng thần linh. Tiếng hú mừng chiến thắng lại một lần nữa vang trời dậy đất.

Trâu được xẻ thịt ngay tại chỗ chọn thịt ngon và toàn bộ lá gan chia đều cho năm nhóm rồi vảy máu đã hòa rượu cung kính đật trên bàn thờ thần Giàng. Già làng đứng ra khấn bái. Xong lễ gan trâu được chia đều cho tất cả trai tráng trong buôn. Họ tin rằng ăn gan đó sẽ tăng cường sức mạnh và lòng dũng cảm vì đã có thần Giàng chứng nhận.

Ngày thứ ba túi thiêng trên cây nêu được rước về thờ ở nhà Rông đặt ngay chỗ để vò rượu chính. Già làng làm lễ khấn xong gọi mọi người đến uống rượu này vì tin rằng ảnh hưởng của túi thiêng đã hòa trong rượu uống vào sẽ tiêu trừ những rủi ro bệnh tật. Họ còn tổ chức những trò chơi thượng võ ngay trước sân nhà Rông như bắn cung đấu kiếm phóng lao đấu võ... cuộc vui suốt ngày và kéo dài đến thâu đêm suốt sáng.

Lễ hội ngày xuân ở Bình Ðịnh còn nhiều lắm vì bài viết giới hạn trong khuôn khổ trang báo không thể nêu lên hết được. Ngày nay các lễ hội như Chợ Tết Gò Chàm Hội Tết Chợ Gò Lễ Hội Ðống Ða vẫn còn đó tuy có thay đổi ít nhiều cho phù hợp với hoàn cảnh của mỗi thời đại. Hội Hát Xuân đã tắt lịm từ lâu nhưng dân chúng vẫn còn nuối tiếc. Mỗi dịp xuân về ở một vài nơi còn gắng gượng tổ chưc đám hát nho nhỏ tại địa phương. Dĩ nhiên không thể nào có được cái huy hoàng ngày cũ và cũng không thể giữ lệ đều đặn hàng năm. Lễ Hội Cầu Ngư tuy vẫn còn nhưng thu gọn lại nhiều màn diễn bả trạo đã vắng bóng còn hát bội thì năm có năm không lệ cắt tiết các con vật trước sân tế đã bỏ hẳn vì không ai muốn đem vào cuộc vui cảnh lưu huyết thương tâm.

Còn Lễ Hội Ðâm Trâu của người Bana đã rút ngắn còn một ngày đêm con vật chịu lễ được các tay thiện nghệ nhanh chóng đâm chết không còn cảnh săn đuổi kéo dài sự hãi hùng đau đớn và người dự lễ hội đỡ bị căng thẳng thần kinh vì thương cảm.


Đào Đức Chương
Nguồn: Ðặc san QUANG TRUNG & TÂY SƠN Xuân Canh Thìn 2000

More...

Hào Khí Tây Sơn

By Tinh Khuc Quy Nhon

Hào Khí Tây Sơn là tiết mục được chọn cho phần mở đầu Lễ Khai Mạc Festival Tây Sơn - Bình Định tháng 8-2008

Sáng tác : Nguyễn Gia Thiện

Trình bày: Dàn nhạc dân tộc Nhà hát tuồng Đào Tấn   Nguyễn Gia Thiện chỉ huy (conductor)


Nguồn: http://cuongde.org

More...

Ca khúc BÌNH ĐỊNH QUÊ HƯƠNG TÔI

By Tinh Khuc Quy Nhon

Mời các bạn nghe
Ca khúc BÌNH ĐỊNH QUÊ HƯƠNG TÔI
Sáng tác: NS Xuân Điềm
Trình bày: Khánh Ly



Lời ca khúc


 Ai có về Bình Định uống nước Kôn Giang nhớ người
một thời chinh Nam phạt Bắc ngàn đời dang dở Quang Trung.
 Ai có về Bình Định đất nước quê hương hùng vĩ
nghe danh chàng trai An Thái đẹp tình cô gái An Vinh.
Ai có về Bình Định gió mát trăng thanh Sa Huỳnh
dập dìu mơn man cành liễu chạnh lòng lữ khách cô liêu.
Ai có về Bình Định nhớ ghé Tam Quan một hôm
nâng ly dừa tươi thơm mát ngọt ngào câu hát quay tơ.
Ôi Bình Định mến yêu ! Bình Định vang bóng địa linh anh hùng
lưu truyền sử xanh!
Ôi Bình Định dấu yêu ! Tình quê chan chứa thương cho cuộc đời nắng mưa.
Ai về thăm Vũng Tô rừng thông xanh ngát cuộc sống an nhàn
gắn liền biển khơi.
 Ôi Bình Định dấu yêu ! Ngàn đời con cháu khắc ghi trong lòng nối chí Cha Ông.
Ai có về Bình Định nhớ mái trường xưa thanh bình
Bồ Đề Trinh Vương Cường Để - Một thời nhớ nhớ thương thương
Ai có về Bình Định nhớ ghé Quy Nhơn tìm thăm
thi nhân ngàn thu an giấc trên sườn núi đá quạnh hiu.
Ai về thăm Vũng Tô rừng thông xanh ngát cuộc sống an nhàn
gắn liền biển khơi.
 Ôi Bình Định dấu yêu ! Ngàn đời con cháu khắc ghi trong lòng nối chí Cha Ông.
 Thương nhớ về Bình Định nón lá Gò Găng năm nào
cùng người em Tăng Bạt Hổ chiều hè dạo phố Gia Long.
 Ai có rời Bình Định đốt nén hương thơm từ giã
quê hương ngàn năm yêu quý hẹn ngày đất nước yên vui.
Ai có về ai có về ai có về Bình Định - Đất nước - Quê hương.

 
Cố Nhạc sỹ La Hữu Vang

P/S: Có gì thiếu sót mong nhận được bổ sung từ các bạn. Cám ơn.
TKQN

More...

Sự ra đời của 2 ca khúc viết về Bình Định

By Tinh Khuc Quy Nhon

Sự ra đời của 2 ca khúc viết về Bình Định

Kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến nay đã có nhiều nhạc sĩ viết về Bình Định và cũng đã có một số ca khúc hay cho Bình Định như bài "Đi tìm người hát lý thương nhau" của nhạc sĩ Vĩnh An...
Tuy vậy những bài hát dễ hát và dễ đi vào lòng người thì còn hiếm.
Người Bình Định vẫn mong ước có được những bài hát hay về quê hương mình tương tự như bài "Dáng đứng Bến Tre" " Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh" của Nguyễn Văn Tý "Hà Tây quê lụa" của Nhật Lai...

Từ ngày Hội đồng hương Bình Định ở thủ đô Hà Nội được thành lập thì vấn đề "Bình Định ca" cũng được đòi hỏi nhiều hơn. Để đáp ứng yêu cầu của bà con quê hương năm 1993 theo lời GS Hoàng Chương kể thì ông có đưa cho nhạc sĩ Thuận Yến một bài thơ của Thế Kỷ viết về Bình Định khá hay và nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ thành bản nhạc với tựa đề "Vọng lời mẹ ru".
Tiếng mẹ ru từ vành nôi Bình Định
Giọng à ơ ngọt lịm những trưa hè
"Công đâu công uổng công thừa
Công đâu xách nước tưới dừa Tam Quan"
(...)

Quang Trung đất mẹ đây rồi
Trên mây anh vẫn nhớ nhớ từng lời mẹ ru.
Bài hát đã được các ca sĩ Thu Hiền Thanh Lam Thanh Huyền hát rất thành công. Riêng nhạc sĩ Thuận Yến đã tự đàn và hát trước hàng nghìn cán bộ bộ đội ở Bình Định và nhiều nơi khác ở đâu cũng được hoan nghênh.

Và năm 1995 trong dịp quốc khánh 2-9 Hội đồng hương Bình Định tại Hà Nội có yêu cầu nhạc sĩ Trần Hoàn viết một bài hát về Bình Định. Nhạc sĩ Trần Hoàn lúc này đang là Bộ trưởng VHTT quá bận công việc ở cơ quan nhưng vì nể mà nhận lời. Ông đề nghị GS Hoàng Chương chọn cho ông một số bài thơ viết về Bình Định. GS Hoàng Chương đã đưa cho nhạc sĩ 10 bài để ông tự chọn.

GS Hoàng Chương kể: "Sau một tuần nhạc sĩ Trần Hoàn gọi điện mời nhạc sĩ Thuận Yến tới nhà để nghe và góp ý cho sáng tác mới của ông. Và hôm sau giữa buổi trưa nhạc sĩ lại gọi tôi tới cơ quan bộ để nghe ca sĩ Hà Vi hát thử. Tôi thật sự xúc động khi thấy nhạc sĩ Trần Hoàn cầm đàn vừa hát vừa hướng dẫn cho ca sĩ lột tả cái thần của tác phẩm "Bình Định quê tôi".
Có một quê hương bốn mùa dậy sóng
Biển vỗ về bờ cát trắng sớm khuya
Có những vùng quê khúc ruột miền Trung
Gió bay bay trong bát ngát hương dừa
(....)

Quê tôi Bình Định ngàn xưa
Quanh năm hạt nắng hạt mưa dãi dầu
Quê tôi dừa ngọt Tam Quan
Mắm ngon Mỹ Á cá tràm Quy Nhơn
Ngày 20-10-1995 tại cuộc họp đồng hương có cả những đại biểu Quốc hội quê Bình Định tham dự ca sĩ Hà Vi đã trình bày rất thành công bài hát "Bình Định quê tôi" của Trần Hoàn (với bút danh: Hồ Thuận An) lời thơ của anh hùng không quân Nguyễn Hồng Nhị. Chủ tịch tỉnh Bình Định lúc bấy giờ là ông Tô Tử Thanh đã xúc động nói: "Đây là một trong những bản nhạc hay nhất viết về Bình Định".

Trước đó trong buổi lãnh đạo Bộ VHTT và Hội Âm nhạc Việt Nam tiếp bà Margaret Baxtresser - nữ danh cầm Mỹ khi bà hỏi nhạc sĩ Trần Hoàn: "Tôi được biết ngài Bộ trưởng rất bận công việc quản lý của một ngành rộng lớn và phức tạp vậy ngài sáng tác vào lúc nào?". Nhạc sĩ Trần Hoàn trả lời: "Vào những ngày nghỉ những khoảng thời gian đi đường dài và ngay cả lúc ngồi trên máy bay. Ví dụ bài "Bình Định quê tôi" là kết quả ngồi trên chuyến máy bay tháp tùng Tổng thống Iran từ Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Dĩ nhiên để có được những nốt nhạc ghi ra trên máy bay chốc lát là tôi đã tự tư duy suy ngẫm rất kỹ từ trước đó rồi".

Bà Margaret Baxtresser đề nghị nhạc sĩ Trần Hoàn hát bài "Bình Định quê tôi". Nhạc sĩ hát ngay và rất say sưa. Trong không khí vui vẻ Thứ trưởng Bộ VHTT Trung Kiên cũng tham gia và hát nhịp sôi nổi bà Margaret Baxtresser nói: "Tôi chưa thấy ở đâu cả bộ trưởng và thứ trưởng đều là hai nghệ sĩ có tài năng và có tác phong gần gũi giản dị như ở Việt Nam. Ấn tượng đẹp này tôi sẽ kể lại cho những người bạn Mỹ nghe và dĩ nhiên tôi sẽ biểu diễn bài "Bình Định quê tôi" cũng như tôi đã biểu diễn bài "Lời người ra đi" của nhạc sĩ Trần Hoàn vậy."

Cũng xin nói thêm sau buổi gặp gỡ đó bà Margaret Baxtresser đã đến dự họp đồng hương Bình Định để được nghe lại bài "Bình Định quê tôi" do các ca sĩ chuyên nghiệp biểu diễn và bà đã tự nguyện gia nhập Hội đồng hương Bình Định để góp phần xây dựng quỹ tài năng trẻ của Hội (do GS Bộ trưởng Đặng Hữu làm Hội trưởng).

Nguồn Báo Bình Định

More...

Di tích Nhà Tây Sơn ở Thượng đạo

By Tinh Khuc Quy Nhon

Di tích Nhà Tây Sơn ở Thượng đạo

Theo sử sách thời Trịnh - Nguyễn phân tranh Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn gồm cả phần đất phía Đông và phía Tây đèo An Khê. Phần đất bằng phẳng phía Đông gọi là Tây Sơn hạ đạo (nay là tỉnh Bình Định) và phần phía Tây có địa hình núi non hiểm trở gọi là Tây Sơn thượng đạo (nay thuộc thị xã An Khê và các huyện K Bang Đắc Pơ Kông Ch ro của tỉnh Gia Lai). Tây Sơn thượng đạo là vùng đất rộng lớn tương đối bằng phẳng xung quanh là rừng rậm tạo nên bức tường thành vững chắc. Từ Tây Sơn hạ đạo lên Tây Sơn thượng đạo chỉ có một con đường duy nhất đèo cao vực sâu hiểm trở.

Năm 1771 anh em nhà Tây Sơn chọn vùng đất này để lập doanh trại chiêu mộ quân sĩ và rèn binh. Ở đây nghĩa quân Tây Sơn nhận được sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc Gia Rai Ba Na Xê Đăng... Sau khi xây dựng căn cứ vững chắc tập hợp binh mã hùng mạnh năm 1773 nghĩa quân Tây Sơn tiến quân đánh vùng hạ đạo giải phóng phủ Quy Nhơn rồi phủ Quảng Ngãi sau đó cùng nhân dân đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh vào năm 1789.

Theo những tài liệu và dấu tích còn lưu lại có thể phác họa di tích Tây Sơn thượng đạo gồm 3 vòng tập trung chủ yếu tại thị xã An Khê ngày nay. Thôn An Lũy là vòng phòng thủ trung tâm nơi đóng chỉ huy sở của nghĩa quân nơi tập trung binh lính sinh hoạt ăn ở và rèn binh tập trận. Chỉ huy sở được xây dựng rất kiên cố gồm An Khê đình (đình Trong) và An Khê trường (đình Ngoài) xung quanh được bao bọc bằng thành cao lũy dày.

Một vùng đất gắn liền với phong trào Tây Sơn nên ngày nay các di tích ở đây được chính quyền và nhân dân gìn giữ trùng tu để tưởng nhớ công đức của tiền nhân.

Dưới đây là những hình ảnh các di tích ở Tây Sơn Thượng đạo (nay thuộc Thị xã An Khê tỉnh Gia Lai):
Dong lai
Miếu Xà (theo sử sách trên đường ra trận khi đến đoạn đường trên thì gặp con rắn Nguyễn Huệ đã giết con rắn lấy máy bôi lên lá cờ sau này nhân dân xây dựng miếu thờ gọi là Miếu Xà) ở Tây Sơn Thượng đạo bên QL 19.
Dong lai
Toàn cảnh khu An Khê Trường vừa được trùng tu.
Dong lai
Tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ trong khu di tích.
Dong lai
Ngôi đền thờ nằm trong khu An Khê Trường.
Dong lai
Bia di tích An Khê Trường
Dong lai
Cổng vào An Khê Trường.
Dong lai
Gian thờ Quang Trung - Nguyễn Huệ trong đền thờ.
Dong lai
Toàn cảnh bên trong khu di tích.
Dong lai
Ngọ môn.
Dong lai
An Khê Đình.
Dong lai
Bảo tàng Tây Sơn Thượng đạo.
Dong lai

Từ  Tây Sơn Thượng đạo nhìn xuống Tây Sơn Hạ đạo.
Văn Lưu

More...

Mời nghe ca khúc ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH ĐỊNH

By Tinh Khuc Quy Nhon

Mời nghe ca khúc ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH ĐỊNH



Xin lỗi post ca khúc nhưng không biết tên nhạc sĩ và ca sĩ mong các bạn vào nghe và bổ sung thông tin.
Cám ơn.

More...

Chùm thơ XUÂN DIỆU

By Tinh Khuc Quy Nhon

Chùm thơ XUÂN DIỆU

*Quả sấu non trên cao

Chót trên cành cao vót
Mấy quả sấu con con
Như mấy chiếc khuy lục
Trên áo trời xanh non.

Trời rộng lớn muôn trùng
Đóng khung vào cửa sổ
Làm mấy quả sấu tơ
Càng nhỏ xinh hơn nữa.

Trái con chưa đủ nặng
Để đeo oằn nhánh cong.
Nhánh hãy giơ lên thẳng
Trông ngây thơ lạ lùng.

Cứ như thế trên trời
Giữa vô biên sang nắng
Mấy chú quả sâu non
Dỡn cả cùng mây trắng

Mấy hôm trước còn hoa
Mới thơm đây ngào ngạt
Thoáng như một nghi ngờ.
Trái đã liền có thật.

Ôi! từ không đến có
Xảy ra như thế nào?
Nay má hây hây gió
Trên lá xanh rào rào.

Một ngày một lớn hơn
Nấn từng vòng nhựa một
Một sắc nhựa chua giòn
Ôm đọng tròn quanh hột...

Trái con như thách thức
Trăm thứ giặc thứ sâu
Thách kẻ thù sự sống
Phá đời không dễ đâu!

Chao! cái quả sâu non
Chưa ăn mà đã giòn
Nó lớn như trời vậy
Và sẽ thành ngọt ngon.


Xuân Diệu -11-7-1967

*Tương tư chiều


Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm
Anh nhớ em em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm.
Mà ánh sáng đều hoà cùng bóng tối.

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối:
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành:
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ

Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ
Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
Thôi hết rồi gió gác với trăng thềm
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi

Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi
(Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu).
- Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.

Xuân Diệu

*Đây mùa thu tới

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới! Mùa thu tới
với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Mây vẩn từng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Xuân Diệu - (Nguồn thica.net)

More...

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ - Tinh hoa một phái “võ chùa”

By Tinh Khuc Quy Nhon

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ
Tinh hoa một phái "võ chùa"

Nói đến võ cổ truyền Bình Định chắc hẳn không ai một lần nghe nói đến các địa danh quen thuộc như: An Thái Thuận Truyền An Vinh...Ngoài những địa danh trên thì tại Bình Định còn tồn tại một Câu lạc bộ "võ chùa" hiện còn lưu giữ nhiều thế võ cổ truyền và những bài thuốc về Y võ nổi tiếng. Nơi đây đã đào tạo các môn sinh võ sĩ trưởng thành lừng danh qua nhiều thế hệ. Chùa cũng là điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan nghiên cứu võ học biểu diễn giao lưu võ cổ truyền. Đó là câu lạc bộ "võ chùa" Long Phước Tự ở thôn Tân Thuận xã Phước Thuận huyện Tuy Phước - Bình Định do sư thầy trụ trì Thích Hạnh Hòa sáng lập hơn 30 năm qua đã góp phần tô thắm và tạo dựng nên bức tranh hoành tráng của võ cổ truyền Bình Định.

 

Hòa thượng Thích Hạnh Hòa và các môn sinh. Ảnh: Báo Đất Việt

Bình Định được mệnh danh là miền đất võ truyền thống ấy không ngẫu nhiên mà có. Nó đã được hình thành qua nhiều thế kỷ gắn chặt với sự nghiệp nhà Tây Sơn những làng võ cổ truyền tại các địa phương trong tỉnh hình thành gắn với tên lang tên xã "roi Thuận Truyền quyền An Thái; "gái An Vinh" đi quyền...với nhiều võ đường võ sư nổi tiếng như Võ đường Phi Long Vịnh Long Ngọc Phú Bửu Thắng Hà Trọng Sơn...

Môn phái võ chùa Long Phước Tự ở thôn Tân Thuận xã Phước Thuận huyện Tuy Phước (Bình Định) hiện nay tăng ni sinh võ tự của chùa còn lưu giữ rất nhiều môn võ cổ truyền. Câu lạc bộ võ chùa do thầy Thích Hạnh Hòa trụ trì chùa sáng lập vào đầu những năm 1980 không ngoài mục đích rèn luyện đào tạo tu dưỡng đạo đức sức khỏe con em trên quê hương và tăng ni sinh của nhà chùa sống "tốt đời đẹp đạo" giúp cho thanh thiếu niên hướng thiện các môn sinh học võ chùa Long Phước đều được sự đón nhận ân cần dạy bảo hướng dẫn nhiệt tình của các thầy võ miễn phí hoàn toàn. Môn sinh ở xa được nhà chùa bố trí nơi ăn ở chu đáo do vậy mà võ đường của chùa đã thu hút được nhiều môn sinh khắp nơi trong cả nước đến đăng ký học võ trong đó có cả môn sinh người ngoại quốc.

Hơn 30 năm qua tại mảnh vườn hơn 1ha của chùa ngày đêm nghe âm vang tiếng binh khí hòa lẫn tiếng nô đùa hồn nhiên của các nam nữ võ sinh luyện tập các môn võ nghệ cổ xưa những môn võ cổ truyền độc đáo như là: thảo bộ quyền roi; cùng một số binh khí như: thương đao kiếm; với các bài công đấu: roi đấu với roi thương đấu với kiếm các bài tam đấu: xa thương kiếm pháp đặng vân sát kiếm các bài thi đấu: xa thương kiếm pháp đặng vân sát kiếm các bài thi đấu: lạc mã trùng dương roi thương kiếm đao...

Được sự cổ vũ của các môn sinh sự tận tâm dạy bảo của các thầy võ cộng với nét độc đáo của môn võ cổ truyền mang sắc thái riêng "võ chùa" mà ông cha xưa qua các thế hệ lưu giữ kế thừa phát huy và sáng tạo cho nên võ đường chùa Long Phước Tự đã đào tạo thành công nhiều lớp võ sĩ trẻ như: Vạn Thanh Văn Tính Kim Huệ Trần Di Linh Nguyễn Văn Cảnh...tham gia thi đấu đạt nhiều huy chương vàng qua các kỳ Seagame nhiều võ sinh và võ sĩ được vinh dự biểu diễn tại các nước Liên Xô Pháp Ý Hàn Quốc...Với các thành tích đã đạt được chùa Long Phước được các môn phái nhiều nước trên thế giới biết đến và thường xuyên đến giao lưu và tham gia tập luyện tạo nên một nét văn hóa độc đáo mà không có một lò võ cổ truyền nào trên đất nước Việt Nam có được ngày nay. Hy vọng võ đường chùa Long Phước tiếp tục duy trì bảo tồn và phát huy nền võ học cổ truyền Việt Nam nói chung và góp phần tô thắm và tạo dựng nên bức tranh hoành tráng võ cổ truyền Bình Định trường tồn và phát triển.

.Theo Nguyệt san Du lịch & Giải Trí

More...

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ - Truy tìm pho "bí kíp điểm huyệt"

By Tinh Khuc Quy Nhon

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ
Truy tìm pho "bí kíp điểm huyệt"

(BĐ)Đó chính là "bí kíp điểm huyệt" năm đời được giới võ thuật đồn đại bấy lâu mà lão võ sư Lâm Ngọc Phú (thôn Thắng Công Nhơn Phúc An Nhơn) vị "đại chưởng môn" võ quán Bình Sơn đang nắm giữ.

Nói đến võ Tây Sơn không ai không biết câu truyền miệng "Roi Thuận Truyền quyền An Thái". Roi Thuận Truyền ý nói bài roi kì ảo của võ sư Hồ Ngạnh (nay đã thất truyền) còn bài quyền Lâm Gia của dòng họ võ sư Lâm Ngọc Phú được mệnh danh "Quyền An Thái ngã vô song" (không có bài nào hay hơn).

 

Lão võ sư hé lộ bản dịch "pho bí kíp".

Pho bí kíp gìn giữ năm đời

Lão võ sư Bảy Phú cho biết pho bí kíp võ thuật của gia đình đã trải qua năm đời với trên ba trăm năm tuổi. Trong bí kíp có nhiều thế võ khá "độc" trong nhà chỉ có con trai trưởng hoặc người con trai nào đủ tài đức mới được quyền xem qua còn con gái tuyệt nhiên là không vì sợ lan truyền ra ngoài. Trải qua thời gian ngày nay bản chữ Hán mục nát rất nhiều nên lão võ sư quyết định lên chùa Núi Lớn (Bình Định) mời cho bằng được nhà sư Huyền Ân nổi tiếng đức cao vọng trọng dịch ra tiếng Việt. Trước khi trao lại cho võ sư Phú nhà sư còn nắn nót ghi lên bìa sách dặn dò chủ nhân "Giá ngàn vàng không đổi...".

Lão võ sư tiết lộ: Thật ra đây là một quyển bí kíp y võ (dùng võ thuật để chữa bệnh) cực kì hiệu quả nhưng nếu không khéo để lọt vào tay kẻ xấu nó sẽ biến thành vũ khí giết người. Bởi người "xuất chiêu" hiểu rõ kinh mạch đối phương như lòng bàn tay thậm chí ra đòn xong biết rõ đối thủ sẽ chết trong một giờ một tuần hay một tháng...

Giống cha là võ sư Hương Kiểm Lài lừng danh đất Tây Sơn lão võ sư Bảy Phú nổi danh là một thầy thuốc võ mát tay. Biết bao võ sinh mang ơn những phương thuốc bí truyền từ pho bí kíp giúp họ thoát khỏi thương tật tưởng chừng không chữa khỏi.

Độc cô cầu bại" đất Tây Sơn

Theo các bậc tiền bối võ học ngày xưa các võ sĩ muốn khẳng định tên tuổi chỉ có cách thi đấu võ đài tự do (không kể cân không phân biệt tuổi tác môn phái...). Lão võ sư kể có lần ông bước lên đài giao đấu cùng một võ sĩ người Miên cao to có tiếng "sát thủ" với nhiều thế võ "độc" từ miền Nam . Sân Qui Nhơn chật kín khán giả đến nỗi sập cả cửa ra vào bên dưới để sẵn... một cái quan tài để nếu có võ sĩ nào chết cũng không được khiếu kiện (!).

Vào trận tay võ sĩ người Miên sử dụng toàn võ lạ. Suốt một hiệp đầu chàng võ sĩ đất Tây Sơn toàn chống đỡ những cú đá liên hoàn cùng các đòn tay mạnh như búa bổ cố tìm ra điểm yếu của địch thủ. Sang hiệp hai ông phát hiện khi đối phương tung cước thì bộ thủ rất chắc nhưng hở ngực nên lừa thế tung người sử dụng bài "Mạnh Lương đoạt ngựa" kẹp người đối phương quăng vào góc đài rồi bồi thêm một chỏ vào khuỷu tay khiến hắn đau đớn chịu thua...

Vào cái thời cả làng võ thuật lấy võ đài làm thước đo "đẳng cấp" ấy chàng trai Bảy Phú thượng đài chưa từng nếm mùi thất bại nên được làng võ kính nể gọi bằng biệt danh "Độc cô cầu bại đất Tây Sơn".

Chữ Tâm kia bằng ba chữ Tài

Lão võ sư Bảy Phú nhẩm tính gần 50 năm từ ngày võ đường Bình Sơn mở cửa không thể nhớ hết có bao nhiêu lứa học trò từ Nam chí Bắc. Trải qua thời gian làng võ An Thái vang bóng một thời với hàng chục lò võ nhưng hiện nay chỉ còn sót lại võ quán Bình Sơn vẫn còn duy trì. Không kể lứa võ sinh lớn lên ở làng An Thái vẫn hàng ngày tập luyện tại võ quán thỉnh thoảng ông lại đón số học trò tận miền Nam có khi ở Tây Nguyên nằng nặc xin theo học. Sau khi có bản dịch phần y võ xong ông quyết định sẽ đốt quyển "bí kíp điểm huyệt" đi vì "nếu gặp người có Tâm có Đức nó sẽ giúp người rất nhiều còn ngược lại vào tay kẻ ác cái hại khôn lường".

.Theo MT

More...

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang

By Tinh Khuc Quy Nhon

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang

SGTT - Từ thành phố Quy Nhơn đi hơn 20km đường liên thôn ngang qua tháp Đôi nổi tiếng về mặt kiến trúc qua mộ nghệ nhân tuồng Đào Tấn gần tới nhà tưởng niệm của thi sĩ Xuân Diệu dọc theo hai bên ruộng lúa nếu gặp đúng mùa trổ đòng nữa thì con đường tới quán bánh xèo quả thật là con đường hương đồng gió nội đưa ta trở về với quê hương tuổi thơ đầy kỷ niệm.
.

Cái quán ấy nằm khiêm tốn dưới chân cầu Mỹ Cang thuộc thôn Gò Bồi xã Mỹ Cang huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định. Quán là căn nhà cũ kỹ vách tường gạch mộc nền đất nện mái rạ lợp thưa đã qua vài mùa mưa nắng. Quán nhỏ không có bảng hiệu diện tích chỉ đủ đặt hai bàn cho 5 - 7 thực khách. Bên hông quán là luỹ tre xanh có dòng sông nước đục lặng lờ trôi như bao miền quê khác.

Chúng tôi ngồi ngoài sân để được hưởng làn gió thật không phải gió quạt máy hay máy lạnh thoảng nhẹ trong một buổi sáng yên bình chờ bà chủ quán tuổi hơn 70 đứng trong bếp ám khói đúc từng cái bánh xèo đường kính cỡ lòng bàn tay khách ăn đến đâu thì đúc đến đấy.

Bánh được dọn ra nóng hổi thơm giòn. Bánh không pha bột nghệ và nước cốt dừa như bánh xèo miền Tây của bà Mười Xiềm nổi tiếng mà chỉ thuần chất bột gạo ngâm xay tay béo ngậy nhờ chiên với mỡ trên bếp củi. Mỗi cái bánh trắng trong có chừng mười con tôm chín đỏ au và hành chẻ xanh mướt làm nhưn. Chén nước chấm là nước mắm cốt pha với chanh đường tỏi ớt giã nhuyễn. Dĩa rau sống điểm xanh non những lá xàlách nhỏ xinh.
 

Mùa này đang có xoài nên món bánh xèo được cho thêm những sợi xoài vàng đượm giòn giòn chua chua ngọt ngọt chất tinh bột của loại quả chín già trên cây. Một món truyền thống không thể thiếu của miền Trung là dĩa bánh tráng nhúng mềm mại. Bánh tráng dùng để gói bánh xèo rau sống xoài chua. Chấm cả cuộn bánh vào nước mắm cay nồng ngọt đậm bạn sẽ thấy thấm thía vì cái dẻo dai của loại gạo dùng tráng bánh đã nâng đỡ tất cả mùi vị làm cho bạn cảm nhận được những tinh tuý của lúa gạo rau trái và tôm cá từ sông nước Gò Bồi.

Quán bán hàng ngày từ khoảng 7 giờ sáng đến 9 giờ là hết hàng. Dù có khách nài thêm bà cũng không làm vì bột gạo xay và tôm tươi được chuẩn bị có chừng mực. Bà tên Lê Thị Thu người bản địa mở quán bán từ năm 1976 vì chỉ có một người con trai tên Tuấn chưa có vợ ở với bà nên những người quen biết đều gọi là bà Năm Tuấn.

Mỗi sáng bà dậy xay bột giã tỏi ớt pha nước chấm trong khi anh con trai đi chợ thôn Gò Bồi mua rau và tôm tươi mới chài lưới từ dòng sông. Tôm con nào cũng còn sống nhảy tanh tách. Đi chợ về thì bà và anh Tuấn lặt rau cắt râu đuôi tôm và bắt đầu chiên bánh. Có khi con tôm đưa lên khuôn đúc còn nhảy nên bánh được thực khách đặt tên là bánh-xèo-tôm-nhảy chớ bà Năm và anh Tuấn thì chỉ cười hiền lành khi nghe mọi người trầm trồ khen bánh ngon quá là ngon.

Nếu khách là người ở xa tới thì nên đặt trước để bà chuẩn bị đủ nguyên vật liệu cho số người sẽ ăn và cái chính là không sợ đến muộn phải về không. Dù cái bánh nhìn không lớn nhưng mỗi người ước lượng ăn chừng hai ba cái là "no chết xác" nói như người ở đây.

Đi về hơn 40km nếu xuất phát từ thành phố Quy Nhơn nhưng đi rồi bạn sẽ thấy rất đáng đồng tiền bát gạo. Tại trung tâm thành phố Quy Nhơn và tại một con đường lớn của TP.HCM chúng tôi cũng thấy có vài quán trưng biển giới thiệu món bánh-xèo-tôm-nhảy nhưng chắc cái ngon lành của vị tôm tươi của bột gạo xay chiên giòn thật giòn chấm với nước mắm tỏi ớt hoà quyện cái dẻo mềm của bánh tráng nhúng của rau thơm mướt xanh cộng với ngọn gió đồng mát rượi từ ruộng lúa thẳng cánh cò bay... thì bảo đảm không có cái quán nào ở nơi thị tứ bắt chước được!

Điều thú vị nữa khi đến đây bạn sẽ được đắm mình trong cái quán thật thấy bụi tre thật con sông thật chớ không phải là một không gian nhân tạo vay mượn từ công trình kiến trúc giả cổ phục dựng ở các resort khu vui chơi nghỉ dưỡng... mà ngày nay khách du lịch phải làm bộ coi như thật để tự an ủi cho nhu cầu về nguồn của mình.

Một đặc điểm nữa của quán đó là cái dáng tảo tần của bà Năm giống như bao nhiêu bà mẹ quê nhà cùng sự ân cần niềm nở của anh Tuấn như một người trong gia đình chờ đón những người anh em đi xa mới về làm cho ai đến quán một lần đều thấy nhớ như nhớ quê hương bản quán của mình. Trong nỗi nhớ đó có cái lo hơi xa xôi. Lỡ một mai khi bà Năm trăm tuổi già thì ai sẽ là người nối tiếp để cho cái mái rạ bên dốc cầu Mỹ Cang mỗi sáng còn bốc lên làn khói bánh xèo thơm phức chờ đón những người đi xa lâu lâu mới được trở về.

bài và ảnh: Nguyễn Thị Anh Thư

More...