Sign up

Tré – món ăn phổ biến của người dân Bình Định.

tinhkhucquynhon | 13 January, 2012 09:28

Tré – món ăn phổ biến của người dân Bình Định.

Bình Định không chỉ nổi tiếng với bánh ít lá gai, nem chợ huyện hay chim mía Tây Sơn mà vùng đất võ này còn có món tré được rất nhiều người biết đến.

Tré được làm từ thịt heo tươi gói trong lá chuối tươi ở Quảng Ngãi hay tré gói lẫn với thịt bò của người Đà Nẵng, Huế, nhưng không ở đâu món tré lại thơm ngon và được mọi người biết đến nhiều như ở Bình Định.

Vẫn tuân thủ nguyên tắc truyền thống là tré làm từ thịt heo và được chế biến thêm nhiều thứ mắm muối, gia vị để lên men như món nem chua, nhưng món tré lại được kết hợp với những nguyên liệu khác nhau như thịt heo thủ, thính, mè… đó chính là sự khác biệt về hương vị. Chính bởi thế, khi thưởng thức, bạn sẽ thấy tuyệt vời, khác hẳn với tré ở những vùng đất khác.

Tré ngon đầu tiên ở khâu chọn thịt. Thịt ở đây có thể là thịt ba chỉ, hoặc thịt heo thủ. Đầu tiên phải làm sạch thịt, và luộc chín, rồi xắt lát mỏng, sau đó cho vào ướp với các loại gia vị: riềng, tiêu, mè, muối…

Món tré Bình Định hội tụ đủ ngũ vị như: mặn, ngọt, chua cay và vị chan chát thích thú của lá ổi non. Để tré ngon, khi gói phải ủ thật kỹ trong nhiều lớp: bên trong là lá ổi, bên ngoài là lá chuối, phía ngoài ủ thêm ít rơm rạ, buộc thật chặt phía ngoài thì ba, bốn ngày có thể dùng được. Nhờ cách gói công phu này khiến cho món tré Bình Định có thể để được lâu trong nhiều ngày, đặc biệt, trong những ngày lễ Tết, đây là món không thể thiếu trong mỗi gia đình người dân đất võ, và là món quà không thể thiếu cho người xa quê.

Dưới đây là một số hình ảnh hấp dẫn về TRÉ bó rơm Chợ Huyện – Bình Định :

Một bó rơm 5 cây treo.

Một bó rơm 5 cây nằm.

Một cây nằm chẳng nên non .

Hai cây cũng vậy chẳng thành cái chi.

Ba cây chụm lại nên “hòn núi” cao.

Nguyên cây nguyên đai chưa bung.


Bung rơm.

Bung bóng.

Bung lá ổi .

Bung ruột Tré:

Lên dĩa vuông:

Lên dĩa bàn
Nguồn: Cường Để Nữ Trung Học 68-75

“ Những giọt tháp chăm ” Bình Định : một không gian mở - Thanh Thảo

tinhkhucquynhon | 20 October, 2011 12:00

“ Những giọt tháp chăm ” Bình Định : một không gian mở
                                                                                      Thanh Thảo

Mùa hạ năm 1984, Văn Cao lần đầu tiên sau giải phóng vào thăm Bình Định. Ở Qui Nhơn, nhà thơ-nhạc sĩ thiên tài này đã viết được một “chùm ba thơ” : Qui Nhơn 1, Qui Nhơn 2, Qui Nhơn 3. Và một cảm giác kinh ngạc đã đến với Văn Cao khi Ông lần đầu nhìn ngắm những Tháp Chàm: 

Từ trời xanh
Rơi
Vài giọt Tháp Chàm
Quanh Qui Nhơn
Tôi
Như đứa trẻ yêu huyền thoại

Tôi có thể nói, nếu trong lần đầu tiên ấy Văn Cao lại đến với những Tháp Chàm ở Thánh địa Mỹ Sơn, Ông sẽ không thể viết được câu thơ xuất thần: “ Từ trời xanh/Rơi/Vài giọt Tháp Chàm/”, đơn giản vì ở Mỹ Sơn, quần thể Tháp Chàm là “một trận mưa rào” chứ không là những “giọt mưa” đơn lẻ. Chính cái “tính cách nhỏ giọt” của bản-đồ-Tháp-Chăm-Bình-Định đã cho Văn Cao những câu thơ tuyệt vời, khi Ông cảm nhận được sự bất chợt, nhịp rải và tính ngẫu hứng của bố cục nơi những Tháp Chăm ở Bình Định đã tạo nên một không gian mở cho người thưởng ngoạn. Điều thứ 2 là chính vị trí tọa lạc của những ngọn Tháp Chăm Bình Định đã cho Văn Cao một cảm xúc khác lạ khi nhìn ngắm: hầu hết những Tháp Chăm Bình Định đều được xây trên đỉnh những ngọn đồi, ở những vị trí cao nhất của những vùng đất mà chúng ngự trị. Khác với những Tháp Chăm ở Mỹ Sơn được xây xúm xít trong lòng một thung lũng như một lòng chảo parabole, cũng khác với nhiều ngọn Tháp khác ở Quảng Nam được xây ở vùng đất bằng. Không có điều kiện để nhìn ngắm cả 7 cụm Tháp với 13 ngọn Tháp ở Bình Định, mà chỉ nhìn được một số ngọn Tháp vươn cao trên đỉnh đồi, là một nhạc sĩ, Văn Cao hình dung chúng vút lên như những nốt thăng, nhưng là một nhà thơ, Ông lại cảm thấy chúng như những giọt mưa bất chợt, những giọt mưa tình cờ và bí ẩn rơi xuống vùng đất Bình Định. Hai cảm giác trái chiều ấy thực ra đã tồn tại song song khi chúng ta thưởng ngoạn ở một tầm nhìn tương đối rộng quần thể những cụm Tháp Chăm ở xứ này. Vút lên là những lời nguyện cầu, và rơi xuống như những ân phước, nhưng những nghệ sĩ Chăm xưa khi xây nên những ngọn Tháp (kalan) này còn vì một lẽ cao hơn những lễ nghi tôn giáo hay sự sùng bái những vương triều: họ tạo tác cái Đẹp với niềm tin nó sẽ trường tồn cùng cuộc sống con người. Những Tháp Chăm ở Bình Định bao giờ cũng tìm được một vị trí thuận lợi nhất để tự thể hiện mình, nhưng cũng như bất cứ cái Đẹp nào, bao giờ chúng cũng tạo một khoảng cách với người chiêm ngắm. Những nhà khảo cổ và nghiên cứu nghệ thuật Chăm đánh giá những cụm Tháp Chăm Bình Định đã đạt tới độ chín muồi của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, và đã dung hoà được những phong cách nghệ thuật Champa và Khmer khiến chúng khác với những quần thể Tháp Chăm có trước và sau chúng. Là một người thưởng thức nghệ thuật không có chuyên môn chuyên biệt, tôi thử đặt mình như một du khách từ phương xa du lịch tới vùng đất Bình Định, và những ngọn Tháp Chăm kỳ lạ ở đây đã mở ra trước tôi một không gian chiêm ngắm rộng. Tôi thấy gì từ cái không gian nghệ thuật mở ấy ?

alt
Tháp Dương Long - Bình Định,
ảnh Đào Tiến Đạt

Một niềm tin sâu xa vào chất liệu đất: Nói đến Tháp Chăm là nói đến sự độc đáo của chất liệu xây nên chúng: đó là gạch Chăm. Gạch Chăm cũng làm từ đất sét như mọi loại gạch khác, nhưng nó bí ẩn đến mức chúng ta không biết người nghệ sĩ Chăm xưa đã khắc tạc trực tiếp lên gạch sống hay gạch chín? Vì những nhát khắc quá ngọt ngào trên chất liệu, vì cái cảm giác đất nung quá ấm áp và gần gũi mỗi khi ta chạm tay vào cơ-thể-gạch của ngọn Tháp đã truyền cho ta cái niềm tin qua hàng nghìn năm về sự bền bỉ của một chất liệu không trường cửu là gạch nhưng vĩnh cửu là đất. Với người nông dân và người nghệ sĩ Chăm xưa, đất đã là tôn giáo của họ, đã là chất liệu chính để họ hình dung ra nghệ thuật và cái Đẹp. Tôi nghĩ, nếu những ngọn Tháp Chăm này được xây bằng đá, nó có thể khiến ta kính nể, khiến ta an tâm về độ bền vững, nhưng sẽ không làm ta cảm thấy chúng gần gũi thân thiết đến thế! Và không cho ta sự kinh ngạc đến thế, rằng vì sao trải qua hàng nghìn năm với bao biến thiên bao tai họa mà những ngọn Tháp-đất-nung này vẫn tồn tại ? Lại thêm một lý do nữa để tôi yêu những ngọn Tháp Chăm Bình Định.

Sống chan hoà giữa đời sống: Tôi chưa được đi thăm hết 7 cụm Tháp Chăm Bình Định, nhưng chỉ qua 3, 4 cụm hay ngọn Tháp đơn lẻ mà tôi biết, Tháp Chăm Bình Định luôn hiện ra trong tôi hình ảnh của một người bộ hành đi bộ qua không gian và xuyên thời gian. Người-đi-bộ-vĩ-đại ấy lại luôn chọn điểm dừng – dù trên cao – giữa những xóm làng bình dị, nơi cuộc sống lặng lẽ hay trào cuộn trôi qua với những người nông dân mộc mạc. Sống chan hoà giữa đời sống là một đặc điểm nổi bật của những Tháp Chăm Bình Định, nếu so chúng với những ngọn Tháp ở Thánh Địa Mỹ Sơn chẳng hạn. Bớt chất Đạo mà thêm chất Đời, và cuối cùng chỉ hiện lên như cái Đẹp thuần túy giữa đời thường, những ngọn Tháp Chăm Bình Định là thế! Vì vậy, cách tốt nhất để bảo tồn những ngọn Tháp này là để chúng tiếp tục sống không cách biệt với những xóm làng, những người dân, những sinh hoạt bình thường. Và nếu có thể, xin hãy chọn ra và phục dựng quanh những cụm Tháp những ngôi làng mang dáng vẻ cổ xưa, với nhà lá mái, với những vật dụng sinh hoạt xưa cũ và bình dị của người nông dân Bình Định – cũng là của người nông dân Chăm và Việt xưa. Đó cũng là cách bảo tồn một không gian nghệ thuật sống mà những Tháp Chăm là những điểm nhấn quần tụ và kết nối. Nếu hình dung cả 7 cụm Tháp Chăm Bình Định rải ra trong không gian như một tác phẩm của nghệ thuật xếp đặt (Installation Art), ta sẽ thấy chùm “Đại hùng tinh” (Constellation) này rải ra trên địa giới của 3 huyện và 1 thành phố: Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước và Qui Nhơn. Đó đều là những vùng đất cổ, và đều là những điểm du lịch sáng giá trong tương lai gần. Chính không gian mở của “Thất hùng tinh Tháp Chăm” này khiến cách thưởng ngoạn Tháp Chăm Bình Định khác với cách thưởng ngoạn Tháp Chăm ở những địa phương khác thuộc miền Trung. Chỉ có Quảng Ngãi là vùng đất từng tọa lạc những Tháp Chăm có bố cục “không gian mở” như ở Bình Định. Tiếc thay, toàn bộ Tháp Chăm ở Quảng Ngãi đã bị san phẳng, không phải bởi thời gian hay mưa a-xít, mà bởi con người. Bây giờ ở đó chỉ còn những nền Tháp bị vùi sâu trong lòng đất.

alt
Tháp Phú Lốc - Bình Định,
ảnh Đào Tiến Đạt

Mãi mãi là bí mật: Với 13 ngọn Tháp còn lại, Bình Định là địa phương thứ 2 sau Quảng Nam sở hữu được nhiều Tháp Chăm nhất nước ta. Thánh Địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Nhưng quần thể Tháp Chăm Bình Định không hề là “ bản sao” của Mỹ Sơn. Nghệ thuật đích thực, ở những tác phẩm mang nhiều vẻ tương đồng nhất, vẫn là những cá thể dị biệt. Cũng giống như những nhà nghệ sĩ, dù ở bất cứ thời nào, không ai giống ai. Hệ thống Tháp Chăm Bình Định là những tác phẩm kiến trúc - điêu khắc độc đáo và độc sáng. Nếu niên đại của chúng được xác định là từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 12, thì tuổi thọ của chúng đã ngót nghìn năm. Bây giờ, sau bao nhiêu tìm tòi, nghiên cứu, khảo tả của các nhà chuyên môn, nhưng nếu ta hỏi: bản chất của những Tháp Chăm là gì ? Thì câu trả lời sẽ là: bí ẩn. Những Kim Tự Tháp Ai Cập là bí ẩn. Và những Tháp Chăm, đặc biệt là những Tháp Chăm Bình Định, là bí ẩn. Như một tác phẩm nghệ thuật trường tồn với thời gian, mọi sự giải mã đều làm sáng lên những mặt khác nhau của nó, nhưng mãi mãi nó là bí mật. Tháp Chăm Bình Định chỉ có 4 mặt, nhưng nó là muôn mặt. Đó chính là sự cuốn hút kỳ lạ của nó. Tôi có thể nói, 7 cụm Tháp Chăm Bình Định đã không chỉ tạo một không gian mở, mà còn tạo cho không gian này một từ trường đặc biệt. Từ trường này không đậm đặc như ở Mỹ Sơn, bởi nó là từ trường mở, nhưng nó sẽ có sức lan toả rất mạnh một khi được kết nối. Tôi tin là tỉnh Bình Định, được sự giúp sức của cả nước, sẽ làm được việc kết nối này. Bình dị như đất và bí ẩn như đất – đó chính là bản chất của “những giọt Tháp Chăm” Bình Định.

 

   
Thanh Thảo

KHÚC CA BÌNH ĐỊNH - Sáng tác Vũ Trung. Trình bày tốp ca

tinhkhucquynhon | 20 October, 2011 11:20

KHÚC CA BÌNH ĐỊNH

Sáng tác: Nhạc sĩ Vũ Trung - Trình bày tốp ca

Lật qua trang giấy mới
Tôi viết thành bài ca
Về Bình Định quê ta
Một bài ca thiết tha mặn mà
Lật qua trang giấy mới
Nghe tâm hồn phơi phới
Nghe hương nồng dâng dâng
Như thấy cả quê hương
Đang sống, sống lại yêu thương
Từng bao năm chiến đấu
Vẫn mối tình thủy chung
Về mảnh đất Quang Trung
Vẫn còn đây áo vải cờ đào
Trải qua bao giông bão
Nay quê mình đẹp sao
Cả đất trời xôn xao
Bừng sáng khắp mọi non sông
Từ Cù Mông cho đến Bình Đê
Từ An Khê xuôi về Thị Nại
Ta về thăm lại nơi chiến khu xưa
Vết đạn còn loang trên mỗi thân dừa
Bình Định ơi, non nước trời mây. Cùng dựng xây, quê mình Bình Định
Với cả nghĩa tình sông núi quê nhà. Hát gửi bài ca về Bình Định quê ta

Mời vào nghe, bấm vào đường link: VÀO ĐÂY

alt

Tháp Cánh Tiên - Bình Định,
ảnh Đào Tiến Đạt

Cá Diếc Nam An và tô bánh canh

tinhkhucquynhon | 26 June, 2011 19:59

Cá Diếc Nam An và tô bánh canh

Từ chợ Dinh theo đường 19 về hướng thị trấn Tuy Phước chừng hơn cây số, là những lũng nước tù nằm dọc hai bên đường, những ngôi nhà thưa thớt. Đi sâu vào trong chừng vài trăm mét bên tay phải là xóm Nam An, thuộc xã Phước Hậu nơi có một nhà thờ công giáo bị hư hỏng nặng trong chiến tranh.

Vùng Nam An thừa hưởng dòng nước từ sông Trường Úc chảy qua các cánh đồng và đổ về đây. Các mương nước với bề ngang chừng vài mét, nước đục và đối lưu nên cá khá nhiều. Đặc điểm vùng này rất nhiều cá Diếc, thuộc họ cá trắng ( hơi giống với cá mè Dinh ở Nam bộ ) cỡ thường gặp là bằng bàn tay xòe chừng ba bốn lạng một con.
Trong các loại cá trắng thì cá Diếc là loại cá cao cấp, nếu cá Chép dưới nửa ký thì giá thấp hơn cá Diếc.
Tôi thường chài từ Nam An đi ra hướng bắc đến cầu bến Gỗ. Nếu một bữa chài mà bắt được chừng 7 -8 con cá Diếc bằng bàn tay là coi như hôm đó chài trúng mánh. Dân chài chúng tôi thường bán loại cá này cho các quán ăn tại bến xe Chợ Dinh, và thậm chí có khi ở phố Quy Nhơn cho các nhà giàu và công chức thời đó.
Tại ngôi nhà có cây me to ngay cái cống trên chợ Dinh bên phải chừng trăm thước ( nay là cây xăng ), có một ông Cụ rất thích ăn cá Diếc. Khi thấy tôi đi qua ông đều hỏi có cá Diếc không ?. Một bữa nọ khi bán cá cho ông xong, thì có một cơn mưa rất dai và nặng hạt nên tôi trú lại nhà ông chờ tạnh mưa để về. Khi dọn cơm thì tôi thấy tô canh có con cá Diếc mà tôi bán. Đảo mắt nhìn thì chỉ có con cá và mấy cọng rau răm, ngoài ra không có gì khác. Nước canh trong veo nhìn rõ từng vảy cá ( cá này không đánh vảy khi ăn ). Sau này tôi hỏi người con gái của ông thì được biết là món cá Diếc nấu ngọt với rau răm. Thật sự cho đến giờ tôi cũng không biết các quán ăn người ta nấu cá Diếc với món gì ? chẳng lẽ đơn giản thế sao ?
Còn cá Diếc con cỡ ngón tay cái thì khác ! Một bữa đi chài mà được chừng vài ba chục cá Diếc con còn sống thì là ngon rồi. Tôi từng chứng kiến cách ăn như sau : Cá Diếc khi mua của chúng tôi về họ nhốt trong một cái thau to vài ngày, thay nước liên tục nhằm mục đích cho cá nhả ra các chất bẩn có trong bụng : Họ làm món gỏi cá Diếc. Cá phải còn sống bơi trong thau, khi ăn họ bắt từng con bỏ vào miệng và ăn kèm với các loại lá như ổi, đinh lăng và rau răm. Rau sống phải có cải non và nước chấm phải là nước mắm đục ( loại nước mắm chưa đến ngày để rút và nhỏ giọt như mắm nêm). Hẳn nhiên không thể thiếu vài xị đế cho nó ấm bụng. Vì thế, khi đi chài ở vùng này chúng tôi thường phải mang theo cái gàu nhựa, để chứa cá Diếc sống.
Cá Diếc con thường có nhiều vào tháng 9,10 âm lịch. Thỉnh thoảng nhờ có cá Diếc con, mà chúng tôi được tham gia vào các bữa nhậu bánh xèo, bánh xèo của người dân vùng này. Không hiểu sao những ngày mưa to, gió lớn, tôi thấy bà con vùng này hay xay bột đổ bánh bèo và bánh xèo. Có thể là “phong tục” của người Tuy Phước chăng ?.

Nếu không rẽ vào Nam An, đi thẳng lên chừng vài trăm mét ta gặp một cái cầu ( cách cầu số 7 chừng non cây số ), ngay đầu cầu bên này phía tay phải có một cái quán nhỏ bán bánh canh. Đây là cái quán mà tôi có muốn quên cũng không thề quên nổi. Chủ quán thời đó là một phụ nữ chừng hơn ba mưoi tuổi, quê của chị ở thôn Tùng Giản xã Phước Hòa ( gần Gò Bồi ) và có chồng ở vùng này.
Tôi nhớ một tô bánh canh ( đã bánh mà còn canh nghe lạ lạ ) thời đó rẻ lắm, chắc chắn nó rẻ hơn một ổ bánh mì. Chỉ cần đưa chị chủ quán chừng một mớ cá trắng, là đã có thể no bụng bằng bánh canh.
Không biết tại sao với món bánh canh người ta không bao giờ múc bằng tô lớn, chỉ là tô vừa vừa thôi. Ngày đó, để ấm bụng tôi ăn có bữa 4-5 tô mà vẫn thấy thèm. Bánh canh được làm bằng bột gạo, sợi bánh canh săn dài to bằng đầu đũa. Khi ăn tôi ít thấy người ta không dùng đũa hay muỗng, mà bưng tô húp… sợi bún chạy vào miệng kêu sột…sột ..

Dù bánh canh ở đây không thể ngon hơn ở quê tôi là vùng biển, có sẵn các loại tôm để làm bánh canh. Những điều gì thuộc về tuổi ấu thơ đều đi sâu vào tâm khảm của mỗi con người.
Tô bánh canh với những con tôm đỏ rực phơi mình trong tô, chả cua và lớp nhụy sắc rực rỡ trên mặt tô. Tô bánh canh thơm lừng mùi của bột, mùi hành, mùi tiêu…

Tô bánh canh, món ăn gửi gắm cả một hoài niệm về tuổi thơ, về một vùng đất thân thương : Tuy Phước

Hà An Mỹ

Hào phóng thềm lục địa - NGUYỄN THANH MỪNG

tinhkhucquynhon | 21 June, 2011 08:46

Hào phóng thềm lục địa

Chúng tôi đã vùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ 
Nào yến sào ngọc trai, nào đồi mồi san hô, nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng 
Tuy nhiên, hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông
Và câu chữ dâng lên linh hồn những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng 

Dường như hãy còn quá mỏng
Dù điều ấy, có thể các anh không quan trọng! 

Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương
Sau dòng điện nghẹn ngào về Bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt
Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách
Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ
Thả vào diễn đàn sấm rung chớp giật
Những siêu thực, những tượng trưng, những hậu hiện đại, những tân hình thức
Bên cạnh việc đem tên những hành tinh lộng lẫy trên thiên hà ra mà lăng xê nhau
Thậm chí ai đó còn mang những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể con người ra mà phỉ báng nhau 

Dù điều ấy, các anh không hề biết! 
Những tiện nghi, những ngôn từ, những điều kiện sinh tồn tối thiểu của đời người
Các anh cứ giản lược hồn nhiên
Quen việc căng thân mình đầu sóng gió
Quen cơn bão đánh tên bằng con số
Tít một xóm làng còn có mẹ cha
Những tóc bạc lặng thầm mỗi đêm giao thừa, mỗi ngày kỵ giỗ
Người vợ trên đất liền của anh phải biết cách làm thế nào để không hóa đá
Đứa con trên đất liền của anh phải học cách chống chọi với sự trống trải của căn nhà thiếu đàn ông trước khi học chữ
Người yêu trên đất liền của anh bần thần trước chiếc nhẫn đính hôn…
Thửa ruộng xưa đất liền
Ngõ phố xưa đất liền
Và bao nhiêu thứ
Phải biết giấu nỗi đợi trông ở góc bờ nào? 
Giữa lúc các anh thương nhớ cồn cào
Thèm một bát canh thiếu phụ
Thèm những tiếng trẻ bi bô bịt mắt bắt dê
Thèm nắm bàn tay người mình yêu tung tẩy dưới những giọt mưa
Chúng tôi ung dung tìm cách vặt lông bóng ngựa thời gian trong quán nhậu
Chúng tôi phức tạp hóa một khái niệm bình thường như kiểu dát kim cương cho cào cào châu chấu
Hoặc lột trần những thần tượng ra cợt nhả tung hê vết sẹo, nốt ruồi…
Cái cách các anh đón bão thế nào
Sẵn sàng trước tàu chìm giàn sập
Quấn quốc kỳ vào người vĩnh quyết
Kết chùm phao hoặc nhường can nhựa cho nhau trong lúc hết đợt sóng này đến đợt sóng kia quăng ngang quật dọc
Chúng tôi khó mà học được
Khi trời nước điên cuồng
Mọi trường phái cao siêu cũng thành bất lực
Mặt biển thiên đường hôm qua, hôm nay thành địa ngục 

Ngày nào các anh đã chọn lựa cho mình một tuổi trẻ hiên ngang trước thềm lục địa lênh đênh
Ngày nào các anh đã ăn nhín nhịn thèm, dành nước ngọt và sữa đường cho những nạn nhân bốn phương trời các anh vừa cứu sống
Ngày nào các anh ươm bầu bí trong mây, trồng rau trên sóng
Chúng tôi rồng rắn trước thiên đình
Dựng một khát khao gây men hùng hồn cho đàn voi tư tưởng
Chui qua lỗ kim trại sáng tác Đà Lạt, Đại Lải, Nha Trang, Tam Đảo, Vũng Tàu…
Thậm chí đôi lúc cao hứng còn nhân danh đại diện cho dân tộc và nhân loại, thề độc
lúc lồm cồm trong căn phòng điều hòa rượu bia ngất ngưởng
Những giá trị trường tồn của muôn đời sẽ được cất cánh bi hùng trong trường ca
và tiểu thuyết trường thiên
Nếu không trao cho chúng tôi giải Nobel
Viện Hàn lâm Thụy Điển đích thị đồ mù lòa
Kẻ nảy mực cầm cân hóa quân thối tha vất vưởng 

Những vòng nguyệt quế ơi, xin người hãy anh minh
Tìm địa chỉ những tâm hồn hào phóng
Dẫu các anh chỉ còn là gió sóng! 

Chúng tôi đang hướng mặt về phía các anh
Đặng tìm ra một khoan dung tỉnh thức
Nghe những cơn bão điên cuồng vẫn khôn nguôi phía trước
Những dự án nhập nhằng ẩn danh vì dân vì nước

Tiếng đồng tiền chảy vô két bọn ma-phi-a
Thật xúc phạm nếu đem so với tiếng sột soạt của đồng lương phong phanh thời lạm phát
Của đau đớn đồng tiền tử tuất
Bìu ríu cõi dương trần 

Chúng tôi đã đi bao nhiêu ngày đàng, đọc bao nhiêu pho sách để kiên trì thức cùng trang viết
Nhưng khó mà học được cách bền gan của người thân các anh
Có một người cha từ miền Bắc đi dọc về Nam ghé những bến cảng mà con mình
từng trải qua ngắn ngủi đời lính hải quân
Có một người vợ, có một đứa con vẫn quen ngồi viết thư và quen ra ngõ chờ thư
Có một người yêu vẫn đêm đêm lau chùi mặt nhẫn
Cầu ước nụ hôn xưa
Như chiếc mỏ neo buông vào lòng cảng
Có thể nào nguội tắt niềm hy vọng
Họ thắp đến cạn cùng ngọn lửa tin yêu
Rằng các anh lưu lạc ở một ghềnh thác An Tiêm hay Robinson nào đó
Sẽ đột ngột trở về dù ba trăm sáu lăm ngày, ba nghìn sáu trăm năm chục ngày, hoặc lâu hơn nữa
Sẽ trở về với con thuyền dưa đỏ
Bày lên mâm cỗ Nguyên đán những căn nhà giàn DK1 đoàn M71 đồng đội các anh
trước khi về với mẹ cha, về với vợ con
Tiếng reo dội suốt trời cao biển rộng
Lúc ấy như thực thụ những chiến binh, chúng tôi đã đi dọc Trường Sa Hoàng Sa, dọc những đảo nổi đảo chìm, dọc theo nhiều biến động
Chúng tôi không đẽo gọt ký tự mỹ miều của những kẻ trùm chăn
Chúng tôi không ù òa ảo thuật với mớ triết luận cũ rích lăng nhăng
Không cưỡng bức thiên nhiên bằng ngôn từ hóa chất
Chúng tôi vừa giở lịch sử nước nhà vừa bước theo dấu chân của người lính Bãi Cát Vàng
đôi chiếu đòn tre đi khai thác tài nguyên mấy trăm năm trước
Dựng câu thơ thành cột mốc chủ quyền
Rằng cha ông vươn mình ra biển lớn
Chểnh mảng nào cũng đắc tội với tổ tiên 

Những đọi máu truyền đời qua bài văn tế sống
Hưng vong những vương triều vận mệnh chốn tiền duyên… 

Chúng tôi vùa rất nhiều muối của đại dương làm gia vị cho những bữa tiệc thơ
Dù một nghìn câu, có thể chín trăm chín chín rưỡi câu hãy còn nhạt thếch
Dự báo cuồng phong vẫn không ngừng
Nghiệp văn chương khắc nghiệt này không cho phép chúng tôi khôn ngoan ẩn nấp theo cách người mưu sinh, đem băng hoại đến từng trang viết
Đồng đội các anh sẽ không khó khăn nhiều khi vớt chúng tôi lên và lai dắt phương tiện
hành nghề của chúng tôi như lai dắt những nạn nhân
Rồi nhường cho sữa đường, nước ngọt
Nhường chỗ ngồi tốt nhất trong khoang tàu nơi câu lạc bộ sĩ quan
Khi cập bờ chúng tôi sẽ khóc
Chúng tôi không mất tăm vào lòng biển nhưng mất tăm trước định mệnh văn đàn
Dù chúng tôi tiếp tục hò hét lập lòe tiếp tục được tài trợ rong ruổi vênh vang
Tiếp tục vỗ ngực xưng tên nhân danh cát bụi bùn lầy trong khi tìm mọi cách chui vào lầu son gác tía
Tiếp tục tự lìa xa chân trời trượng nghĩa
Có thể chúng tôi canh cánh món nợ vô hình trong sa mạc lãng quên
Dù các anh không hề đếm xỉa 

Hào phóng thềm lục địa!

Vũng Tàu-TP Hồ Chí Minh, tháng 6-2008
Nguyễn Thanh Mừng (Nguồn Quân đội nhân dân)


Mắm ruột mà quệt cà giòn...

tinhkhucquynhon | 18 June, 2011 21:44

Mắm ruột mà quệt cà giòn...

Mắm ruột mà quệt cà giòn
Ăn hoài ăn huỷ cũng còn muốn ăn...
Mắm ruột là món ăn đơn giản, dễ làm nhưng đậm đà vị quê huơng. Nhiều người nhớ quê qua vị mắm đằm thắm từ kí ức trỗi dậy...

Ở miệt ven biển Bình Định, món mắm ruột rất phổ biến.
Mua được con cá ngừ lớn khoảng 2 ký các bà nội trợ giỏi có thể làm được món mắm ruột ngon lành. Nguyên liệu là tất cả ruột cá, cả phần máu, vắt lấy thêm nước mang cá. Người kỹ mổ bỏ thức ăn trong bao tử cá. Lưu ý các khâu đạt yêu cầu vệ sinh mà tránh dùng nước rửa càng tốt. Để mắm thơm ngọt hơn nên gỡ thịt một lát cá bồi vào. Bỏ tất cả hỗn hợp này vô lọ thuỷ tinh với một lượng muối hột (ít hơn muối cá một chút) rồi đem dang nắng.
 Ngày hè nắng tốt, ba bốn bữa là được. Nhà phố có thể hong bên bếp. Lọ mắm chuyển từ màu đỏ tươi sang đỏ bầm rồi nâu đen, để càng lâu càng rõ màu đen. Khi ăn, múc lượng mắm cần cho ngày, bỏ thêm thịt mỡ cắt hạt lựu và củ hành tím xắt dày, bắc lên lửa liu riu cho dẻo lại là thành món. Có thể nêm ít bột ngọt hoặc đường (tuỳ khẩu vị) cho dịu mắm. Lúc trên bếp mắm sì sụp bong bóng là mùi thơm rất đặc trưng lan tỏa khắp nhà, lập tức đánh thức mọi kiểu dạ dày đã từng ghiền hay chưa ăn mắm ruột bao giờ.
Ăn với cơm nóng đã là ngon. Vị nhân nhẩn của gan mật, vị ngọt nhẹ của thịt cá, chút béo miếng mỡ hạt lựu và kín đáo hương hành tím, và nhất là mùi thơm rất riêng, rất quyến rũ của mắm ruột… thì thâm thẩm trên lưỡi đậm đà lắm! Trôi cơm lắm!
Nhưng mắm ruột ăn kèm với các thứ rau mới tuyệt dách. Cà pháo cà dĩa sống ăn mắm ruốc đã ngon nhưng ăn với mắm ruột nghe chừng mắm ruốc phải nhường đôi phần. Cà xắt miếng trong nước muối loãng cho bớt độc tố, rồi xếp trong đá lạnh mươi phút cho mát cho dòn xong quệt với mắm ruột. Hương vị mắm cộng với chút ngọt chát giòn mát của cà cứ bắt ăn nối tiếp.
Thêm hai thứ rau hăng nồng, đậm vị rất ưa mắm ruột là cải xanh và xà lách xoan. Tất nhiên là ăn riêng từng loại rau. Cải xanh hai lá nhám chỉ ngắt bỏ gốc, gắp cả nùi rau to miếng mới đã, mới thấy sự bổ sung chất cay cay hăng nồng lên mũi. Xà lách xoan ngoài cái hăng nồng còn tăng thêm vị nhẩn khá hợp với mắm.
Cà pháo cà dĩa sống ăn mắm ruốc đã ngon nhưng ăn với mắm ruột nghe chừng mắm ruốc phải nhường đôi phần.

Mắm ruột là món ăn đơn giản, dễ làm nhưng đậm đà hương vị quê hương.

Độc đáo nhất vẫn là ăn với khổ qua. Khổ qua xắt mỏng ngâm lạnh ăn kèm chà bông là món nhậu nhẹ khá ngon nhưng để ăn cơm phải là khổ qua mắm ruột. Hai vị đăng đắng này hoà quyện rất cừ khôi để tạo ra cái hậu cứ ngon ngót trong cổ. Bạn hãy thử, một nguyên liệu như đã nói trên sẽ đủ cho bốn lần ăn với các thứ rau khác nhau. Và có thể danh mục món ăn kèm sẽ được phát kiến nhiều hơn.
Dạo trước, cách đây chừng mươi năm, ven hồ sinh thái Đống Đa có quán Bờ Hồ – quán này có hai món tuyệt chiêu là lẫu cá chua và mắm ruột - cà dĩa. Riêng món mắm ruột thì thật sự thượng hạng. Tuy chỉ là món phụ trong thực đơn nhưng lại chiếm được cảm tình của vô số thực khách. Quán này nay đã dẹp, nhưng mỗi khi nhắc đến mắm ruột, nhiều người vẫn nhắc đến “Bờ Hồ”.
Mắm ruột nay đã được chế biến, sản xuất hàng loạt, đóng lọ bán trên thị trường. Có đôi chỗ người ta kho mắm có gia thêm chút đường cho dịu. Ai không hạp vị ngọt đường nên chịu khó tự làm lấy. Một chút công để được một món ăn tận dụng và ngon miệng, dân dã mà sành điệu kể cũng đáng tự hào lắm chứ. Đúng không?

Lê Hoài Lương (Theo Báo Bình Định)

Văn hóa ẩm thực Bình Định

tinhkhucquynhon | 15 June, 2011 12:30

Văn hóa ẩm thực Bình Định

Bình Định được các địa phương trong nước mến mộ không chỉ vì hùng khí "Tây Sơn" một thời, hoặc sự chịu đựng khắc khổ "tiếng đồn Bình Định có tài. Nấu một chén gạo nồi hai cũng đầy".

Bình Định có địa hình đa dạng: núi, biển, trung du và đồng bằng nhỏ, có lắm sản vật ẩm thực nổi tiếng và đã từng là cố đô của nhiều vương triều phong kiến xưa; là trung tâm giao lưu văn hóa cả nước và thế giới. Người Bình Định lại giàu óc sáng tạo trong chế biến món ăn ngon để thưởng thức và trao đổi với các nơi khác.
Nhiều nơi trong nước làm bánh lá gai. Nhưng Bánh lá gai của Bình Định gọi là bánh ít lá gai. Bánh ít lá gai làm từ bột nếp thơm ngon, giã nhuyễn với đường và nước vắt từ lá gai tươi, giữa có nhân đậu xanh hay sợi dừa trắng tinh, gói như bánh ú, hấp chín bằng thưng. Bánh ít lá gai ăn vừa ngon ngọt, vừa để được vài ba ngày không ôi. Người các miền khác đã khéo ca ngợi món ăn nổi tiếng này bằng câu ca dao:
"Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi"
Cũng như nem chua Bình Định là món ăn ngon, và hấp dẫn. Nem chua làm bằng thịt nạc giã nhuyễn, ướp với nước mắm ngon gói lá vông ta ở trong, và nhiều lớp lá chuối bên ngoài để vài ngày ăn thơm ngon. Nem không chỉ dùng nhậu trong các tiệc tùng, cưới hỏi, giỗ kỵ mà còn là món ăn thông dụng dân dã. Nhưng phải nem sản xuất tại thị trấn Bình Định hay chợ Huyện (Tuy Phước) mà chấm tương của hiệu Ngưỡn Quan, Nhãn Con Rồng (Đập Đá) hoặc của nhà hàng Thập Tháp (Nhơn Thành), nhấm với rượu ngon mồi thích thú
"Nem chua chợ Huyện nướng phồng
Chấm tương Thập Tháp, con rồng Ngưỡn quan"
Nem chua thị trấn Bình Định chỉ sánh với rượu ngon của làng Tân Dân, "Nem chua Bình Định, rượu bầu Tân Dân". Rượu ngon Bình Định là rượu rót ra chén sóng sánh bọt (hay nổi kìm) thật lâu mới tan hết. Rượu ngon uống vào cổ họng có vị ngọt. Ngoài các làng Tân Dân, Bàu Đá (An Nhơn) còn có nhiều xã ở Phù Mỹ cũng nấu rượu nồng độ cao. Rượu này thường dùng cho y học.
"Rượu ngon Trung Thứ (Mỹ Chánh) uống say gật gù". Và trong những món ăn ngon còn có chình nấu ám. Nấu ám là nấu ninh chình với các gia vị. Nhưng phải là chình mun bắt ở đầm Châu Trúc, Mỹ Đức, Phù Mỹ được người sành ăn chấp nhận. Chình đen là một trong những chủng loại thủy sản nước lợ, có mình to, tròn, ngắn và trơn như lươn. Chình ăn vừa ngon vừa bổ dưỡng.
"Đầm Châu Trúc nước xanh biêng biếc,
Gạch tôm cua chi xiết mặn nồng
Chình mun nằm sát đáy sông
Sài Gòn, Hà Nội, Hồng Kông cũng thèm"
Những đặc sản như thơm (dứa), mít của Hoài Ân, xoài tượng của An Nhơn, Tây Sơn… ăn tươi đã rất ngon. Nhưng qua bàn tay chế biến càng có nhiều món ăn mặn mà tình quê.
"Mùa hè đến chốn Thạch Khô (Hoài Ân)
Mắm thơm, rau mít, dựa kề thịt nai"
Nếu người các vùng khác nhớ quê hương qua hình tượng "nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương", người Bình Định ở vùng trung du, huyện Phù Cát đi xa nhớ về quê hương với món ăn quen thuộc mà hấp dẫn:
"Thạch Bàu (Cát Hiệp), nhớ gỏi đa đa
Hội Sơn (Cát Sơn) rượu nếp, mắm cà Soi Duyên (Cát Hiệp)"
Cũng như ở vùng biển vào dịp trời yên bể lặng ta sẽ được thưởng thức món ăn đặc sản gỏi cá Phường Mét (Mỹ Thắng), nhớ gỏi cá thu. Gỏi cá thường dùng cá cơm, cá thu, cá rựa… xắt nhỏ lạng bỏ xương (trừ cá cơm) ướp với nước mắm ngon và gia vị, nhúng vào lẩu nước dấm, nước dừa đun sôi rồi vớt ra bát ăn với rau mùi, bánh tráng, nhấm tí rượu Bầu Đá, còn gì thú vị hơn
Ở Bình Định, mỗi địa phương đều có những món ăn đặc sản hợp với khẩu vị của người vùng đó và cũng thích thú đối với các người vùng khác.
Người Bình Định hay khách vãng lai, nếu chưa được thưởng thức món ăn đặc sản quê hương chế biến từ sơn hào hải vị địa phương này cũng chưa hiểu hết con người và đất đai Bình Định.

(Theo baobinhdinh.com.vn)

Lễ Hội Ngày Xuân

tinhkhucquynhon | 09 February, 2011 21:58

Lễ Hội Ngày Xuân

Ở Bình Ðịnh ngoài lễ hội Tế Ông nhằm mồng 10 tháng năm âm lịch và lễ hội Ðổ Giàn vào rằm tháng 7 hàng năm, các lễ hội khác đều được tổ chức trong mùa xuân, nhiều nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Những ngày cuối năm, 23 và 28 tháng chạp người ta rủ nhau mua sắm ở phiên chợ Tết Gò Chàm, sang ngày mồng 1 và 2 đầu năm dân chúng có lệ xuất hành gặp nhau ở hội tết Chợ Gò, rồi mồng 5 tết hẹn nhau về Phú Phong dự lễ hội Ðống Ða. Sau ngày khai hạ, tại thành Bình Ðịnh có hội Hát Xuân kéo dài hai ngày hai đêm, đến mồng 10 tháng giêng, và mồng 6 tháng 3 có lễ hội Cầu Ngư. Và ngay cả đồng bào Thượng cũng đóng góp mừng xuân với lễ hội Ðâm Trâu được tổ chức hàng năm tại các buôn làng vùng Vĩnh Thạnh (1).

Những lễ hội thường được tổ chức ở miền quê, không một lời quảng cáo hay nhắc nhở thúc dục, nhưng hội nào cũng đông nghẹt người. Dân chúng từ các nơi đổ về, quần áo tươm tất, tấp nập các ngả đường dẫn vào lễ hội bằng đủ loại phương tiện cũng "ngựa xe như nước, áo quần như nêm" (Truyện Kiều, Nguyễn Du). Và với dáng điệu thảnh thơi, mặt mày hớn hở, chứng tỏ "Tháng giêng là tháng ăn chơi" (ca dao). Những gì chật vật trong năm cũ họ tạm quên để nới rộng việc chi tiêu, sắm sửa, đãi đằng vì dù sao quan niệm "có đói cũng ngày Tết, có hết cũng ngày mùa" (tục ngữ) đã ăn sâu vào lối sống của người dân Bình Ðịnh.

CHỢ TẾT GÒ CHÀM

Cách thị trấn Bình Ðịnh chừng hai cây số về phía bắc, chợ Gò Chàm tọa lạc trên một khoảnh đất cao, rộng chừng hai mẫu tây, phía bắc giáp sông cầu Chàm, phía tây sát quốc lộ 1. Ngày nay, nơi ấy nhà cửa mọc lên san sát lại có một bệnh xá, không còn dấu vết gì một ngôi chợ lớn nhất tỉnh, nhưng địa giới là cây cầu bắc qua quốc lộ 1 vẫn còn đó và vẫn giữ nguyên cái tên "Cầu Chàm" như thuở nào. Theo các vị bô lão, ngày xưa chợ này tên chữ là Lam Kiều thị, có dựng trụ ngay trước chợ khắc ba chữ ấy và vùng này gọi là xứ Lam Kiều, thời Minh Mạng thuộc làng An Ngãi tổng Thời Ðôn huyện Tuy Viễn phủ An Nhơn. Mang tên xứ Lam Kiều vì xưa kia trồng nhiều cây chàm để nhuộm vải, thế thì đúng ra phải gọi là chợ Cầu Chàm nhưng dân chúng lại quen gọi là chợ Gò Chàm. Bởi đó, có người còn cho rằng chợ được lập trên vùng đất gò có nhiều mồ mả người Chàm nên mới gọi là chợ Gò Chàm.

Năm 1940, chợ Gò Chàm dời vào khu đất phía đông bắc bên ngoài thành Bình Ðịnh, sát với khu phố của thị trấn và đổi danh hiệu là chợ Bình Ðịnh, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ. Chợ mới vẫn giữ vai trò lớn nhất tỉnh, nhóm chợ mỗi ngày và mỗi tháng có sáu phiên vào các ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28. Ngoài ra, xưa nay vẫn giữ lệ phiên chợ 23, 28 tháng chạp âm lịch nhóm suốt ngày đêm và đông hơn các phiên chợ khác trong năm.

Phiên chợ tết khác với phiên thường vì có nhiều người đến chợ để dạo chơi, ăn uống, thết đãi bạn bè và càng về đêm người dạo càng đông. Người đi chợ để mua bán cũng tăng lên gấp nhiều lần vì phiên chợ này không thiếu món sơn hào hải vị nào cần mua sắm làm cỗ dọn tết. Họ réo gọi nhau tốp năm tốp ba cùng đến chợ cho vui, trong bài vè chợ Gò Chàm đã diễn tả quang cảnh rộn rịp ấy:

Bớ chị em ơi! Ði chợ
Chợ nào bằng chợ Gò Chàm
Tôm tươi cá trụng thịt bò thịt heo
Còn thêm bánh đúc bánh xèo
Bánh khô bánh nổ bánh bèo liên u
Những con cá chép cá thu
Cá ngừ cá nục cá chù thiệt ngon

Người cần mua sắm quần áo, nữ trang để chưng diện trong dịp tết, đến chợ Gò Chàm tha hồ lựa chọn cho vừa ý:

Những còn hàng giép hàng giày
Nón ngựa nón chóp bán rày liên thiên
Lại còn những món nhiều tiền
Cà rá, hột đá, dây chuyền, dầu thơm...

Chợ Gò Chàm còn có riêng một khu chuyên bán súc vật, quen gọi là chợ Bò. Tuy đặt tên như vậy nhưng người ta đem bán đủ loại gia súc: từ trâu, bò, heo, dê, cừu đến gà vịt, ngỗng, chim chóc... và có cả thú rừng mới vừa săn bắt hay đã thuần hóa; cứ đến chợ Gò Chàm, nhất là phiên chợ tết là có ngay. Một đặc điểm nữa, phiên chợ tết có bán gà thiến, cho thịt thơm ngon mềm và béo, dùng vào việc làm lễ vật rất thông dụng. Dân trong vùng có tục lệ "mồng một tết cha, mồng ba tết thầy" Nào là chàng rể lễ tết cha mẹ vợ, tân gia đi tết thầy địa và thợ cả dựng nhà, tang gia lễ tết thầy liệm, thầy cúng, võ sinh lễ tết sư phụ, học trò lễ tết thầy cô giáo... rầm rộ thành phong trào lễ tết hàng năm.

Trong hai phiên chợ tết Gò Chàm, phiên 23 lớn hơn và vui hơn vì ngày tết tương đối còn xa, đủ thời gian kịp mua kịp bán. Nhiều thương nhân từ các tỉnh khác chở hàng hóa đến bán:

Xem ra chẳng thiếu hàng nào
Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng vào cũng vô ...

Có cả những lái buôn từ miền núi chở lâm sản xuống và mua sỉ hàng hóa, thực phẩm ở đồng bằng đem về xứ bán lại kiếm lời:

Buôn mọi bán rợ
Mấy chú An Khê
Ở trển đem về
Xấp trần nài rể

Phiên chợ 23 còn một điểm thuận tiện nữa, vừa lúc các trường thi xong kỳ đệ nhất lục cá nguyệt, chuẩn bị liên hoan, chia tay về nghỉ tết. Những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, ở thị trấn Bình Ðịnh có ba trường trung học đệ nhị cấp: một công lập, một bán công và một tư thục, có thêm môt trường tiểu học; các thầy cô và học sinh đều rảnh rỗi, họ rủ nhau dạo chợ đêm, mua vài món hàng đặc sản đem về xứ làm quà tết, cả nhân viên của các ngành của quận An Nhơn cũng tham gia. Nhờ thế, chợ tết càng đông đúc khách dạo chen chúc với kẻ bán người mua, suốt đêm dập dìu tấp nập, vui không xiết kể.

Phiên chợ 28, cận ngày tết quá, nhất là những năm gặp phải tháng thiếu (chỉ có 29 ngày) nên vắng khách phương xa nhưng bù lại phiên cuối năm đặc biệt có thêm chợ hoa:

Ðường cát Dương An
Ðĩa bàn nội phủ
Thêm đủ hàng hoa...

Người ta đến xem hoa, mua hoa, nơi hội ngộ của nghệ nhân trong vùng và tao nhân mặc khách. Ở đây có đủ loại hoa kiểng, từ những cội mai núi hình thù kỳ dị đến những cành mai vườn đầy ắp nụ. Chỉ cần mua vài chậu hoa lạ đem về tô điểm cho giàn cây kiểng (2) sẵn có là thấy cảnh nhà hực hở lên rồi.

Sau phiên chợ 28, hầu như trong tỉnh không còn phiên chợ nào đáng kể nữa, dân chúng cũng cần ở nhà lo làm cỗ cúng rước ông bà và chuẩn bị đón giao thừa.

HỘI TẾT CHỢ GÒ

Người ta quen gọi là Chợ Gò, thật ra chẳng thấy chợ búa đâu cả. Không một túp lều, các ngày trong tháng không thấy một ngày nào nhóm chơ, dù chỉ vài mươi người, mua bán nho nhỏ như chợ xổm cũng không có. Nơi đó chỉ là một bãi đất bằng phẳng, cao ráo, rộng chừng hai mẫu tây, thời Minh Mạng thuộc thôn Phong Ðăng tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước phủ An Nhơn tỉnh Bình Ðịnh, nay là thôn Phong Thạnh thuộc thị trấn Tuy Phước. Nơi đây, địa thế hiểm yếu, phong cảnh lại hữu tình; phía đông và nam có núi Trường Úc ôm choàng, phía tây giáp quốc lộ 1 cũ, phía bắc có nhánh sông Tọc, thuộc nguồn Hà Thanh, chảy qua với bờ cao dốc, có hàng cây san sát lòa xòa soi bóng. Nếu không muốn nói là đất thiêng thì ít ra trên thực tế nơi đây là bãi đất bất khả xâm phạm vì tuy gần khu dân cư đông đúc nhưng xưa nay chưa ai lấn chiếm cất nhà hay trồng tỉa hoa màu.

Tương tuyền thời Tây Sơn, nơi đây dùng làm chỗ tập trận của quân đội. Bộ binh đóng đồn trên núi Trường Úc, thủy quân từ đầm Thị Nại vào cửa Làng Sông rồi ngược dòng sông Tọc đổ bộ lên Trường Úc, hai bên thủy bộ giáp chiến. Ðể khuây khỏa nỗi nhớ nhà trong dịp tết, các tướng Tây Sơn tổ chức cuộc vui ngay trên bãi thao trường vào sáng mồng 1 và mồng 2 tết, nhưng khi trời vừa xế bóng thân nhân phải ra về để binh sĩ chuẩn bị canh phòng nghiêm nhặt về đêm. Vì vậy, hàng năm các gia đình binh sĩ theo lệ đến nơi đây thăm chồng con. Dân địa phương mang hoa quả, thức ăn, nước uống ra bán, lâu năm thành lệ. Khi quân Tây Sơn tan rã, nơi đây trở thành Hội Tết Chợ Gò, mỗi năm chỉ hội hai ngày mồng 1 và mồng 2 tháng giêng và cũng quen lệ tan chợ vào lúc xế trưa.

Chợ Gò có tính cách hội vui xuân dân gian hơn là phiên chợ. Từ người bán đến khách hàng đều mặc quần áo mới, nói cười vui vẻ, mặt tươi như hoa, các bà các cô phấn son trang sức lộng lẫy như dự lễ cưới. Từ mờ sáng ngày đầu năm chợ đã nhóm, ai đến trước bày hàng trước, ai đến sau kế tiếp thành dãy. Không ai đứng ra xếp đặt, tổ chức thế mà vẫn trật tự, không hề tranh giành bán buôn theo lối kẻ chợ thông thường. Người bán là những dân cư quanh vùng thu góp trong vườn mớ trái cây, gánh rau cải, vài buồng cau, vài xấp trầu họ đem đến bán lấy hên đầu năm. Người mua không phải là thiếu thức ăn nhưng muốn đem về một cái lộc đầu năm, nhất là gian hàng trầu cau, các cô thường mua cầu may cho năm mới gặp duyên thắm tình nồng.

Vui vẻ nhất là các gian hàng pháo, bán đủ loại nào pháo tre, pháo tống, pháo điển, pháo chuột, pháo dây, pháo thăng thiên, pháo bông... Ðó đây, giọng lái buông chào hàng ngân nga câu vè (3) theo điệu bài chòi:

Mời chư vị giai nhần tài tử
Tới đây nghe tôi thử pháo tre
Của bán ra không phải nói khoe
Thời thực vật sắm vừa túc dụng
Có pháo nhiều đốt mới vui tình
Từ cựu thời bộc trước nhi thinh
Có pháo mới văn minh xuân nhựt
Dưới con cháu cũng vui cũng ức
Trên ông bà khỏi bực khỏi phiền
Nếu như mà cứ giữ tiếc tiền
Lấy gì đặng minh niên hỉ hả...

Năm mới, người ta kiêng cữ nhất là mua phải pháo điếc, đốt không nổ, gây xui xẻo cho cả năm. Khai thác tâm lý ấy, người bán pháo cao giọng quảng cáo hàng:...

Mua pháo này về đốt
Vốn tôi không nói tốt
Hay thật tình có một mình tôi
Nhiều người bán xảo làm mồi
Ðốt đây khá về rồi lại dở
Có kẻ làm kêu cũng đỡ
Vấn nhiều tay tôi sợ không đều
Của bán ra là biết bao nhiêu
Một mình vấn nên kêu đều đặn
Mười như chục tiếng kêu đúng đắn
Ðốt cả trăm cũng chẳng điếc câm
Tiếng nổ lên chuyển động sơn lâm
Như đại bác vang gầm trời đất
Hễ đốt thì xác tan bay mất
Không khi nào gió phất ngún hừng
Của tôi làm tôi đã biết chừng
Xin quí vị mua đừng có ngại

Các gian hàng bán đồ chơi trẻ em cũng vui nhộn không kém. Ðặc biệt nhất, những sản phẩm làm bằng vật liệu địa phương, thuần túy Việt Nam như gà cồ chút chít nặn bằng đất sét, rỗng ruột, sơn phết xanh đỏ, có lỗ thổi ra tiếng kêu o... o..; trống rung (trống bỏi) thành và cán bằng tre phất bong bóng heo hay da ếch có tra hai cây đính cục chì nhỏ mỗi lần rung tạo âm thanh thật vui tai: thằng nhào lộ; cối xay lúa; cối giã gạo; tướng quân múa võ đều làm bằng tre và gỗ cây gòn. Từ cuối thập niên 60, có xen những đồ chơi bằng nhựa hoặc bằng kim loại như búp bê, xe tăng, tàu bay, súng lục..., có lẽ vì đắt giá hay chưa quen với thị hiếu nên ít thông dụng.

Những gian hàng thức ăn, nước giải khát cũng góp mặt không kém. Các món đặc sản địa phương được khách hàng ưa thích như nem Chợ Huyện của bảy Ù, chim mía ở Lộc Lễ, rượu nếp và rượu gạo ở Trường Thuế (dân chúng quen gọi là Trường Thế) đã mãi mãi đi vào ca dao của dân tộc:

Rượu ngon Trường Úc mê ly
Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi không đành

Ðến với Chợ Gò không những để ăn uống, mua rau quả để lấy lộc, mua pháo để lấy hên đâu năm, hoặc để thưởng thức tài viết chữ "phượng múa rồng bay" trên liễn đối, mà đến với Chợ Gò còn có đủ các trò vui chơi mang màu sắc dân gian như đánh bài chòi, chơi lô tô, giải đáp câu thai, đánh cờ tướng, đá gà... Nếu ai nặng máu đỏ đen thì tha hồ sát phạt ở các sòng bài như xóc dĩa, bầu cua tôm cá, xì lác... nhưng phần lớn họ đến đây để gặp gỡ bạn bè, trao nhau những lời chúc tụng, kéo nhau đi xem chợ và khi mặt trời đứng bóng thì chia tay ra về.

Hội tết Chợ Gò đơn giản chỉ có thế nhưng rất vui, đậm đà tình bạn, tình quê hương; năm nào bận việc không đến được vẫn thấy tiếc. Vì thế, từ sáng sớm đoạn đường quốc lộ 1 cũ từ ngả tư Phủ Mới đến ngả ba Chợ Dinh (khoảng 5 cây số) đông nghệt người đi, xe chở hành khách không thể qua lại được. Muốn đến Chợ Gò phải xuống xe, đi bộ vài cây số, có thể dùng xe đạp hay xe gắn máy đến gần địa điểm, rồi tìm chỗ gửi xe an toàn, mới rảnh tay vào cuộc vui xuân.

LỄ HỘI ÐỐNG ÐA

Lễ hội Ðống Ða được tổ chức từ năm 1960, địa điểm hành lễ là Ðiện thờ Tam Kiệt Tây Sơn, tại làng Kiên Mỹ (đất Tây Sơn cũ) xã Bình Thành quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) vào ngày mồng 5 tết. Ðây là lễ hội truyền thống lớn nhất tỉnh Bình Ðịnh.
Lần giở lại trang sử oai hùng của dân tộc, cuối năm 1788 vua Kiền Long nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang chiếm nước ta. Trước khí thế mạnh như vũ bão của giặc, ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (18-12-1788) Tư mã Ngô Văn Sở nghe theo lời bàn của Ngô Thời Nhậm, cho chuyển quân từ Thăng Long về Tam Ðiệp để bảo toàn lực lượng.

Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (21-12-1788) tin cấp báo về tới Phú Xuân thì ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang ở Bàn Sơn (phía nam núi Ngự Bình) và chỉ 4 ngày sau (29 tháng 11) Hoàng đế Quang Trung cùng đại binh đã có mặt tại Nghệ An. Nhà vua cho dừng quân ở đây để tuyển thêm tân binh và hội kiến với La Sơn Phu tử.

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân, đại quân đến núi Tam Ðiệp. Quang Trung tuyên bố trước tướng sĩ: "Chỉ nội 10 ngày nữa ta sẽ đuổi hết được giặc Thanh. Bữa nay ta ăn tết Nguyên Ðán trước, sang xuân ta sẽ ăn tết Khai Hạ vào ngày mồng 7 ở Thăng Long" (Việt Sử Tân Biên, quyển 3, trang 431).

Quang Trung chia quân làm ba đạo:

- Ðại đô đốc Lộc và Ðô đốc Tuyết lãnh hữu quân(có sách chép là tả quân) đi đường biển. Ðại đô đốc Lộc theo sông Lục Ðầu tràn lên Bắc Ninh và Bắc giang, Phượng Nhãn chận đường về của giặc. Còn Ðô đốc Tuyết đổ bộ vào Hải Dương tiếp ứng cho mặt trận miền Ðông.

- Ðại đô đốc Bảo và Ðô đốc Long (có sách chép là Mưu) đem tả quân, có tượng và kỵ binh tăng cường, đi bọc đường núi đánh tạt cạnh sườn vào phòng tuyến địch. Ðại đô đốc Bảo mở mặt trận phía tây, dùng tượng binh từ huyện Sơn Minh (phủ U¨ng Thiên, trấn Sơn Nam thượng) đánh vào căn cứ địch ở xã Ðại Án, Nguyệt Án (tổng Vĩnh Hưng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng). Còn Ðô đốc Long đem tượng binh và kỵ binh đi đường tắt từ huyện Chương Ðức (phủ Ứng Thiên, năm 1814 đổi thành phủ Ứng Hòa) đến huyện Thanh Trì (phủ Thường Tín) hành quân chớp nhoáng từ tây bắc xuống nam, chiếm gọn hai căn cứ Nhân Mục và Yên Quyết, rồi nửa đêm mùng 4 vây kín đồn Khương Thượng. Ðề đốc Sầm Nghi Ðống nhà Thanh chưa kịp xoay trở thì mũi nhọn cảm tử quân đã phá vỡ thành xông vào như nước vỡ bờ. Ðống phải mở đường máu chạy về Thăng Long nhưng khi đến gò Ðống Ða, lại bị một cánh quân của Ðô đốc Long đón sẵn, bí đường hắn phải thắt cổ tự ải.

- Ðạo quân thứ ba do chính Quang Trung thống lĩnh cả ba doanh: Tiền, Trung, Hậu quân; có Tư mã Sở và Nội hầu Lân lãnh Tiền quân làm mũi nhọn tiên phong. Tân binh ở Nghệ An sung vào Trung quân do nhà vua trực tiếp chỉ huy. Hậu quân có Hô Hổ hầu thủ vai đốc chiến và đề phòng địch tập hậu. Ngày 30 tháng chạp, đại quân vượt bến đò Gián Khuất (Ninh Bình), dùng chiến thuật đấm so đũa tức là ngược chiều tiến quân của giặc, chớp nhoáng hạ các đồn Thanh Liên, Nhật Tảo, Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi...

Sáng mồng năm Tết, tại cung Tây Long, Tôn Sĩ Nghị đang sốt ruột theo dõi mặt trận phía nam, bỗng nghe tin cấp báo quân của Ðô đốc Long như trên trời giáng xuống, tiến vào cửa Tây với khí thế ngùn ngụt. Nghị hoảng quá, không kịp mặc áo giáp, bỏ cả sắc thư và ấn tín, vội nhảy lên ngựa chưa kịp thắng yên cương, chạy thoát ra thành Thăng Long, vuợt cầu phao qua sông Nhị Hà. Quân Thanh tranh nhau chạy theo, cầu phao bị ứ nghẽn, đứt dây, ném cả xuống sông, chết vô số kể.

Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần đánh đuổi quân ngoại xâm, nhưng chỉ có lần này quét sạch 20 vạn quân Thanh trong 5 ngày và sớm hơn dự định 2 ngày. Trên hết là thiên tài quân sự của Ðại đế Quang Trung. Bên cạnh đó, có ba người góp công đắc lực:

- Một văn thần đầy mưu lược và lòng cả quyết, đã thuyết phục đám võ thần theo chiến lược "Dĩ dật đãi lao", dưỡng lấy cái nhàn cho quân ta để chống lại cái mệt nhọc của giặc, rất hợp ý của Quang Trung. Ðó là Hy Doãn Ngô Thì Nhậm, ngôi sao sáng của sĩ phu Bắc hà.

- Một ẩn sĩ người làng Mật Thôn xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạnh, huyện La Sơn, phủ Ðức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh) đã hiến kế "Quân quý thần tốc" trong chiến dịch đại phá quân Thanh, cũng hợp với ý nhà vua. Ðó là Lam Hồng dị nhân Nguyễn Quang Thiếp (sau bỏ chữ Quang vì kiêng húy, được người đời phong danh hiệu La Sơn Phu Tử.

- Một danh tướng của miền đất võ Bình Ðịnh, với chiến thuật sét đánh ngang tai, uy hiếp tinh thần địch quân đến cùng độ. Chỉ một đêm, Sầm Nghi Ðống sợ quá phải tự tử; chỉ một sáng, dồn Tôn Sĩ Nghị phải chạy trốn một cách nhục nhã. Ðó là Ðô đốc Ðặng Văn Long, tự là Tử Vân, người huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn (nay là tỉnh Bình Ðịnh), được người đời phong danh hiệu Ðặng Thiết Tý (cánh tay của họ Ðặng cứng như sắt).

Năm 1802, Gia Long lật đổ được nhà Tây Sơn, ngôi nhà từ đường, nơi ba anh em Tây Sơn chôn nhau cắt rún, bị san bằng; chỉ có cái giếng là di tích còn lại. Sau nhờ sáng kiến của dân làng, ngôi đình Kiên Mỹ được dựng lên trên khu đất ấy. Mặt ngoài, lập đình để thờ thần nhưng trong lòng không ai bảo ai, họ vẫn ngầm hiểu lập ra để thờ Tam Kiệt Tây Sơn; vì mỗi lần tế xuân thu, họ không bao giờ đọc văn tế mà chỉ khấn vái thầm.

Trong thời Việt Minh (1945-1954) đình Kiên Mỹ bị phá hủy. Năm 1960, nhân dân quận Bình Khê góp công của lập đền thờ Tây Sơn trên khu đất ấy. Ðiện thờ có ba gian, gian giữa thờ Quang Trung, gian hai bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương cùng các tướng sĩ. Nơi đây, hàng năm tỉnh Bình Ðịnh tổ chức lễ Ðống Ða, số người trẩy hội lên đến hàng trăm ngàn người. Dân chúng cho rằng, ăn tết mà không biết hội dân gian ở Chợ Gò là điều đáng tiếc, nhưng không đi dự lễ hội Ðống Ða thì coi như năm ấy chưa hưởng trọn hương vị Tết của tỉnh nhà.

Sáng ngày mồng 5 Tết, đoạn quốc lộ 19 từ ngả ba Cầu Gành đến thị trấn Phú Phong, khoảng 50 cây số, đông nghẹt xe cộ. Người ở Tuy Phước, Qui Nhơn lên Cầu Gành bằng hai ngả đường, ngang qua thị trấn Tuy Phước và thị trấn Diêu Trì. Người ở tận đèo Cù Mông, thị trấn Phú Tài và tỉnh Phú Yên theo quốc lộ 1 ra Cầu Gành. Người ở huyện Vân Canh và xã Phước Thành theo liên tỉnh lộ 6 xuống Diêu Trì rồi ra Cầu Gành. Người ở cao nguyên An Túc xuống đèo An Khê rồi theo quốc lộ 19. Người ở huyện Vĩnh Thạnh thì xuôi dòng sông Côn về dự hội. Người ở tận miền bắc tỉnh Bình Ðịnh như các huyện An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát cũng theo quốc lộ 1 vào Cầu Gành. Người ở An Nhơn thì từ thị trấn Bình Ðịnh đi đường tắt đến An Thái rồi qua ngả Bình Nghi đến Phú Phong.

Muốn xem trọn vẹn lễ Ðống Ða phải đến điện Tây Sơn từ trưa mùng 4 Tết vì chiều hôm đó các nghi lễ cổ truyền đã được tổ chức. Lễ tế rất long trọng, cả khu vực rộng lớn cờ lọng nghi trượng rợp trời, chiêng trống rền vang, người xem như cảm thấy lòng mình hòa nhập vào hồn thiêng sông núi địa linh nhân kiệt. Tối hôm ấy phải ngủ trọ tại xã Bình Thành hay tốt nhất là tại thôn Kiên Mỹ để sáng sớm hôm sau kịp chen chân đến khu vực hành lễ.

Chương trình ngày mồng 5 tuy có thay đổi hàng năm nhưng các mục chính thì năm nào cũng có: Ðó là bài diễn văn ôn lại lịch sử Tây Sơn với cuộc đại phá quân Thanh, biểu diễn võ thuật, trống trận Tây Sơn và thao diễn trận pháp.

Tiết mục võ thuật Tây Sơn, trong những năm đầu thập niên 70, người ta thường thấy nữ võ sĩ Thanh Tùng, con nhà võ ba đời lừng danh đất Tây Sơn, biểu diễn các bài quyền như Lão Mai Ðộc Thọ hay các bài roi như Tấn Nhất Ô Du, được tán thưởng với biệt danh "Hổ cái Miền Trung".

Tiết mục nhạc võ Tây Sơn là môn nghệ thuật độc đáo của Bình Ðịnh, người biểu diễn vừa phải có tâm hồn nghệ sĩ vừa là bậc võ siêu đẳng và luyện đôi tay thần diệu để tác dụng lên tròng trống, vành trống và thân trống bắng cả hai bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, cánh tay, tiếp xúc vào một bộ trống gồm 12 chiếc lớn nhỏ khác nhau, gọi là Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ, tạo nên những âm thanh hùng tráng khác lạ, khiến người xem như bị lôi cuốn, thúc dục.

Tiết mục biểu diễn chiến trận Ðống Ða lại càng hào hứng và hấp dẫn hơn nữa, được tổ chức trên địa thế qui mô, dàn dựng công phu, tập dượt chu đáo, có cả ngàn người thao diễn với cờ xí, chiêng trống, sắc phục, đồn lũy y như cảnh thật. Người xem tưởng mình đang sống trong thời đại Tây Sơn, dậy lên lòng tự hào dân tộc và từ đó muốn làm một việc gì để đời cho đất nước, cho quê hương.

Lễ hội được tổ chức trong tỉnh Bình Ðịnh, nhưng lại là tầm cỡ quốc gia vì có đông quan khách cấp trung ương của các ngành hành chánh, quân sự, văn hóa, giáo dục và các nhà trí thức từ Sài Gòn ra dự.

HỘI HÁT XUÂN

Hội Hát Xuân có từ lâu, có lẽ phát xuất từ lúc tỉnh thành Bình Ðịnh được xây dựng năm Mậu Thìn (1808), Gia Long thứ 7, khi khánh thành có hát mừng và từ ấy năm nào cũng tổ chức, lâu năm thành lệ.

Hàng năm, sau tết Nguyên đán, trong tháng giêng âm lịch có lệ hát bội tại Bình Ðịnh, quen gọi là Hát Xuân, do quan đầu tỉnh tổ chức, đám hát này lớn nhất, được tổ chức chu đáo nhất, diễn xuất hay nhất và khán giả cũng đông đảo nhất , so với các cuộc hát xướng trong năm ấy tại tỉnh nhà.

Con hát được lựa chọn, toàn đào kép thượng thặng, rút ra từ các gánh hát trong tỉnh, nên gọi là "hát rút". Hát Xuân cũng chỉ diễn lại các tuồng nổi tiếng như "Sơn Hậu, Phụng Nghi Ðình, Ngũ Hổ Bình Tây, Hộ Sanh Ðàn, Diễn Võ Ðình, Tân Dã Ðốn, Tam Nữ Ðồ Vương..." nhưng rất hấp dẫn vì đào kép xuất sắc đảm nhận từ vai chính đến các vai phụ, nên diễn xuất hoàn hảo từ đầu tới cuối.

Mặc dù sân khấu đặt trong sảnh đường rộng lớn, nhưng quan lại và dân chúng từ các nơi đổ về đông nghẹt, phải cất nhà tạm bằng tranh tre để dung nạp quan khách có chỗ ăn uống và nghỉ ngơi. Tuy là nhà tạm nhưng cũng xén cắt mái tranh ngay thẳng, trần thiết kỹ lưỡng, cũng trướng rũ màn che, liễn hoành rực rỡ.

Tỉnh có đội lính dàn chào để đón quan khách, cờ lọng rợp trời, gươm tuốt trần, súng cầm tay trông thật long trọng. Ngày khai mạc có đủ mặt các quan lớn nhỏ trong tỉnh và có nhiều đại biểu từ các tỉnh khác đến dự. Hàng ghế đầu, ngồi giữa là quan Tổng Ðốc, bên tả có quan Bố Chánh, bên hữu có quan Án Sát, ngoài ra còn có các vị thượng khách, các quan đại thần về hưu. Thường thì quan đầu tỉnh lãnh vinh dự cầm chầu điều khiển cuộc hát, tuy nhiên cũng có khi nhường lại roi chầu cho một vị quan khác vì không rành hát bội. Các hàng ghế kế tiếp lần lượt dành cho các tri phủ, tri huyện, các quan hưu trí, thân hào nhân sĩ, các viên thơ lại, rồi đến Chánh, Phó tổng, các chức sắc làng xã, sau cùng là dân chúng đứng xem trong trật tự, yên lặng. Mọi người từ già trẻ lớn bé đều phải mặc áo dài, sang thì bận áo cặp trong trắng ngoài đen, hèn thì cũng phải áo đơn, đàn ông đội khăn đóng, đàn bà chít khăn hay đội nón.

Ðám hát kéo dài suốt hai ngày hai đêm, diễn hết tuồng này đến tuồng khác, đào kép thay phiên nhau trình diễn liên tục. Sáng bắt đầu từ 7 giờ đến 11 giờ, chiều hát từ 1 giờ đến 5 giờ, tối tiếp tục từ 7 giờ đến quá nửa đêm và phải trình diễn cho hết tuồng mới thôi. Ban ẩm thực làm việc suốt ngày đêm, sẵn sàng cỗ bàn, mỗi ngày ba bữa chu đáo. Bò, heo, dê, gà vịt nhốt sẵn, cần thì đem ra xẻ thịt ngay.

Gánh hát nào có nhiều đào kép được quan tỉnh chọn vào đám Hát Xuân thì được nổi tiếng. Riêng cá nhân của diễn viên cũng có nhiều quyền lợi, được các quan thưởng tiền trong những pha độc đáo, nếu rất xuất sắc được xét ban cho phẩm hàm trong làng nghệ sĩ như chức danh Chánh ca (hàm Chánh Cửu phẩm rồi lên Tùng Bát phẩm), Phó Chánh ca, Quản ca... vì thế, các diễn viên thi nhau trổ tài, đem hết ngón nghề ra cống hiến.

Năm 1934, dinh quan tỉnh dời về Qui Nhơn, thành Bình Ðịnh giao lại cho quan Phủ, tuy nhiên hàng năm quan Tổng đốc vẫn về đây chủ trì việc Hát Xuân. Lần hát cuối cùng vào xuân Ất Dậu (1945), sau đó là thời kỳ Việt Minh, thành Bình Ðịnh bị san bằng và Hội Hát Xuân cũng chấm dứt vĩnh viễn.

LỄ HỘI CẦU NGƯ

Cầu Ngư là lễ hội hàng năm của dân chài chuyên nghề đánh bắt cá biển. Làng Xương Lý, quen gọi là Vũng Nồm (4) tổ chúc lễ vào mồng 10 tháng giêng âm lịch, còn làng Hưng Lương (4) quen gọi là Vũng Bấc lại chọn ngày mồng 6 tháng 3 âm lịch và đây là lễ hội lớn nhất trong năm của hai làng này.
Buổi chiều trước ngày hành lễ, tất cả dân chài, chỉ trừ phự nữ đang có kinh nguyệt không được bén mảng đến, còn bao nhiêu đều phải có mặt tại lăng thờ ông Nam Hải (cá voi) và đợi quá nửa đêm, cuối giờ Tí đầu giờ Sửu (1 giờ sáng) mới cữ hành lễ.

Ban tế lễ gồm vị chánh tế đứng giữa chiếu tế trực diện với chánh điện, vị bồi tế đứng sau các một bước sải chân (khoảng 1 mét). Ngoài ra còn bốn học trò gia lễ mang trống chiến (mặt trống gần bằng trống chầu nhưng thân trống ngắn bằng một phần ba), từng cặp đối xứng đứng hầu hai bên án trong và hai bên tiến đường. Ban nhã nhạc gồm một người đánh trống chầu đứng bên tả và một người đánh chiêng đứng bên hữu sân tế.

Lễ vật gồm có bò, heo. Các con vật chịu lễ bị trói chặt, tắm rửa sạch sẽ, đật nằm trên sạp trước sân tế.

Ðứng đầu ban tổ chức là vị hương lễ tuyên bố khai mạc, tức thì ba hồi chín tiếng trống chầu gióng lên rồi đến ba hồi chín tiếng chiêng vang dậy. Trên bàn thờ hương trầm nghi ngút, tăng thêm vẻ uy nghiêm. Bốn học trò gia lễ vừa đi vừa đánh nhịp trống, từ từ tiến vào vị trí đã định sẵn. Rồi đến hai vị chánh tế và bồi tế, mặc áo rộng xanh, đội mũ lễ, đi giày hia, hai tay chắp lại, cung kính tiến vào chiếu tế trước chánh điện, theo nhịp trống của bốn học trò lễ.

Các đồ tể mặc áo gọn gàng, buộc thắt lưng đỏ, cầm dao phang bén nhọn, đứng bên sạp đợi lệnh. Một lần nữa ức và cổ con vật chịu lễ được chùi sạch bằng khăn ướt và lau lại bằng khăn khô, rối cắt tiết, máu tươi được hứng vào thau sạch, đem dâng tế Thủy thần.

Bốn học trò gia lễ đồng loạt xướng hưng, bái. Khi xướng "hưng" thì hai vị chánh tế bồi tế đứng thẳng người, chắp tay trước ngực. Khi xướng "bái" thì cả hai qùy xuống, đầu cúi sát cho trán chạm đất. Lạy đúng ba lần, học trò lễ xướng "hưng, bình thân".

Xong tiết mục lễ bái, vị Hương lễ đọc văn tế với đại ý cầu xin thủy thần Ðông Hải phò hộ cho trời yên bể lặng, năm mới được mùa cá. Sau đó, màn hát bả trạo (hát có cầm mái chèo) tượng trưng cho con thuyền ra khơi đánh cá. Ðây là loại dân ca nghi lễ ở vùng ven biển miền nam Trung Việt, trình bày hoạt cảnh bơi thuyền qua nghệ thuật diễn tuồng. Diễn viên toàn là đàn ông, vừa hát vừa múa nhịp nhàng theo động tác chèo lái. Ðội hình hát bả trạo gồm một Tổng tiền (tức Tổng mũi) đứng trước, tiếp theo có 8 hay 12 hoặc 16 con trạo (tức bạn chèo) xếp thành hai hàng dọc, một Tổng thương (tức Tổng khoang) đứng giữa hàng bạn chèo và sau cùng là Tổng hậu (tức Tổng lái). Về trang phục và trang cụ, Tổng mũi và Tổng lái mặc lễ phục cổ truyền nhưng Tổng mũi hóa trang rực rỡ, nai nịt oai vệ như một vị tướng, tay cầm cặp sênh, mặt quay về phía bạn chèo, gõ nhịp điều khiển; còn Tổng lái tay cầm chèo dài khoảng 2 mét, múa động tác lái thuyền. Các bạn chèo đồng phục trắng, đầu chít khăn, thắt lưng đỏ, chân đi bít tất có quấn xà cạp, tay cầm mái chèo ngắn độ 1,2 mét múa động tác chèo thuyền. Về nghệ thuật, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa âm nhạc, lời ca và động tác. Về nhạc cụ, ngoài cặp sênh của Tổng mũi còn có đàn cò, trống kèn đệm âm. Về diễn xuất, Tổng mũi phải là một nghệ sĩ biết đủ các làn điệu dân gian từ ca, ngâm, lý, hát bài chòi, phú, hò đến các làn điệu hát tuồng như nói lối, tán, oán, thán, xướng, hát nam...

Xong màn hát bả trạo, đến lượt hát bội, hát đến sáng. Vì hát lễ nên phải chọn tuồng cho hợp với sự cung nghiêm như Hoa Dung Lộ (Quan Công tha Tào Tháo), Cổ Thành (Quan Công quá quan)...

Tiếp sau đêm tế ở lăng ông Nam Hải, dân làng còn tổ chức hát bội ba đêm liền nhưng dời sân khấu ra bãi cát rộng bên ngoài lăng cho mọi người xem, tránh sự xâm nhập tà tạp, mang ô uế đến nơi thờ phượng.

LỄ HỘI ÐÂM TRÂU

Theo tài liệu thống kê và nhân chủng , đồng bào Bania (Bahnar, Bana) hiện nay có 136.859 người ở rải từ Kontum, Pleiku, An Túc và phía tây hai tỉnh Bình Ðịnh, Phú Bổn (nay thuộc Phú Yên). Dân tộc thiểu số Bana có bảy chi nhánh nhưng chỉ có ba nhánh: Alakông, Tơ lô và Bơ Nam (B.Mơ Nam) là tập trung ở An Túc, dọc biên giới phía tây tỉnh Bình Ðịnh và đông đảo ở huyện Vĩnh Thạnh (1).

Hàng năm, từ tháng chạp đến tháng ba âm lịch, dân tộc Bana theo truyền thống mở lễ hội tạ ơn Giàng (Yang) là đấng thần linh tối cao của họ. Người Bana gọi lễ ấy là Koh Kpô hay Groong Kpô Tonơi, tiếng Việt gọi là Lễ Hội Ðâm Trâu.

Theo Ðặc san Văn hóa Bình Ðịnh (ấn hành tại Qui Nhơn, 1992) và các tài liệu khác, già làng chọn bãi đất rộng, bằng phẳng thuộc địa phận buôn làng mình để dựng giàn tế (gưng) là một quân thể gồm: Một cây tre cao, thẳng, còn nguyên ngọn, gốc được chôn vững vàng gọi là nêu, sát bên cây nêu là một cột lớn rắn chắc bằng cây muôn hay cây plang, cũng được chôn chặt để đỡ cây nêu và dùng vào việc buộc trâu; nhưng nếu chọn được cây săn thẳng, đủ vững chắc để làm nêu thì không cần trụ buộc trâu nữa. Và quanh cây nêu còn trồng 4 hay 8 trụ gỗ tròn, cao độ 3 mét, đường kính khoảng 15cm. Các trụ gỗ này được bố trí theo hình hoa thị đối xứng từng cặp và trang trí thành những vành khuyên sơn màu đen, trắng, xanh, đỏ xen kẽ nhau. Ở đầu các trụ gỗ có các thanh ngang buộc nối hai trụ lại với nhau, cấu kết theo thế liên hoàn vững chắc. Dọc theo chân cây nêu có các dây buông dài, tết bằng lạt tre buộc những tấm nan hình tam giác và các ống tiêu gió bằng cây lồ ô đưa vi vu trước gió. Trên cùng cây nêu có treo túi thiêng, tiếp theo là cánh phướng đan bằng lạt giang, biểu tượng cho chim đại bàng (kring), hình ảnh của sức mạnh và trí tuệ (5).

Lễ hội Ðâm Trâu được tổ chức trong ba ngày, hai ngày đầu tại giàn tế (gưng), ngày cuối ở sân Nhà Làng (nhà Rông). Ngày thứ nhất, người ta dắt một con trâu to béo, đầy sức lực đến giàn tế, nối cổ trâu vào cột tế (Plang Kpô) bằng một dây thừng bện thật chắc, dài độ 2 mét tây. Dân trong buôn và người xem đứng bao quanh giàn tế thành một vòng tròn rộng.

Giờ hành lễ bắt đầu, dàn cồng rộn rã nổi lên chen lẫn âm thanh của bộ chiêng rền vang, kết hợp với bộ trống lớn (Bnưng) dồn dập, dậy lên bản giao hưởng hùng tráng như tiếng gọi từ hồn thiêng ngày hội.

Các thanh niên nam nữ xếp hàng dọc, tay cầm gậy múa Kơ tếch (điệu múa dành riêng cho lễ hội Ðâm Trâu), đi vòng quanh giàn tế theo chiều ngược kim đồng hồ, vị tù trưởng đứng vai chủ tế dẫn đầu các vị bô lão (chừng 5, 6 người), mặc lễ phục sặc sỡ từ từ tiến đến giàn tế, quỳ rạo khấn vái thần Giàng (Yang). Tiếp theo bài khấn là lễ Hiến tế, một bô lão mạnh mẽ nhất trong ban tế lễ, tay cầm giáo, tay cầm khiên bước ra khỏi hàng, lựa thế đâm một nhát vào con vật tế thần. Tuy bị thương nhưng trâu vẫn còn sức mạnh, cố bứt dây chạy thoát nhưng không được, đành chạy vòng quanh giàn tế. Mọi người trong buôn đồng loạt hú lên, rung chuyển cả núi rừng và đi quanh giàn tế đánh cồng, múa hát đến chiều tối mới mãn.

Ngày thứ hai, cả buôn tập trung bao quanh giàn tế để làm lễ hiến sinh. Lần này trai tráng trong buôn vào cuộc. Họ cầm vũ khí và khiên, la hét, dồn đuổi con trâu chạy quanh giàn tế. Họ thi nhau bắn cung, phóng lao, đâm giáo vào con vật tế thần. Lòng dũng cảm và sự khôn khéo của họ được thể hiện qua cách săn đuổi con mồi, và phần thưởng chiến thắng dành cho chàng trai nào lựa được thế, đâm thẳng tim con vật gục xuống chết ngay. Già làng cầm bát đồng hứng máu tươi, hòa với rượu dâng thần linh. Tiếng hú mừng chiến thắng lại một lần nữa vang trời dậy đất.

Trâu được xẻ thịt ngay tại chỗ, chọn thịt ngon và toàn bộ lá gan chia đều cho năm nhóm rồi vảy máu đã hòa rượu, cung kính đật trên bàn thờ thần Giàng. Già làng đứng ra khấn bái. Xong lễ, gan trâu được chia đều cho tất cả trai tráng trong buôn. Họ tin rằng ăn gan đó sẽ tăng cường sức mạnh và lòng dũng cảm vì đã có thần Giàng chứng nhận.

Ngày thứ ba, túi thiêng trên cây nêu được rước về thờ ở nhà Rông, đặt ngay chỗ để vò rượu chính. Già làng làm lễ khấn xong, gọi mọi người đến uống rượu này vì tin rằng ảnh hưởng của túi thiêng đã hòa trong rượu, uống vào sẽ tiêu trừ những rủi ro bệnh tật. Họ còn tổ chức những trò chơi thượng võ ngay trước sân nhà Rông như bắn cung, đấu kiếm, phóng lao, đấu võ... cuộc vui suốt ngày và kéo dài đến thâu đêm suốt sáng.

Lễ hội ngày xuân ở Bình Ðịnh còn nhiều lắm, vì bài viết giới hạn trong khuôn khổ trang báo, không thể nêu lên hết được. Ngày nay, các lễ hội như Chợ Tết Gò Chàm, Hội Tết Chợ Gò, Lễ Hội Ðống Ða vẫn còn đó, tuy có thay đổi ít nhiều cho phù hợp với hoàn cảnh của mỗi thời đại. Hội Hát Xuân đã tắt lịm từ lâu, nhưng dân chúng vẫn còn nuối tiếc. Mỗi dịp xuân về, ở một vài nơi còn gắng gượng tổ chưc đám hát nho nhỏ tại địa phương. Dĩ nhiên không thể nào có được cái huy hoàng ngày cũ và cũng không thể giữ lệ đều đặn hàng năm. Lễ Hội Cầu Ngư tuy vẫn còn nhưng thu gọn lại nhiều, màn diễn bả trạo đã vắng bóng, còn hát bội thì năm có năm không, lệ cắt tiết các con vật trước sân tế đã bỏ hẳn vì không ai muốn đem vào cuộc vui cảnh lưu huyết thương tâm.

Còn Lễ Hội Ðâm Trâu của người Bana đã rút ngắn còn một ngày đêm, con vật chịu lễ được các tay thiện nghệ nhanh chóng đâm chết, không còn cảnh săn đuổi kéo dài sự hãi hùng đau đớn và người dự lễ hội đỡ bị căng thẳng thần kinh vì thương cảm.


Đào Đức Chương
Nguồn: Ðặc san QUANG TRUNG & TÂY SƠN Xuân Canh Thìn 2000

Hào Khí Tây Sơn

tinhkhucquynhon | 21 January, 2011 21:50

Hào Khí Tây Sơn là tiết mục được chọn cho phần mở đầu Lễ Khai Mạc Festival Tây Sơn - Bình Định tháng 8-2008

Sáng tác : Nguyễn Gia Thiện

Trình bày: Dàn nhạc dân tộc Nhà hát tuồng Đào Tấn,  Nguyễn Gia Thiện chỉ huy (conductor)


Nguồn: http://cuongde.org

Ca khúc BÌNH ĐỊNH QUÊ HƯƠNG TÔI

tinhkhucquynhon | 16 January, 2011 08:09

Mời các bạn nghe
Ca khúc BÌNH ĐỊNH QUÊ HƯƠNG TÔI
Sáng tác: NS Xuân Điềm
Trình bày: Khánh Ly



Lời ca khúc


 Ai có về Bình Định, uống nước Kôn Giang nhớ người
một thời chinh Nam phạt Bắc, ngàn đời dang dở Quang Trung.
 Ai có về Bình Định, đất nước quê hương hùng vĩ
nghe danh chàng trai An Thái, đẹp tình cô gái An Vinh.
Ai có về Bình Định, gió mát trăng thanh Sa Huỳnh
dập dìu mơn man cành liễu chạnh lòng lữ khách cô liêu.
Ai có về Bình Định, nhớ ghé Tam Quan một hôm
nâng ly dừa tươi thơm mát, ngọt ngào câu hát quay tơ.
Ôi Bình Định mến yêu ! Bình Định vang bóng địa linh anh hùng
lưu truyền sử xanh!
Ôi Bình Định dấu yêu ! Tình quê chan chứa, thương cho cuộc đời nắng mưa.
Ai về thăm Vũng Tô, rừng thông xanh ngát, cuộc sống an nhàn
gắn liền biển khơi.
 Ôi Bình Định dấu yêu ! Ngàn đời con cháu khắc ghi trong lòng nối chí Cha Ông.
Ai có về Bình Định, nhớ mái trường xưa thanh bình
Bồ Đề, Trinh Vương, Cường Để - Một thời nhớ nhớ thương thương
Ai có về Bình Định, nhớ ghé Quy Nhơn tìm thăm
thi nhân ngàn thu an giấc trên sườn núi đá quạnh hiu.
Ai về thăm Vũng Tô, rừng thông xanh ngát, cuộc sống an nhàn
gắn liền biển khơi.
 Ôi Bình Định dấu yêu ! Ngàn đời con cháu khắc ghi trong lòng nối chí Cha Ông.
 Thương nhớ về Bình Định, nón lá Gò Găng năm nào
cùng người em Tăng Bạt Hổ chiều hè dạo phố Gia Long.
 Ai có rời Bình Định, đốt nén hương thơm từ giã
quê hương ngàn năm yêu quý, hẹn ngày đất nước yên vui.
Ai có về, ai có về, ai có về Bình Định - Đất nước - Quê hương.

 
Cố Nhạc sỹ La Hữu Vang

P/S: Có gì thiếu sót mong nhận được bổ sung từ các bạn. Cám ơn.
TKQN

Sự ra đời của 2 ca khúc viết về Bình Định

tinhkhucquynhon | 16 January, 2011 07:39

Sự ra đời của 2 ca khúc viết về Bình Định

Kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến nay, đã có nhiều nhạc sĩ viết về Bình Định và cũng đã có một số ca khúc hay cho Bình Định như bài "Đi tìm người hát lý thương nhau" của nhạc sĩ Vĩnh An...
Tuy vậy, những bài hát dễ hát và dễ đi vào lòng người thì còn hiếm.
Người Bình Định vẫn mong ước có được những bài hát hay về quê hương mình, tương tự như bài "Dáng đứng Bến Tre", " Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh" của Nguyễn Văn Tý, "Hà Tây quê lụa" của Nhật Lai...

Từ ngày Hội đồng hương Bình Định ở thủ đô Hà Nội được thành lập thì vấn đề "Bình Định ca" cũng được đòi hỏi nhiều hơn. Để đáp ứng yêu cầu của bà con quê hương, năm 1993, theo lời GS Hoàng Chương kể, thì ông có đưa cho nhạc sĩ Thuận Yến một bài thơ của Thế Kỷ viết về Bình Định khá hay và nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ thành bản nhạc với tựa đề "Vọng lời mẹ ru".
Tiếng mẹ ru từ vành nôi Bình Định
Giọng à ơ ngọt lịm những trưa hè
"Công đâu công uổng công thừa
Công đâu xách nước tưới dừa Tam Quan"
(...)

Quang Trung đất mẹ đây rồi
Trên mây anh vẫn nhớ, nhớ từng lời mẹ ru.
Bài hát đã được các ca sĩ Thu Hiền, Thanh Lam, Thanh Huyền hát rất thành công. Riêng nhạc sĩ Thuận Yến đã tự đàn và hát trước hàng nghìn cán bộ, bộ đội ở Bình Định và nhiều nơi khác, ở đâu cũng được hoan nghênh.

Và năm 1995, trong dịp quốc khánh 2-9, Hội đồng hương Bình Định tại Hà Nội có yêu cầu nhạc sĩ Trần Hoàn viết một bài hát về Bình Định. Nhạc sĩ Trần Hoàn lúc này đang là Bộ trưởng VHTT, quá bận công việc ở cơ quan nhưng vì nể mà nhận lời. Ông đề nghị GS Hoàng Chương chọn cho ông một số bài thơ viết về Bình Định. GS Hoàng Chương đã đưa cho nhạc sĩ 10 bài để ông tự chọn.

GS Hoàng Chương kể: "Sau một tuần, nhạc sĩ Trần Hoàn gọi điện mời nhạc sĩ Thuận Yến tới nhà để nghe và góp ý cho sáng tác mới của ông. Và hôm sau, giữa buổi trưa, nhạc sĩ lại gọi tôi tới cơ quan bộ để nghe ca sĩ Hà Vi hát thử. Tôi thật sự xúc động khi thấy nhạc sĩ Trần Hoàn cầm đàn vừa hát vừa hướng dẫn cho ca sĩ lột tả cái thần của tác phẩm "Bình Định quê tôi".
Có một quê hương bốn mùa dậy sóng
Biển vỗ về bờ cát trắng sớm khuya
Có những vùng quê khúc ruột miền Trung
Gió bay bay trong bát ngát hương dừa
(....)

Quê tôi Bình Định ngàn xưa
Quanh năm hạt nắng hạt mưa dãi dầu
Quê tôi dừa ngọt Tam Quan
Mắm ngon Mỹ Á, cá tràm Quy Nhơn
Ngày 20-10-1995, tại cuộc họp đồng hương có cả những đại biểu Quốc hội quê Bình Định tham dự, ca sĩ Hà Vi đã trình bày rất thành công bài hát "Bình Định quê tôi" của Trần Hoàn (với bút danh: Hồ Thuận An), lời thơ của anh hùng không quân Nguyễn Hồng Nhị. Chủ tịch tỉnh Bình Định lúc bấy giờ là ông Tô Tử Thanh đã xúc động nói: "Đây là một trong những bản nhạc hay nhất viết về Bình Định".

Trước đó, trong buổi lãnh đạo Bộ VHTT và Hội Âm nhạc Việt Nam tiếp bà Margaret Baxtresser - nữ danh cầm Mỹ, khi bà hỏi nhạc sĩ Trần Hoàn: "Tôi được biết ngài Bộ trưởng rất bận công việc quản lý của một ngành rộng lớn và phức tạp, vậy ngài sáng tác vào lúc nào?". Nhạc sĩ Trần Hoàn trả lời: "Vào những ngày nghỉ, những khoảng thời gian đi đường dài và ngay cả lúc ngồi trên máy bay. Ví dụ, bài "Bình Định quê tôi" là kết quả ngồi trên chuyến máy bay tháp tùng Tổng thống Iran từ Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Dĩ nhiên, để có được những nốt nhạc ghi ra trên máy bay chốc lát là tôi đã tự tư duy suy ngẫm rất kỹ từ trước đó rồi".

Bà Margaret Baxtresser đề nghị nhạc sĩ Trần Hoàn hát bài "Bình Định quê tôi". Nhạc sĩ hát ngay và rất say sưa. Trong không khí vui vẻ, Thứ trưởng Bộ VHTT Trung Kiên cũng tham gia và hát nhịp sôi nổi, bà Margaret Baxtresser nói: "Tôi chưa thấy ở đâu, cả bộ trưởng và thứ trưởng đều là hai nghệ sĩ có tài năng và có tác phong gần gũi, giản dị như ở Việt Nam. Ấn tượng đẹp này, tôi sẽ kể lại cho những người bạn Mỹ nghe và dĩ nhiên tôi sẽ biểu diễn bài "Bình Định quê tôi" cũng như tôi đã biểu diễn bài "Lời người ra đi" của nhạc sĩ Trần Hoàn vậy."

Cũng xin nói thêm, sau buổi gặp gỡ đó, bà Margaret Baxtresser đã đến dự họp đồng hương Bình Định để được nghe lại bài "Bình Định quê tôi" do các ca sĩ chuyên nghiệp biểu diễn và bà đã tự nguyện gia nhập Hội đồng hương Bình Định để góp phần xây dựng quỹ tài năng trẻ của Hội (do GS Bộ trưởng Đặng Hữu làm Hội trưởng).

Nguồn Báo Bình Định

Di tích Nhà Tây Sơn ở Thượng đạo

tinhkhucquynhon | 04 December, 2010 19:37

Di tích Nhà Tây Sơn ở Thượng đạo

Theo sử sách, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn, gồm cả phần đất phía Đông và phía Tây đèo An Khê. Phần đất bằng phẳng phía Đông gọi là Tây Sơn hạ đạo (nay là tỉnh Bình Định) và phần phía Tây có địa hình núi non hiểm trở gọi là Tây Sơn thượng đạo (nay thuộc thị xã An Khê và các huyện K'Bang, Đắc Pơ, Kông Ch'ro của tỉnh Gia Lai). Tây Sơn thượng đạo là vùng đất rộng lớn, tương đối bằng phẳng, xung quanh là rừng rậm tạo nên bức tường thành vững chắc. Từ Tây Sơn hạ đạo lên Tây Sơn thượng đạo chỉ có một con đường duy nhất, đèo cao, vực sâu hiểm trở.

Năm 1771, anh em nhà Tây Sơn chọn vùng đất này để lập doanh trại, chiêu mộ quân sĩ và rèn binh. Ở đây, nghĩa quân Tây Sơn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Xê Đăng... Sau khi xây dựng căn cứ vững chắc, tập hợp binh mã hùng mạnh, năm 1773 nghĩa quân Tây Sơn tiến quân đánh vùng hạ đạo, giải phóng phủ Quy Nhơn, rồi phủ Quảng Ngãi, sau đó cùng nhân dân đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh vào năm 1789.

Theo những tài liệu và dấu tích còn lưu lại, có thể phác họa di tích Tây Sơn thượng đạo gồm 3 vòng, tập trung chủ yếu tại thị xã An Khê ngày nay. Thôn An Lũy là vòng phòng thủ trung tâm, nơi đóng chỉ huy sở của nghĩa quân, nơi tập trung binh lính, sinh hoạt ăn ở và rèn binh, tập trận. Chỉ huy sở được xây dựng rất kiên cố gồm An Khê đình (đình Trong) và An Khê trường (đình Ngoài), xung quanh được bao bọc bằng thành cao, lũy dày.

Một vùng đất gắn liền với phong trào Tây Sơn, nên ngày nay các di tích ở đây được chính quyền và nhân dân gìn giữ, trùng tu để tưởng nhớ công đức của tiền nhân.

Dưới đây là những hình ảnh các di tích ở Tây Sơn Thượng đạo (nay thuộc Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai):
Dong lai
Miếu Xà (theo sử sách, trên đường ra trận, khi đến đoạn đường trên thì gặp con rắn Nguyễn Huệ đã giết con rắn lấy máy bôi lên lá cờ, sau này nhân dân xây dựng miếu thờ gọi là Miếu Xà) ở Tây Sơn Thượng đạo bên QL 19.
Dong lai
Toàn cảnh khu An Khê Trường vừa được trùng tu.
Dong lai
Tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ trong khu di tích.
Dong lai
Ngôi đền thờ nằm trong khu An Khê Trường.
Dong lai
Bia di tích An Khê Trường
Dong lai
Cổng vào An Khê Trường.
Dong lai
Gian thờ Quang Trung - Nguyễn Huệ trong đền thờ.
Dong lai
Toàn cảnh bên trong khu di tích.
Dong lai
Ngọ môn.
Dong lai
An Khê Đình.
Dong lai
Bảo tàng Tây Sơn Thượng đạo.
Dong lai

Từ  Tây Sơn Thượng đạo nhìn xuống Tây Sơn Hạ đạo.
Văn Lưu

Mời nghe ca khúc ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH ĐỊNH

tinhkhucquynhon | 31 October, 2010 20:06

Mời nghe ca khúc ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH ĐỊNH



Xin lỗi post ca khúc nhưng không biết tên nhạc sĩ và ca sĩ mong các bạn vào nghe và bổ sung thông tin.
Cám ơn.

Chùm thơ XUÂN DIỆU

tinhkhucquynhon | 10 October, 2010 16:02

Chùm thơ XUÂN DIỆU

*Quả sấu non trên cao

Chót trên cành cao vót
Mấy quả sấu con con
Như mấy chiếc khuy lục
Trên áo trời xanh non.

Trời rộng lớn muôn trùng
Đóng khung vào cửa sổ
Làm mấy quả sấu tơ
Càng nhỏ xinh hơn nữa.

Trái con chưa đủ nặng
Để đeo oằn nhánh cong.
Nhánh hãy giơ lên thẳng
Trông ngây thơ lạ lùng.

Cứ như thế trên trời
Giữa vô biên sang nắng
Mấy chú quả sâu non
Dỡn cả cùng mây trắng

Mấy hôm trước còn hoa
Mới thơm đây ngào ngạt,
Thoáng như một nghi ngờ.
Trái đã liền có thật.

Ôi! từ không đến có
Xảy ra như thế nào?
Nay má hây hây gió
Trên lá xanh rào rào.

Một ngày một lớn hơn
Nấn từng vòng nhựa một
Một sắc nhựa chua giòn
Ôm đọng tròn quanh hột...

Trái con như thách thức
Trăm thứ giặc, thứ sâu,
Thách kẻ thù sự sống
Phá đời không dễ đâu!

Chao! cái quả sâu non
Chưa ăn mà đã giòn,
Nó lớn như trời vậy,
Và sẽ thành ngọt ngon.


Xuân Diệu -11-7-1967

*Tương tư chiều


Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm.
Mà ánh sáng đều hoà cùng bóng tối.

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối:
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành:
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ

Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ
Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm,
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi,

Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi,
(Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu).
- Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.

Xuân Diệu

*Đây mùa thu tới

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới! Mùa thu tới
với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Mây vẩn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Xuân Diệu - (Nguồn thica.net)

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ - Tinh hoa một phái “võ chùa”

tinhkhucquynhon | 24 July, 2010 23:10

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ
Tinh hoa một phái "võ chùa"

Nói đến võ cổ truyền Bình Định, chắc hẳn, không ai một lần nghe nói đến các địa danh quen thuộc như: An Thái, Thuận Truyền, An Vinh...Ngoài những địa danh trên thì tại Bình Định còn tồn tại một Câu lạc bộ "võ chùa" hiện còn lưu giữ nhiều thế võ cổ truyền và những bài thuốc về Y võ nổi tiếng. Nơi đây, đã đào tạo các môn sinh, võ sĩ trưởng thành lừng danh qua nhiều thế hệ. Chùa cũng là điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu võ học, biểu diễn, giao lưu võ cổ truyền. Đó là câu lạc bộ "võ chùa" Long Phước Tự, ở thôn Tân Thuận, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước - Bình Định do sư thầy trụ trì Thích Hạnh Hòa sáng lập hơn 30 năm qua đã góp phần tô thắm và tạo dựng nên bức tranh hoành tráng của võ cổ truyền Bình Định.

 

Hòa thượng Thích Hạnh Hòa và các môn sinh. Ảnh: Báo Đất Việt

Bình Định được mệnh danh là miền đất võ, truyền thống ấy không ngẫu nhiên mà có. Nó đã được hình thành qua nhiều thế kỷ, gắn chặt với sự nghiệp nhà Tây Sơn, những làng võ cổ truyền tại các địa phương trong tỉnh hình thành gắn với tên lang, tên xã "roi Thuận Truyền, quyền An Thái; "gái An Vinh" đi quyền...với nhiều võ đường võ sư nổi tiếng như Võ đường Phi Long Vịnh, Long Ngọc Phú, Bửu Thắng, Hà Trọng Sơn...

Môn phái võ chùa Long Phước Tự ở thôn Tân Thuận, xã Phước Thuận huyện Tuy Phước (Bình Định) hiện nay tăng ni sinh võ tự của chùa còn lưu giữ rất nhiều môn võ cổ truyền. Câu lạc bộ võ chùa do thầy Thích Hạnh Hòa trụ trì chùa sáng lập vào đầu những năm 1980, không ngoài mục đích rèn luyện đào tạo tu dưỡng đạo đức, sức khỏe con em trên quê hương và tăng ni sinh của nhà chùa sống "tốt đời đẹp đạo", giúp cho thanh thiếu niên hướng thiện, các môn sinh học võ chùa Long Phước đều được sự đón nhận ân cần dạy bảo hướng dẫn nhiệt tình của các thầy võ miễn phí hoàn toàn. Môn sinh ở xa được nhà chùa bố trí nơi ăn ở chu đáo, do vậy mà võ đường của chùa đã thu hút được nhiều môn sinh khắp nơi trong cả nước đến đăng ký học võ, trong đó có cả môn sinh người ngoại quốc.

Hơn 30 năm qua tại mảnh vườn hơn 1ha của chùa ngày đêm nghe âm vang tiếng binh khí, hòa lẫn tiếng nô đùa hồn nhiên của các nam nữ võ sinh luyện tập các môn võ nghệ cổ xưa, những môn võ cổ truyền độc đáo như là: thảo, bộ, quyền, roi; cùng một số binh khí như: thương, đao, kiếm; với các bài công đấu: roi đấu với roi, thương đấu với kiếm, các bài tam đấu: xa thương kiếm pháp, đặng vân sát kiếm, các bài thi đấu: xa thương kiếm pháp, đặng vân sát kiếm, các bài thi đấu: lạc mã trùng dương, roi thương kiếm đao...

Được sự cổ vũ của các môn sinh, sự tận tâm dạy bảo của các thầy võ, cộng với nét độc đáo của môn võ cổ truyền mang sắc thái riêng "võ chùa" mà ông cha xưa qua các thế hệ lưu giữ, kế thừa phát huy và sáng tạo cho nên võ đường chùa Long Phước Tự đã đào tạo thành công nhiều lớp võ sĩ trẻ như: Vạn Thanh, Văn Tính, Kim Huệ, Trần Di Linh, Nguyễn Văn Cảnh...tham gia thi đấu đạt nhiều huy chương vàng qua các kỳ Seagame, nhiều võ sinh và võ sĩ được vinh dự biểu diễn tại các nước Liên Xô, Pháp, Ý, Hàn Quốc...Với các thành tích đã đạt được, chùa Long Phước được các môn phái nhiều nước trên thế giới biết đến và thường xuyên đến giao lưu và tham gia tập luyện, tạo nên một nét văn hóa độc đáo mà không có một lò võ cổ truyền nào trên đất nước Việt Nam có được ngày nay. Hy vọng võ đường chùa Long Phước tiếp tục duy trì, bảo tồn và phát huy nền võ học cổ truyền Việt Nam nói chung và góp phần tô thắm và tạo dựng nên bức tranh hoành tráng võ cổ truyền Bình Định trường tồn và phát triển.

.Theo Nguyệt san Du lịch & Giải Trí

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ - Truy tìm pho "bí kíp điểm huyệt"

tinhkhucquynhon | 17 July, 2010 08:10

VỀ MIỀN ĐẤT VÕ
Truy tìm pho "bí kíp điểm huyệt"

(BĐ)Đó chính là "bí kíp điểm huyệt" năm đời được giới võ thuật đồn đại bấy lâu mà lão võ sư Lâm Ngọc Phú (thôn Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn), vị "đại chưởng môn" võ quán Bình Sơn, đang nắm giữ.

Nói đến võ Tây Sơn không ai không biết câu truyền miệng "Roi Thuận Truyền, quyền An Thái". Roi Thuận Truyền ý nói bài roi kì ảo của võ sư Hồ Ngạnh (nay đã thất truyền) còn bài quyền Lâm Gia của dòng họ võ sư Lâm Ngọc Phú được mệnh danh "Quyền An Thái ngã vô song" (không có bài nào hay hơn).

 

Lão võ sư hé lộ bản dịch "pho bí kíp".

Pho bí kíp gìn giữ năm đời

Lão võ sư Bảy Phú cho biết pho bí kíp võ thuật của gia đình đã trải qua năm đời với trên ba trăm năm tuổi. Trong bí kíp có nhiều thế võ khá "độc" trong nhà chỉ có con trai trưởng hoặc người con trai nào đủ tài đức mới được quyền xem qua còn con gái tuyệt nhiên là không vì sợ lan truyền ra ngoài. Trải qua thời gian, ngày nay bản chữ Hán mục nát rất nhiều nên lão võ sư quyết định lên chùa Núi Lớn (Bình Định) mời cho bằng được nhà sư Huyền Ân nổi tiếng đức cao vọng trọng dịch ra tiếng Việt. Trước khi trao lại cho võ sư Phú, nhà sư còn nắn nót ghi lên bìa sách dặn dò chủ nhân "Giá ngàn vàng không đổi...".

Lão võ sư tiết lộ: Thật ra đây là một quyển bí kíp y võ (dùng võ thuật để chữa bệnh) cực kì hiệu quả nhưng nếu không khéo để lọt vào tay kẻ xấu nó sẽ biến thành vũ khí giết người. Bởi người "xuất chiêu" hiểu rõ kinh mạch đối phương như lòng bàn tay thậm chí ra đòn xong biết rõ đối thủ sẽ chết trong một giờ, một tuần hay một tháng...

Giống cha là võ sư Hương Kiểm Lài lừng danh đất Tây Sơn, lão võ sư Bảy Phú nổi danh là một thầy thuốc võ mát tay. Biết bao võ sinh mang ơn những phương thuốc bí truyền từ pho bí kíp giúp họ thoát khỏi thương tật tưởng chừng không chữa khỏi.

Độc cô cầu bại" đất Tây Sơn

Theo các bậc tiền bối võ học, ngày xưa các võ sĩ muốn khẳng định tên tuổi chỉ có cách thi đấu võ đài tự do (không kể cân, không phân biệt tuổi tác, môn phái...). Lão võ sư kể có lần ông bước lên đài giao đấu cùng một võ sĩ người Miên cao to có tiếng "sát thủ" với nhiều thế võ "độc" từ miền Nam . Sân Qui Nhơn chật kín khán giả đến nỗi sập cả cửa ra vào, bên dưới để sẵn... một cái quan tài để nếu có võ sĩ nào chết cũng không được khiếu kiện (!).

Vào trận, tay võ sĩ người Miên sử dụng toàn võ lạ. Suốt một hiệp đầu, chàng võ sĩ đất Tây Sơn toàn chống đỡ những cú đá liên hoàn cùng các đòn tay mạnh như búa bổ cố tìm ra điểm yếu của địch thủ. Sang hiệp hai, ông phát hiện khi đối phương tung cước thì bộ thủ rất chắc nhưng hở ngực nên lừa thế tung người sử dụng bài "Mạnh Lương đoạt ngựa" kẹp người đối phương quăng vào góc đài rồi bồi thêm một chỏ vào khuỷu tay khiến hắn đau đớn chịu thua...

Vào cái thời cả làng võ thuật lấy võ đài làm thước đo "đẳng cấp" ấy, chàng trai Bảy Phú thượng đài chưa từng nếm mùi thất bại nên được làng võ kính nể gọi bằng biệt danh "Độc cô cầu bại đất Tây Sơn".

Chữ Tâm kia bằng ba chữ Tài

Lão võ sư Bảy Phú nhẩm tính gần 50 năm từ ngày võ đường Bình Sơn mở cửa không thể nhớ hết có bao nhiêu lứa học trò từ Nam chí Bắc. Trải qua thời gian, làng võ An Thái vang bóng một thời với hàng chục lò võ nhưng hiện nay chỉ còn sót lại võ quán Bình Sơn vẫn còn duy trì. Không kể lứa võ sinh lớn lên ở làng An Thái vẫn hàng ngày tập luyện tại võ quán, thỉnh thoảng ông lại đón số học trò tận miền Nam, có khi ở Tây Nguyên nằng nặc xin theo học. Sau khi có bản dịch phần y võ xong, ông quyết định sẽ đốt quyển "bí kíp điểm huyệt" đi vì "nếu gặp người có Tâm có Đức nó sẽ giúp người rất nhiều còn ngược lại vào tay kẻ ác cái hại khôn lường".

.Theo MT

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang

tinhkhucquynhon | 07 July, 2010 06:32

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang

SGTT - Từ thành phố Quy Nhơn, đi hơn 20km đường liên thôn, ngang qua tháp Đôi nổi tiếng về mặt kiến trúc, qua mộ nghệ nhân tuồng Đào Tấn, gần tới nhà tưởng niệm của thi sĩ Xuân Diệu, dọc theo hai bên ruộng lúa, nếu gặp đúng mùa trổ đòng nữa thì con đường tới quán bánh xèo quả thật là con đường hương đồng gió nội, đưa ta trở về với quê hương tuổi thơ đầy kỷ niệm.
.

Cái quán ấy nằm khiêm tốn dưới chân cầu Mỹ Cang, thuộc thôn Gò Bồi, xã Mỹ Cang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Quán là căn nhà cũ kỹ, vách tường gạch mộc, nền đất nện, mái rạ lợp thưa đã qua vài mùa mưa nắng. Quán nhỏ, không có bảng hiệu, diện tích chỉ đủ đặt hai bàn cho 5 - 7 thực khách. Bên hông quán là luỹ tre xanh, có dòng sông nước đục lặng lờ trôi như bao miền quê khác.

Chúng tôi ngồi ngoài sân để được hưởng làn gió thật, không phải gió quạt máy hay máy lạnh, thoảng nhẹ trong một buổi sáng yên bình, chờ bà chủ quán tuổi hơn 70, đứng trong bếp ám khói, đúc từng cái bánh xèo đường kính cỡ lòng bàn tay, khách ăn đến đâu thì đúc đến đấy.

Bánh được dọn ra nóng hổi, thơm giòn. Bánh không pha bột nghệ và nước cốt dừa như bánh xèo miền Tây của bà Mười Xiềm nổi tiếng mà chỉ thuần chất bột gạo ngâm, xay tay, béo ngậy nhờ chiên với mỡ trên bếp củi. Mỗi cái bánh trắng trong, có chừng mười con tôm chín đỏ au và hành chẻ xanh mướt làm nhưn. Chén nước chấm là nước mắm cốt, pha với chanh đường, tỏi ớt giã nhuyễn. Dĩa rau sống điểm xanh non những lá xàlách nhỏ xinh.
 

Mùa này đang có xoài nên món bánh xèo được cho thêm những sợi xoài vàng đượm, giòn giòn, chua chua, ngọt ngọt chất tinh bột của loại quả chín già trên cây. Một món truyền thống không thể thiếu của miền Trung là dĩa bánh tráng nhúng mềm mại. Bánh tráng dùng để gói bánh xèo, rau sống, xoài chua. Chấm cả cuộn bánh vào nước mắm cay, nồng, ngọt đậm, bạn sẽ thấy thấm thía vì cái dẻo dai của loại gạo dùng tráng bánh đã nâng đỡ tất cả mùi vị, làm cho bạn cảm nhận được những tinh tuý của lúa gạo, rau trái và tôm cá từ sông nước Gò Bồi.

Quán bán hàng ngày, từ khoảng 7 giờ sáng đến 9 giờ là hết hàng. Dù có khách nài thêm bà cũng không làm vì bột gạo xay và tôm tươi được chuẩn bị có chừng mực. Bà tên Lê Thị Thu, người bản địa, mở quán bán từ năm 1976, vì chỉ có một người con trai tên Tuấn, chưa có vợ ở với bà nên những người quen biết đều gọi là bà Năm Tuấn.

Mỗi sáng bà dậy xay bột, giã tỏi ớt pha nước chấm trong khi anh con trai đi chợ thôn Gò Bồi mua rau và tôm tươi mới chài lưới từ dòng sông. Tôm con nào cũng còn sống nhảy tanh tách. Đi chợ về thì bà và anh Tuấn lặt rau, cắt râu, đuôi tôm và bắt đầu chiên bánh. Có khi con tôm đưa lên khuôn đúc còn nhảy nên bánh được thực khách đặt tên là bánh-xèo-tôm-nhảy, chớ bà Năm và anh Tuấn thì chỉ cười hiền lành khi nghe mọi người trầm trồ khen bánh ngon quá là ngon.

Nếu khách là người ở xa tới thì nên đặt trước để bà chuẩn bị đủ nguyên vật liệu cho số người sẽ ăn và cái chính là không sợ đến muộn phải về không. Dù cái bánh nhìn không lớn nhưng mỗi người ước lượng ăn chừng hai, ba cái là "no chết xác", nói như người ở đây.

Đi về hơn 40km nếu xuất phát từ thành phố Quy Nhơn, nhưng đi rồi bạn sẽ thấy rất đáng đồng tiền bát gạo. Tại trung tâm thành phố Quy Nhơn và tại một con đường lớn của TP.HCM, chúng tôi cũng thấy có vài quán trưng biển giới thiệu món bánh-xèo-tôm-nhảy nhưng chắc cái ngon lành của vị tôm tươi, của bột gạo xay chiên giòn thật giòn, chấm với nước mắm tỏi ớt, hoà quyện cái dẻo mềm của bánh tráng nhúng, của rau thơm mướt xanh, cộng với ngọn gió đồng mát rượi từ ruộng lúa thẳng cánh cò bay... thì bảo đảm không có cái quán nào ở nơi thị tứ bắt chước được!

Điều thú vị nữa khi đến đây bạn sẽ được đắm mình trong cái quán thật, thấy bụi tre thật, con sông thật chớ không phải là một không gian nhân tạo, vay mượn từ công trình kiến trúc giả cổ, phục dựng ở các resort, khu vui chơi, nghỉ dưỡng... mà ngày nay khách du lịch phải làm bộ coi như thật để tự an ủi cho nhu cầu về nguồn của mình.

Một đặc điểm nữa của quán, đó là cái dáng tảo tần của bà Năm, giống như bao nhiêu bà mẹ quê nhà, cùng sự ân cần niềm nở của anh Tuấn như một người trong gia đình chờ đón những người anh em đi xa mới về, làm cho ai đến quán một lần đều thấy nhớ như nhớ quê hương bản quán của mình. Trong nỗi nhớ đó có cái lo hơi xa xôi. Lỡ một mai khi bà Năm trăm tuổi già thì ai sẽ là người nối tiếp để cho cái mái rạ bên dốc cầu Mỹ Cang mỗi sáng còn bốc lên làn khói bánh xèo thơm phức chờ đón những người đi xa lâu lâu mới được trở về.

bài và ảnh: Nguyễn Thị Anh Thư

Xứ dừa quê tôi

tinhkhucquynhon | 23 June, 2010 20:41

Xứ Dừa quê tôi

NGUYỄN THỊ THẢO HIẾU
(Lớp 08DP2, Khoa Đông Phương học, Trường ĐH Văn Hiến)

Người dân Bình Định, nhất là người Hoài Nhơn (Bình Định) ai cũng thuộc lòng câu ca dao:

Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

Để nói rằng dừa ở Bình Định nói chung, ở vùng Hoài Nhơn nói riêng rất nhiều.

Thật vậy, trước chiến tranh chống Mỹ, vùng Hoài Nhơn - Tam Quan rợp mát bóng dừa xanh. Cuộc sống của nhiều người dân gắn liền với nhữngvườn dừa và cây dừa là cây kinh tế truyền thống và mũi nhọn cho mọi gia đình ở đây. Toàn bộ cây dừa đều có ích, nhưng người ta quý cây dừa trước hết là do những chùm "lơ lửng giữa trời, sông không đến, bến không vào, sao có nước" (câu đố về quả dừa) của nó.

Từ cột nhà, kèo nhà, đòn tay nhà, cây ruôi cho đến mái lợp... cũng bằng toàn bằng gỗ dừa, cọng dừa và lá dừa. Còn thứ liệu của dừa cũng được tận dụng làm chất đốt để nấu nướng và sưởi ấm cho các cụ già vào mùa đông tháng giá. Từ cây dừa đã tạo ra không biết bao nhiêu công việc làm ăn, nuôi sống làng xóm qua nhiều thế hệ. Các món ăn được chế biến từ dừa, những đồ gia dụng, ngư cụ đến nông cụ cũng được chế biến từ cây dừa, chẳng những tiêu thụ tại địa phương hay quanh vùng mà còn làm thành sản phẩm hàng hóa chở đi bán cho cư dân các tỉnh miền Trung và miền Nam.

Đi trong làng rợp bóng dừa như những hành lang tự nhiên có mái che, nhất là ở vùng Cửu Lợi - Tam Quan. Ánh sáng mặt trời ở Tam Quan bao giờ cũng đi cùng gió biển ban mai. Gió đẩy nắng vờn trên ngọn lá. Trời đầy tiếng chim chích chòe hối hả gọi nhau qua những tàu lá dừa dài phấp phới. Con đường vàng và rợp mát. Làn gió lướt qua, những tàu lá dừa xôn xao lấp lánh. Đi trong rừng dừa khoan khoái biết bao, không khí như có mùi thơm. Bóng dừa đã tạo cho các cô gái ở nơi đây có mái tóc dài đen bóng (vì xức tóc bằng dầu dừa) cùng với làn da trắng mịn (nhờ bóng rợp mát của dừa, cả ngày không lọt nắng) như quyến rũ, mời gọi các chàng trai từ các vùng khác tìm đến, nên thường có câu ví trong dân gian: "Trai An Thái, gái Cửu Lợi" quả cũng không ngoa. Dân gian ở đây còn có câu ca:

Tam Quan ít mít nhiều dừa
Nhiều cô gái đẹp mà chưa có chồng

Thiên nhiên từ lâu đã ưu đãi con người miền Trung nắng gió. Nếu Quảng Ngãi có rừng mía, Phú Yên có rừng bông thì Bình Định có rừng dừa bạt ngàn. Không rõ cây dừa đã được trồng ở Bình Định từ đời nào, nhưng người ta kể rằng: Thuở ấy, vùng này đất đai phì nhiêu nhưng nhân dân đói khổ. Có một con chằn tinh và một con đại bàng từ xa đến, chúng thường phun nọc độc hủy hoại cây cối, ruộng đồng. Mọi người đều lo sợ. Một hôm con đại bàng sà cánh xuống làng và cắp mất Nàng Nếp, một cô gái chăm chỉ, xinh đẹp, hiền hậu nhất làng. Chàng Lửa - người yêu của cô gái - vội vã vượt suối, trèo non lên đỉnh núi cao, giết chết đại bàng cứu được cô gái. Chàng Lửa đem người yêu về nhà. Cha mẹ cô gái vì quá nhớ thương cô gái nên đã chết. Cô gái phiền muộn nên chẳng bao lâu cũng qua đời. Lúc hấp hối, cô cầm tay chàng Lửa căn dặn: "Em chết, nhưng trái tim em nguyện ở mãi cùng dân làng, cùng anh".



Ít lâu sau, trên nấm mồ của nàng Nếp nảy sinh một chồi con và chiếc lá đầu tiên dài có hình cái lược của người con gái hiện ra. Cây lớn lên rất nhanh, nở ra những chùm quả vàng chi chít ôm tròn quanh ngọn cây. Nước ở trong quả ngọt lịm và lớp thịt màu trắng thì béo ngậy. Mọi người trìu mến gọi quả lạ là quả Nàng Nếp. Nhưng lúc này, từ ngoài khơi con chằn tinh lại bơi vào. Chàng Lửa liền cùng dân làng vây đánh. Chằn tinh bị chém mất đầu lại mọc ra đầu khác. Đánh mãi đến chiều tối thì nó thua chạy ra biển. Dân làng dùng thuyền vượt biển đuổi theo. Ra đến đảo xa, chàng Lửa giết chết con chằn tinh nhưng chàng cũng bị thương nặng. Thuyền về đất liền thì chàng tắt thở. Thi hài của chàng được chôn cạnh nấm mồ của Nàng Nếp. Kỳ lạ làm sao, ngay ngày hôm sau, một thân cây đã hiện ra cao vút. Từng chùm quả giống hệt quả Nàng Nếp đung đưa trong gió chiều, duy chỉ có sắc da thì đỏ như ráng chiều, trông nước da trên khuôn mặt của chàng Lửa.

Để tưởng nhớ công ơn chàng trai tài giỏi, dân làng gọi cây lạ là cây chàng Lửa. Năm tháng theo nhau qua, ở vùng đất này dân làng ươm trồng hai loại cây này thành những cánh rừng rộng bạt ngàn; cây nhiều không sao đếm xuể nữa. Khách xa đến nhìn khó mà phân biệt đâu là cây Chàng Lửa và đâu là cây Nàng Nếp. Dần dần người ta gọi một tên chung là cây dừa.

Sống gắn bó và rất mực thủy chung với người, cây dừa là niềm kiêu hãnh của người dân Bình Định:

Dừa xanh sừng sững giữa trời
Đem thân mình hiến cho đời thủy chung

Từ đầu thế kỷ 20 cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp, người dân các tỉnh miền Trung, Trung bộ và nhất là các tỉnh thuộc Liên khu 5 cũ rất quý cây dừa, vì nó cho ta đủ mọi thứ, quan trọng nhất là dầu dừa được làm dầu ăn, dầu thắp sáng và có khi người ta dùng để bón cây rất tốt. Những đêm văn nghệ, liên hoan nhiều người cũng dùng những đĩa đèn dầu dừa lớn đốt nhiều ngọn. Họp chợ ban đêm (để tránh máy bay địch), các lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ cũng đều sử dụng đèn dầu dừa. Ngay cả khi lau chùi bảo quản khí tài, quân cụ, bôi trơn các loại máy móc, sản xuất bánh xà phòng... cũng đều dùng đến dầu dừa. Thật là dễ hiểu vì nó là nguyên liệu tại chỗ, mà lúc bấy giờ chưa có các loại dầu ăn như: dầu xà lách, dầu ô liu, dầu đậu nành, dầu Tường An... như bây giờ để thay thế. Cho đến các loại dầu mỏ như: dầu hỏa, dầu cặn để thắp sáng cũng chỉ có sau năm 1955, chứ chưa nói gì đến đèn điện.

Nhiều thức ăn và việc chế biến thức ăn, thức uống cũng lấy dừa làm gốc như: các thứ bánh đều có nhân dừa hay nước cốt dừa. Khi ấy dừa được coi như kem để kẹp bánh (bánh thuẫn, bánh măng, bánh trụng), có thành phần là dừa như bánh ít lá gai, bánh tráng nước dừa, thậm chí cả bánh chưng, bánh tét nhân dừa nữa. Bởi vì các loại bánh đó phải có dừa bánh mới thơm ngon và sang trọng. Các mẹt hàng ngoài chợ nông thôn xưa kia ít khi thấy bán kẹo, nếu có chỉ là loại "kẹo ú" sản xuất tại chỗ bằng đường mật mía mà thôi. Kẹo dừa được người dân Bến Tre - một xứ sở của dừa - sản xuất có thương hiệu nổi tiếng ở nhiều nước. Riêng các hợp tác xã sản xuất đồ gia dụng từ vỏ dừa, gỗ dừa ở Hoài Nhơn vẫn có mặt hàng trên khắp nước và đang "chống cự" lại với mặt hàng nhựa tiện dụng và rẻ tiền. Những năm trước đây họ cho xuất khẩu cả cơm dừa phơi khô, than hoạt tính đốt từ sọ dừa.

Lợi ích từ cây dừa đem lại, với không biết bao nhiêu công ăn việc làm cho cư dân vùng này. Tuy nhiên, cây dừa nhiều lúc lâm vào đại dịch của bọ cánh cứng tàn phá vô kể mà nông dân cứ nhìn lên trời mà than thở, mặc dầu trước đó các cơ quan hữu trách đã dùng nhiều biện pháp chống trừ.

Dừa trở thành sản phẩm đặc trưng của người dân Hoài Nhơn nói riêng và của người dân Bình Định nói chung.

N.T.T.H

VUA QUANG TRUNG - Vị anh hùng dân tộc

tinhkhucquynhon | 12 June, 2010 16:47

VUA QUANG TRUNG

Vị anh hùng dân tộc

 
1- Vinh danh Anh Hùng Dân Tộc
Người Pháp tự hào về Napoléon Bonaparte. Ông là một thiên tài quân sự, đã chinh phục một phần lớn lãnh thổ Âu Châu, nhưng cuối cùng thất bại trận Waterloo tại nước Bỉ.

            Dân tộc Pháp luôn luôn tôn kính ông. Du khách đến Paris thấy ở đầu đại lộ Champs Elisée, gần nhà thờ Đức Bà cổ kính, gần dòng sông Seine thơ mộng, Khải Hoàn Môn được xây dựng, một công trình kiến trúc Văn Hóa Hùng Sử Pháp, để tưởng nhớ Napoléon Bonaparte, với những chiến thắng vẻ vang liên tiếp đã làm rạng danh trang sử Pháp.

            Vào thời gian này, tại Mỹ Quốc cũng có cuộc cách mạng Hoa Kỳ. Chính George Washington, một chính trị gia lỗi lạc, một anh hùng dân tộc, đã đưa đất nước Hoa Kỳ đến chỗ vinh quang.

            Việt Nam chúng ta có vua Quang Trung Nguyễn Huệ là kết hợp hai đặc điểm Thiên Tài Quân Sự của ông Napoléon Bonaparte và chính trị gia lỗi lạc của ông George Washington. Vua Quang Trung hành quân tốc chiến tốc thắng, biến hóa như thần, hiệu lệnh nghiêm minh, kỷ luật sắt thép. Từ khi làm Tướng, giữa lúc nước nhà ly loạn khắp nơi, đến khi ông mất, xông pha trăm trận bách chiến bách thắng, ông chưa hề biết chiến bại.

            Chúng ta phải lập Khải Hoàn Môn Việt Nam để vinh danh vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ, là gương sáng cho thế hệ con cháu mai hậu noi theo. Chỉ trong 5 ngày chiến đấu ào ạt, Vua Quang Trung đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, chiến thắng vẻ vang trong những trận đánh thần tốc oai hùng. Đây là một chiến công lớn lao, so sánh với chiến công của các danh tướng Đông Tây Kim Cổ trên thế giới, là niềm hảnh diện chung cho Dân Tộc Việt Nam.

            2- Cuộc Cách Mạng Dân Tộc

            Vào thế kỷ thứ 18, nhiều cuộc Cách Mạng Dân Tộc nổi lên khắp nơi từ Âu, Mỹ, Á. Cách Mạng Pháp 14/7/1789 lật đổ chế độ phong kiến tiếp nối qua nhiều thế hệ. Sự thống trị cha truyền con nối từ đời nầy sang đời khác bị đánh đổ, nông nghiệp phải nhường bước cho thương nghiệp. Nhiều nước đua nhau lập đội thương thuyền, tranh giành thị trường và chiếm thuộc địa.

            Tại Việt Nam thời bây giờ, loạn lạc nổi lên khắp nơi như vụ loạn Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất ..., quan quân địa phương dẹp không nổi.

            Trong Nam, năm 1782 Nguyễn Phúc Ánh Nhà Nguyễn bị Nhà Tây Sơn đánh bại tại Ngả Bảy Thất Kỳ Giang không còn manh giáp, Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát thân ra đảo Phú Quốc. Trong trận nầy, Nguyễn Phúc Ánh cầu cứu một người Pháp tên là Manuel đem thủy quân đến giúp, nhưng không chống nổi, Manuel phải đốt tàu mà chết. Về sau, Nguyễn Phúc Ánh nhờ Pierre Pigneau de Behiane Eveque d' Adran đem con là Hoàng tử Cảnh đi cầu cứu nước Pháp, nhờ đem quân sang giúp, chống lại nhà Tây Sơn, khơi mào cho sự dòm ngó tìm thị trường và thuộc địa của Đế quốc phương tây. Một trăm năm đô hộ giặc Tây! Dân Việt trải qua bao nhiêu sự đau khổ, bị áp bức, chết chóc, sưu cao thuế nặng.

            Năm 1784, Nguyễn Phúc Ánh rước quân Xiêm La do hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương, đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền chiến Rạch Giá, Ba Thắt, Trà Ôn và Mân Thít. Đi đến đâu quân Xiêm cướp bóc và quấy nhiễu đến đó, thật là tai hại.

            Ở miền Bắc Trịnh Giang chuyên quyền, giết vua Lê, tàn sát các công thần. Họ Trịnh ăn chơi xa xỉ khiến công quỹ hao hụt, sưu thuế nặng nề. Cuộc tranh bá đồ vương Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài trên một trăm năm (1620-1775) làm dân chúng chết chóc, điêu linh khổ sở.

            Năm 1788, Lê Chiêu Thống rước quân Tàu do Tôn Sĩ Nghị, Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đem quân xâm chiếm Việt Nam, thiếu chút nữa nước ta bị quân Tàu đô hộ một lần nữa. Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, qua bốn lần Bắc thuộc, khởi đầu từ năm 207 trước Tây lịch, thiệt quá khủng khiếp! Người dân phải lên rừng tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, sưu cao thuế nặng dưới sự cai trị áp bức của quân xâm lược. Dân tộc Việt Nam, trải qua hàng chục thế kỷ bị đô hộ, với biết bao nhiêu sự phấn đấu vượt bực để khỏi bị người Tàu đồng hóa.

            Giáo sĩ Diego de Jumilla viết: „Để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, Nhà Tây Sơn đã đứng lên làm cuộc Cách Mạng Dân Tộc, lật đổ chế độ thối nát, đem công bằng và cơm no áo ấm cho dân chúng".

            Buttinger, nhà nghiên cứu lịch sử chính trị đã nói: „Những lực lượng xã hội thời bấy giờ, như khách trú người Hoa, người Chiêm Thành, các giới nhà chùa Phật Giáo, Lão Giáo, Các Sắc Tộc thiểu số đều nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ, đưa phong trào Tây Sơn đến chỗ thành công".

            Jean Chisneaux, giáo sư sử học Pháp viết: „Sự kiện lớn nhất đối với Nhà Tây Sơn là việc khôi phục, thống nhất đất nước, xóa bỏ việc chia cắt đất nước thành hai vương quốc Trịnh-Nguyễn đối địch".

            Trong cuốn Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của ông Đặng Xuân Bảng, có đoạn viết: „Trận chiến lúc bấy giờ giống như cái thế Tam Quốc bên Tàu: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Ở Việt Nam Nhà Tây Sơn đã đánh Chúa Nguyễn, diệt chúa Trịnh, thống nhất đất nước". 
 3- Binh pháp Nguyễn Huệ:
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, „Binh pháp Tôn Tử" nổi danh và được áp dụng qua nhiều thế kỷ. Các nhà quân sự phương đông và Việt Nam thường hay nghiên cứu và áp dụng binh pháp nầy, nhưng kết quả thành bại, phần lớn tùy vào khả năng và sự tài giỏi của người điều khiển.

            Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, xông pha trận mạc khắp các chiến trường, đánh vào phía nam, bốn lần bạt thành Gia Định, đánh ra phía Bắc, ba lần vào Thăng Long, thắng Chúa Nguyễn, diệt Chúa Trịnh, đánh bại quân Xiêm La, phá tan quân Mãn Thanh, áp dụng binh pháp thiên biến vạn hóa: Binh Pháp Nguyễn Huệ.

            - Quân đôi hùng dũng

            - Kỷ luật sắt thép

            - Tình báo chính xác

            - Kế hoạch tinh vi

            - Chuyển quân chớp nhoáng

            - Chỉ huy dũng mãnh

            - Trận đánh thần tốc

            - Ân uy, độ lượng

            Vua Quang Trung tổ chức một đội binh dũng mạnh. Ông thường nói: „Binh lính cốt hòa thuận chứ không cốt đông, cốt tinh nhuệ chứ không cốt nhiều".

            Theo lời các nhà truyền giáo Tây Phương, quân đội của ông có tinh thần chiến đấu cao, kỷ luật sắt thép, không xâm phạm tài sản của dân chúng. Người lính được huấn luyện gan dạ, một chống nổi ba bốn nên đánh đâu thắng đấy.

            „Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng", nói lên tính cách quan trọng của tình báo. Vua Quang Trung có một đội ngũ tình báo tài giỏi, tháo vát, lại có thêm hai thủ lãnh người Hoa là Lý Tài và Tập Đình về giúp, tình báo viên len lỏi, xâm nhập vào lòng đất địch để lấy tin tức chính xác, biết quân địch muốn gì và đang làm gì.

            Kế hoạch hành quân, tấn công chớp nhoáng vào địch quân là một chiến thuật thần tốc kỳ tài của Vua Quang Trung, thiên biến vạn hóa, áp dụng như thần trên các chiến trường Nam Bắc. Quân Xiêm La được Nguyễn Phúc Ánh rước về Nam Việt Nam và làm chủ tình hình Gia Định từ tháng 8 năm 1784. Nguyễn Huệ đem quân vào Rạch Gầm - Xoài Mút thuộc tỉnh Định Tường, áp dụng chiến thuật lùi để nhử địch vào các điểm chiến lược. Quân Xiêm đến, quân của Nguyễn Huệ tràn ra đánh cả hai mặt thủy bộ, quân Xiêm xoay trở không kịp, chết rất nhiều, chỉ còn vài ngàn người, tìm đường thoát thân chạy về nước.

            Quân Tàu được Lê Chiêu Thống rước về Bắc Việt Nam qua ba ngả Nam Quan, Tuyên Quang, Cao Bằng và làm chủ tình hình Thăng Long từ tháng 11 năm 1788. Quân ta ít, quân Tàu đông, quân ta ở xa tới, quân Tàu đã xây đồn lũy, làm chủ tình thế. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết, Vua Quang Trung tuyên bố: „Lần nầy ta ra trận hành quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua 10 ngày là đuổi được quân Thanh". Ông chia quân làm 3 đạo, với binh pháp Nguyễn Huệ, mẹo mực như thần, hành quân tốc chiến tốc thắng và chưa đầy một tuần lễ, đã phá tan đoàn quân xâm lược Mãn Thanh, quân ta chiến thắng vẻ vang, chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

            Một điểm khác, Vua Quang Trung điều binh rất nhanh. Ông chuyển quân vào Miền Nam, ra Miền Bắc quân thủy bộ đi rập với nhau, ăn khớp trong việc lập thế trận. Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Trần Công Xán phát biểu: „Người Tây Sơn hành quân như bay tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp".

            Vua Quang Trung cũng áp dụng đúng mức chiến tranh tâm lý, là để quân Xiêm La và quân Xâm lược Mãn Thanh, cướp bóc hiếp đáp nhân dân, tạo nộ sĩ trong dân chúng, với lòng căm phẫn quân thù bạo tàn. Ông là một tướng tài, một vị vua khoan dung độ lượng, lấy ân uy và đảm lược chinh phục lòng người, nên ai nấy đều kính sợ. 
 4- Cái Trí và Cái Dũng:
Ông là người có một bộ óc thông minh lỗi lạc, một nhãn quan đặc biệt, một uy vũ khác thường. Sách Đại Nam Chính Biên Lược Truyện có đoạn tả chân dung của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ: „Ông ta tiếng nói như chuông, mắt lập lòe như ánh điện, là người thông minh kiên quyết, giỏi chiến đấu, người người đều kính nể". Ngoài cái dũng của vị anh hùng tài trí, tiên phong nơi chiến trận, ông có nhiều mưu lược tùy cơ ứng biến trong các trận đánh khác nhau, từ đồi núi đến đồn lũy, từ bộ chiến đến thủy chiến, biến hóa không lường, chiến thuật điều binh chớp nhoáng, đem lại chiến thắng vẻ vang:

                        Đệ nhất anh hùng giữa thế gian

                        Dẹp tan xâm lược cứu giang san

                        Đống Đa giặc Mãn thây chồng chất

                        Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang

                        Kim Cổ vĩ nhân so xứng bậc

                        Đông Tây danh tướng sánh cùng hàng

                        Quang Trung thế hệ tài năng trẻ

                        Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang

            Vua Quang Trung có nhiều sáng kiến đặc biệt, phát sinh từ một tinh thần Quốc Gia cấp tiến và sáng suốt về việc sử dụng chữ Nôm, một ý niệm Cách Mạng Tự chủ Độc Lập. Ông nghe ai tài giỏi hiền đức, lấy lễ Tân Sư, tức vừa coi là khách vừa coi là Thầy, mời tham gia việc nước Các bậc tài danh như La San Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Ninh Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Trần Bá Lâm, Võ Huy Tấn ... đều được mời tham chính. Ông chỉnh đốn triều chính, cải cách ruộng đất, cải tổ thuế khóa. Ông nghĩ ngay đến việc đúc tiền để độc lập về mọi mặt và đồng tiền "Quang Trung Thông Bảo" được thay đồng tiền Cảnh Hưng khắp chợ cùng quê.
5- Niềm Tự Hào Dân Tộc:
Dân Tộc Việt Nam tự hào về vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Thế hệ con cháu mai hậu sẽ xây Khải Hoàn Môn Việt Nam tại núi Bàn Sơn, nơi xuất quân ra Bắc đánh quân xâm lược, hay tại Gò Đống Đa, nơi chiến thắng quân Tàu để vinh danh ông. Ông là bậc kỳ tài dũng mãnh, với một thời gian ngắn kỷ lục, ông đã tiêu diệt 200 ngàn quân Thanh mau như chớp nhoáng, đến nỗi Vua Càn Long phải nể vì, mời Vua Quang Trung tham dự lễ Khánh Thọ Bát Tuần của mình được tổ chức tại Nhiệt Hà bên Tàu, để nhìn mặt thật sự và chiêm ngưỡng người đã chiến thắng vẻ vang Thiên Triều phương Bắc. Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện có đoạn nói Vua Càn Long Nhà Thanh rất vui mừng và phê ngay vào góc tờ biểu: "Ta sắp được gặp nhau là điều mong ước lớn".

            Từ những chiến thắng vinh quang ấy, khi Vua Quang Trung tại vị, bãi việc cống người vàng thế mạng Liễu Thăng, mà nước Tàu đã áp đặt các vị vua Việt Nam, hàng năm phải triều cống từ năm Đinh Mùi 1427.

            Vua Quang Trung đề cao tinh thần Quốc Gia Dân Tộc, dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán trong các chiếu, biểu, sắc, dụ, thi phú. Những vần thơ trữ tình của Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương, thiên trường ca Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu, bản dịch Chinh Phục Ngâm của Đoàn Thị Điểm là những áng văn chữ Nôm tuyệt tác, với sự đóng góp cơ bản thuần túy Dân Tộc vào nền Văn Hóa bắt đầu mang tích cách Độc lập, Tự chủ của Dân Tộc Việt Nam.

            Hơn thế nữa, Vua Quang Trung còn chuẩn bị kế hoạch đòi lại 6 châu thuộc Hưng Hóa, 3 động thuộc Tuyên Quang, đã bị nước Tàu xâm chiếm trước kia, sát nhập vào Lưỡng Quảng. Công việc đóng tàu, đúc vũ khí, rèn luyện binh sĩ đã sắp đặt từ lâu. Sứ giả sang Tàu năm Nhâm Tý 1792, cầu hôn cưới Công Chúa Thanh Triều và đòi đất đai, là cái cớ đánh lấy lại đất, nếu Thanh Triều từ chối. Nhưng tiếc thay, khi phái bộ Sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc thì được tin Vua Quang Trung thăng hà, sứ giả phải quay về.

            Bài học Lịch Sử có đoạn:

                        Máu đào nhuộm thắm từng trang

                        Chỉ quen chiến đấu đầu hàng không quen

                        Em ơi nước mất bao phen

                        Mà phen nào cũng vang tên anh hùng

            Nói lên những trang sử Việt Nam viết bằng máu và nước mắt. Nhiều vị anh hùng đã đẩy lui quân xâm lược phương Bắc như Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ ..., nhưng chiến thắng Đống Đa của Vua Quang Trung là trận đánh kiêu hùng nhất, vẻ vang nhất, trong thời gian kỷ lục 5 ngày đã tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, nhanh chưa từng thấy, làm quân Tàu hãi hùng khiếp sợ, làm rạng danh trang sử Việt Nam. Từ cửa ải Lạng Sơn trở lên phía Bắc, người Tàu già trẻ dìu dắt nhau chạy trốn, trên mấy trăm dặm tuyệt nhiên không có người và khói bếp.

            Trong Sách Trí Thức Việt Nam cuối thế kỷ 18, ông Hồ Văn Quang viết: "Vua Quang Trung mang một bản sắc khá đặc biệt, không chỉ riêng cho Dân Tộc Việt Nam mà cho cả thế giới. Đối với chúng ta, không có gì gượng gạo, là quá đáng khi ghép đằng sau tên ông những danh từ đẹp đẻ, kính trọng đầy thán phục như: Anh hùng, thiên tài quân sự, thiên tài ngoại giao, một chính trị gia lỗi lạc, một nhà cải cách xuất chúng, một vị Thánh, một vị Thần linh, vì chỉ có ông ta mới xứng đáng mang danh Đại Đế, đã đưa Dân Tộc nhỏ bé như Việt Nam có thể đạt đến đỉnh vinh quang sáng chói nhất tại vùng Đông Nam Á vào cuối thế kỷ 18".

            Vua Quang Trung là niềm hãnh diện và tự hào của Dân Tộc Việt Nam, là tấm gương sáng cho thế hệ tuổi trẻ tương lai, lòng tràn đầy nhiệt huyết, đang vùng dậy khắp nơi, nhận lãnh trách nhiệm đầy màu sắc hy vọng, tạo thành một sức mạnh đứng lên, đòi hỏi Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho Dân Tộc Việt Nam.

ĐẶNG ĐỨC BÍCH

Phục dựng ấn triện Tây Sơn

tinhkhucquynhon | 08 June, 2010 21:14

Phục dựng ấn triện Tây Sơn

TP - Bình Định quê hương vị anh hùng áo vải muốn phục dựng ấn thời Quang Trung như hành động trở về nguồn, tôn vinh triều đại lẫy lừng và hướng tới Nghìn năm Thăng Long Hà Nội.

Các phác vật ấn Tây Sơn qua bản dựng của Bát Tràng . Ảnh: T.Toan

UBND tỉnh Bình Định phối hợp ngân hàng BIDV sáng 5-6, tổ chức tọa đàm khoa học về sắc phong, ấn triện thời Tây Sơn và tính chuyện phục dựng. Theo thống kê năm 1998, chúng ta tìm được 18 quả chuông Tây Sơn tính từ Huế ra Bắc Giang, ấn triện còn lại không nhiều. Riêng đình Bát Tràng hiện lưu giữ ba chiếc ấn thời đại Tây Sơn.

Ấn triện thời Quang Trung không còn nhiều, dựa vào văn bản để lại có một số ấn: "Quảng vận chi bảo" trong tờ chiếu vua Quang Trung gửi tướng Nguyễn Thiếp, "Triều đường chi ấn" lưu lại trong sắc phong thần Việt Yên huyện Thanh Trì, "Tiên nhu chi bảo", "Sắc mệnh chi bảo" trong một số văn bản, sắc phong lưu truyền đến nay.

Những loại ấn trên được gọi là Kim Ngọc bảo tỷ, loại ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, ấn được làm bằng ngọc gọi là ngọc tỷ, đúc bằng vàng, bạc, mạ vàng được gọi là Kim bảo tỷ. Vì vậy Kim ngọc bảo tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng cho đế quyền.

Nhiều ý kiến cho rằng nên phục dựng theo ấn "Sắc mệnh chi bảo", bằng đồng, đúng với hoàn cảnh và chất liệu thời đại này. Phần đế ấn may mắn còn lưu lại trên giấy tờ không quá khó khăn trong phục dựng. Trong khi đó núm ấn là phần mơ hồ nhất.

Ông Phạm Quốc Quân giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Ủy viên Hội đồng giám định cổ vật cho rằng, nên tham khảo mẫu núm hình rồng ở thời Nguyễn, vì có nhiều kế thừa từ thời Tây Sơn.

Ông Phạm Công Việt, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm cho rằng, ấn Tây Sơn khá phong phú qua các triều: Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh và Bảo Hưng. Tuy cứ liệu ấn để lại trên văn bản có nhiều lựa chọn, nhưng nên chọn ấn triện dùng trong quốc gia đại sự.

Ông Việt cho rằng, khi phục dựng ấn cần lưu ý: chất liệu, núm ấn, triện tự, đế ấn, họa tiết hoa văn. "Quảng vận chi ấn" là mô hình đáp ứng khá chuẩn các tiêu chí đề ra. Riêng phần núm ấn nên dùng biểu tượng rồng để trang trí, có thể tham khảo mẫu rồng ở các chuông Tây Sơn để lại: chuông chùa Bảo Minh ở Bát Tràng, chùa Hà (Hà Nội), hoặc mẫu hình rồng cuối thời Lê.

Ấn "Sắc mệnh chi bảo" ở thời Nguyễn nặng khoảng 8kg, làm bằng vàng 10 tuổi, được đề xuất để nghiên cứu hướng phục dựng. Đại diện ngân hàng BIDV, nơi đứng ra lãnh trách nhiệm bảo trợ và kêu gọi kinh phí để phục dựng ấn Tây Sơn, nêu ý kiến không nên làm bằng vàng. Ấn bằng vàng khá tốn kém, nên để dành khoản tiền này cho công tác an sinh xã hội. Có thể làm ấn bằng bạc, hoặc đồng mạ vàng.

Tại buổi tọa đàm, ông Trần Độ nghệ nhân Bát Tràng đem đến năm mẫu ấn triện phác thảo chất liệu bằng gốm phục vụ cho công tác nghiên cứu, phục dựng. Các mẫu này cùng với các ý kiến của các nhà khoa học, lịch sử, khảo cổ giúp thống nhất loại ấn sẽ phục dựng trong thời gian tới.

T.Toan

Vạm vỡ Quy Nhơn

tinhkhucquynhon | 08 May, 2010 11:35

Vạm vỡ Quy Nhơn

Ai đó nói rằng, phải biết lớn lên trước biển. Những năm tháng gắn bó với Quy Nhơn, tôi đã thấm hơn điều đó qua từng bước, từng bước lớn của thành phố bên bờ biển cả này...
 

Quy Nhơn - lần đầu tôi đến là những ngày này 35 năm trước, trong đội hình quân giải phóng tiến về Sài Gòn. Nói sát hơn thì đúng 10h 30 phút ngày 25.4.1975, tôi có mặt trên chiếc tàu "há mồm"chiến lợi phẩm của Hải quân ta, cặp cảng Quy Nhơn sau hải trình Tiên Sa (Đà Nẵng) - Quy Nhơn. Thời điểm này, Quy Nhơn vừa được giải phóng chưa tròn tháng). Ấn tượng đầu tiên trong tôi là một thành phố đầy nắng và lẫn trong những cơn gió biển hào phóng mặn nồng vị cá tôm, hải sản với những bà mẹ lam lũ nơi chợ cá.  Trưa ấy, đơn vị chúng tôi được chén một bữa cá thu tươi ngon mà mấy má ở Cảng cá Hàm Tử biếu. Nghỉ lại ít giờ đồng hồ, khoảng 18h hôm đó, tiếp tục trong đội hình chúng tôi hành quân về phía Nam ... Rồi như cơ duyên, 20 năm sau (tháng 5-1995)tôi trở lại TP Biển này, với nhiệm vụ của một Phóng viên thường trú Báo Nhân Dân. Hơn 10 năm gắn bó, làm "công dân" Quy Nhơn, được chứng kiến Quy Nhơn từ một đô thị "gầy guộc" trong hành trình vươn tới trở thành một thành phố vạm vỡ trước biển như hôm nay, tôi hiểu người dân nơi đây đã nỗ lực vượt lên bắt đầu từ chính nếp nghĩ, tư duy chủ quan của mình để đi qua bao khó khăn, nhọc nhằn, thách thức...

 

Họp bàn chiến dịch chuẩn bị giải phóng Quy Nhơn. Ảnh: Tư Liệu

Có thể nói, 35 năm là phần nhỏ so với hơn 400 năm lịch sử hình thành và phát triển của Quy Nhơn nhưng lại là khoảng thời gian làm nên những sự thay đổi về chất của đô thị này... Sau năm 1975, Thị xã Quy Nhơn, chỉ có 60 đường phố và 12 km2 nội thị. Rồi 10 năm, 20 năm sau (lên thành phố thuộc tỉnh), cũng có mở rộng được chút ít nhưng chưa đủ làm nên một diện mạo mới. Tôi còn nhớ như in, mùa hè 1995, trong đêm đầu tiên trở lại,  tôi đã đi lang thang trên dọc những hè phố đường chính Trần Phú; Nguyễn Huệ...dưới những ngọn đèn đường đỏ quặch. Mới khoảng hơn 22h, mà thành phố như đã vào đêm sâu, tĩnh lặng đến đìu hiu... Quy Nhơn có núi, có biển và với cái thế "biển một bên và núi một bên" ấy trong mắt các thi sĩ thật quả gây nhiều cảm hứng thi ca. Nhưng lại thật khó cho Quy Nhơn bởi nằm trong cái thế độc đạo. Con đường duy nhất vào thành phố-lúc bấy giờ là cửa ngõ phía bắc Phú Tài chạy khoảng 15 km...chạm biển! Lại nhớ hình như giữa thu năm 2000, một đồng nghiệp bạn tôi từ Hà Nội vào, sau những ngày lang thang, đưa ra nhận xét: Như nhiều tỉnh Miền Trung, Quy Nhơn-Bình Định có không ít lợi thế, trong đó phải kể đến thiên nhiên dành cho vùng đất này đến nhiều cảnh sắc thật đẹp, thật quyến rũ và điều đặc biệt là những cảnh sắc ấy được gắn với một nền văn hóa Chăm-pa thế kỷ 11,  triều đại Tây Sơn và Cảng Thị Nại. Nhưng, tất cả vẫn như nàng công chúa ngủ quên trong rừng... Rồi bạn đặt câu hỏi, có phải chỉ do đường sá, giao thông không thuận mà cả một khoảng dài Quy Nhơn-Bình Định và cả "miền trung luôn dưới cánh máy bay", để kém phát triển so với hai đầu đất nước?... Phải nói rằng, dù đã có những nỗ lực phấn đấu nhưng nhìn lại tốc độ phát triển của Quy Nhơn những năm ấy vẫn còn chậm và chưa mạnh so với lợi thế và tiềm năng vốn có. Từ thực tế quá trình xây dựng, không phải không có lý khi nhiều người cho rằng, Quy Nhơn sẽ đạt được những mục tiêu phát triển sớm hơn nếu có sự đồng bộ hơn về công tác cán bộ. Là địa bàn quan trọng có tính đầu tàu của tỉnh, nhưng công tác cán bộ-nhất là đối với cán bộ chủ chốt của thành phố chưa được tỉnh ưu tiên đầu tư đúng mức; công tác quy hoạch, luân chuyển còn lúng túng, nhiều nhiệm kỳ không có cán bộ chủ chốt giỏi; trình độ, năng lực quản lý đô thị còn nhiều bất cập; còn "coi chừng nhau", né tránh, không dám chịu trách nhiệm, có lúc, có nơi còn thiếu đồng tâm, hiệp lực trong cán bộ đã làm nên sự trì trệ, là lực cản để Quy Nhơn đột phá ngay chính ở tiềm năng của mình. Không phải vô cớ mà có thời điểm nhiều người nói vui "những việc tỉnh làm được là của Quy Nhơn và ngược lại những việc Quy Nhơn chưa làm được là của tỉnh" ít nhiều phản ánh một thực tế về mối quan hệ và sự phối hợp "dọc-ngang"giữa các cấp, sở ngành của tỉnh và thành phố có lúc có nơi vẫn còn trùng lắp,  chồng chéo...

 

Một góc Quy Nhơn hôm nay. Ảnh Đào Tiến Đạt

Tháng Tư này, tôi lại có dịp về với Quy Nhơn. Đêm vào hè, phố biển thật dễ chịu. Gió cứ miên man, mát rượi. Phía biển lung linh như thành phố nổi, hắt lên từ những đoàn thuyền đánh cá đèn. Từ trên tầng thượng Khách sạn "bốn sao" Sài Gòn-Quy Nhơn, tôi được phóng tầm mắt bao trọn TP. Con đường Xuân Diệu chạy dọc bãi biển hình vòng cung ôm lấy bờ vịnh dài rực sáng tựa giải ngân hà; phía bắc Đầm Thị Nại, sừng sững cầu Nhơn Hội-cây cầu vượt biển dài nhất nước là điểm nhấn đầy tự hào trên hành trình phát triển của Quy Nhơn, của Bình Định...Sức lực, trí tuệ và sự đồng thuận "ý đảng lòng dân"nơi đây đã và đang làm cho TP biển này ngày một đổi thay; đỏ da, thắm thịt...Trong buổi làm việc với chúng tôi, ông Chủ tịch UBND TP Quy Nhơn (người từng nhiều năm gắn bó tâm huyết với TP mà cánh báo chí thường gọi đùa thân mật là Đô trưởng) Thái Ngọc Bích, đã cung cấp nhiều thông tin chung quanh vấn đề tốc độ đô thị hóa cao của Quy Nhơn những năm gần đây; rồi những con số tăng trưởng về kinh tế và nhiều lĩnh vực đời sống xã hội-thành quả của sự nỗ lực rất đỗi tự hào. Nhưng ấn tượng đọng lại trong tôi vẫn là sự đổi thay, đi lên của cuộc sống người dân nơi xã đảo Nhơn Châu và các xã bán đảo Phương Mai. Quy Nhơn đã thực sự gần hơn với những vùng ngoại ô... 5 năm qua, bằng nhiều nguồn vốn, TP đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng xây dựng các công trình trọng điểm trên địa bàn như:đường Xuân Diệu, đường liên xã Nhơn Hải-Nhơn Hội, đường trục khu kinh tế Nhơn Hội; đường Nguyễn Tất Thành nối dài...Và đặc biệt là công trình Quy Nhơn-Sông Cầu và cầu đường Quy Nhơn-Nhơn Hội. Đặc biệt -bởi hai công trình này được xem là những "cú huých" đột phá của tỉnh, của Quy Nhơn. Con đường Quy Nhơn-Sông Cầu và nhất là việc ra đời của Khu Kinh tế Nhơn Hội nhanh chóng nâng vị thế của Quy Nhơn lên một bậc, không gian đô thị của thành phố được mở rộng một cách nhanh chóng, bề thế hẳn lên. Quy Nhơn ra khỏi thế độc đạo, thành phố vươn dài về phía nam. Ở phía Bắc, tổ hợp cầu đường Nhơn Hội (có cầu vượt biển Thị Nại dài 2, 5km) nối thành phố với Bán đảo phương Mai rộng hàng ngàn ha, trong đó Khu KT Nhơn Hội 12 nghìn ha ...

 

Biển Quy Nhơn. Ảnh Đào Tiến Đạt

  Có ở Quy Nhơn vào những năm cuối 90, mới thấm hết cái khó của cái anh ở vào thế độc đạo; càng trân trọng hơn quyết tâm phải tự lực bứt phá để vươn lên, "phải gồng mình lên mà làm Trung ương mới thương, mới hỗ trợ" ấy là bài học rút ra từ thực tiễn thời kỳ tỉnh và TP Quy Nhơn quyết tâm mở đường tắt Quy Nhơn-Sông Cầu, tránh đường cũ QL1A đoạn qua Đèo Cù Mông hiểm trở. Hơn ai hết người dân ở bán đảo Phương Mai ngày ấy thấm thía muôn nỗi khổ đò giang cách trở "ngày đàng gang nước", có người cả đời chưa qua Quy Nhơn mà xa xôi chi cho cam, chỉ cỡ 15 cây số đường chim bay. Vì không có đường nên cả đời người dân ở các xã bán đảo Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Hải không hề có khái niệm xe đạp ( nói chi đến xe máy)... Rồi năm 2006, khi con đường liên xã Nhơn Hải-Nhơn Hội được xây dựng thì chỉ trong năm ấy, theo con số thống kê của TP, ba xã đã có trên 200 xe tải, xe khách (không tính hàng ngàn xe máy). Con đường đã thực sự thổi bùng một luồng sinh khí mới phát triển cuộc sống cho người dân nơi vốn được xem là vùng sâu vùng xa, cách biệt...Thành phố cứ lớn dần lên theo những công trình. Và không ít công trình trọng điểm-tạo "bước ngoặt" đều để lại dấu ấn nhiệt huyết của các lãnh đạo mỗi thời kỳ. Có thể nói một đặc điểm xuyên suốt của Quy Nhơn là nguồn lực đầu tư cho phát triển KT-XH, chỉnh trang và phát triển đô thị còn nhiều khó khăn, hạn chế trong khi tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, tạo nên áp lực lớn cho thành phố trong việc giải quyết về nhà ở, việc làm, cải thiện, nâng cao điều kiện sinh hoạt trong các khu dân cư. Trong hoàn cảnh đó, với phương châm "làm đến đâu chắc đến đó", tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của tỉnh, các địa phương, tổ chức để tập trung đầu tư có trọng tâm,  trọng điểm, ưu tiên những công trình mang tính tạo tiền đề phát triển...Sau gần 12 năm nỗ lực phấn đấu từ đô thị loại 2, dịp kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng, lãnh đạo tỉnh đã công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 1, trực thuộc tỉnh.... Tôi đón nhận tin vui này trong niềm vui như một công dân của thành phố. Nhưng rồi không khỏi chút băn khoăn: Quy Nhơn đã thực lớn?. Phải chăng đây là kết quả của sự năng động của các cấp chính quyền hay tự thân từ những tác động của sự phát triển nền kinh tế thị trường (hay là cả hai)? Tôi nghĩ đến điều đó rất thật lòng bởi trong bối cảnh ở Miền Trung, chúng ta đang chứng kiến sự "đua nở" của các đô thị lần lượt được nâng cấp (hoặc là từ thị xã lên thành phố; hoặc là đô thị loại 3 lên 2; 2 lên 1...). đến "chóng mặt". Một không gian đô thị trong khu vực đang được mở rộng một cách nhanh chóng; diện mạo nhiều đô thị đã khang trang, hiện đại hơn nhiều lần; hạ tầng cứng và mềm đều có những tiến bộ vượt bậc so với nhiều năm trước đây. Tuy vậy trên cái nền đó do "phát triển nóng" nên đã và đang bộc lộ những mặt trái đáng lo ngại về thể hiện tính bền vững cả phương diện KT lẫn xã hội. Và điều đáng nói là chất lượng cuộc sống của người dân liệu có tăng tương đối theo cấp độ của đô thị?... Nhưng điều băn khoăn trên của tôi về Quy Nhơn nhanh chóng được giải tỏa từ hai mặt: đi sâu tìm hiểu và "kiểm định" trong thực tế. Mặt khác bởi hiểu nên nghĩ về Quy Nhơn, tôi nhìn Quy Nhơn trong một dáng vóc đã "vạm vỡ"- sự vạm vỡ này phần xuất phát từ thực tế phát triển của thành phố, phần lớn hơn là từ tình cảm mong muốn, là sự kỳ vọng của tôi, của anh, của chúng ta trong tình yêu Quy Nhơn...Và, đúng như Ông Chủ tịch Thành phố, tâm sự: Giờ đã là đô thị loại 1 nhưng Quy Nhơn còn không ít tiêu chí phải phấn đấu. Có thể trong những năm trước mắt, thành phố chưa đạt mức thu nhập bình quân và có nhiều cơ hội tăng trưởng tốt hơn những TP khác và dù còn nhiều khó khăn, thách thức song sự quyết tâm,  nỗ lực bền bỉ không ngừng nhắm tới một Quy Nhơn phát triển hơn, chất lượng cuộc sống của mọi người dân cao hơn ...

Không chỉ bằng lý lẽ của con tim, chúng ta tin, hy vọng và có quyền hy vọng vào tương lai không xa thành phố ta yêu sẽ phát triển cao hơn, mạnh mẽ hơn, vạm vỡ như chàng trai xứ biển!

  • Mai Trung

NẪU ƠI, THƯƠNG LẮM ! - NGUYỄN PHÚC LIÊM

tinhkhucquynhon | 14 April, 2010 22:37

NẪU ƠI, THƯƠNG LẮM !
NGUYỄN PHÚC LIÊM
 

Tiếng địa phương là tiếng nói chỉ phổ thông ở một địa phương, thường là một tỉnh, tuy nhiên cũng có nhiều tiếng chỉ dùng ở một vùng nhỏ và dĩ nhiên chỉ có người địa phương đó mới hiểu, mới áp dụng hàng ngày. Và đối với họ, đó là nét riêng rất thân thương. Ở Bình Định có khá nhiều tiếng địa phương, tượng trưng nhất là hai tiếng "nẫu""bậu".

Các địa phương khác thường gọi người Bình Định là dân "xứ nẫu", vì từ "nẫu" là một đặc trưng trong ngôn từ của người Bình Định. Có một lần tôi vào Sài Gòn, đến chợ Bến Thành mua một xấp vải. Trong khi tiếp xúc, trả giá, qua ngôn ngữ, chủ sạp hàng là một phụ nữ đứng tuổi đã nhận ngay ra tôi là người đồng hương Bình Định, nên từ việc mua bán lại biến thành cuộc thăm hỏi. Người bán hàng xởi lởi, mời mọc trò chuyện, hỏi thăm chuyện "ngoài mình". Chị say sưa giới thiệu mình cũng là người "xứ nẫu", hiện giờ ở đâu làm ăn ra sao. Có lẽ cái sung sướng, vui vẻ của kẻ "ở xa gặp người quen" như lời thơ cổ "Tha hương ngộ cố tri" nên chị đã thoải mái trao đổi với tôi bằng ngôn ngữ địa phương Bình Định, như: "chàu rày ở quài (ngoài) mình thế nào?", "làm ăn chắc cũng tày người ta!", "nẫu làm ăn có đặng không?"...

Ngoài người Bình Định, tiếng "nẫu" còn được dùng tại vài nơi ở tỉnh Phú Yên. Ngược dòng thời gian, từ khi nhà Lê mở rộng bờ cõi về phương Nam thì Bình Định và Phú Yên thời ấy cùng một trấn. Thế nhưng, cùng nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào nhưng tại sao tiếng "nẫu" và một số tiếng địa phương khác chỉ có ở Bình Định mà không có ở các địa phương khác? Lật lại những trang từ điển cũ của các tác giả Trương Vĩnh Ký và Thanh Nghị xuất bản trước năm 1945, thì chỉ có chữ "Nậu" và chữ "Bậu" chứ không có chữ "Nẫu".
Theo đó, nậu (dt xưa): bọn; tụi; người khác - của nậu chứ không phải của mình; - Đầu nậu: chef de bande.
Một lối giải thích khác cũng có lý: Người miền Bắc phát âm dấu nặng (.) thì người Bình Định lại nghe thành âm dấu ngã (~). Có lẽ vì thế mà từ "nậu" thành "nẫu" chăng?
Câu ca dao phổ biến là:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên.
Tiếng "nậu" nghe cũng khá thân thương, lại vừa có âm điệu trong câu, ai về nhắn với "nậu nguồn" - nghe êm hơn là "nẫu nguồn". Còn có cách lý giải khác là: cảnh vật và nước uống có ảnh hưởng nhiều trong giọng nói, nên việc lẫn lộn giữa dấu ngã và dấu nặng là lẽ thường.

Trong thơ ca Bình Định, chúng ta vẫn thường gặp tiếng "nẫu". Dù là người di cư hay người chính gốc địa phương thì tình yêu luôn đến với họ:
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu về xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ.
Hoặc:
Ghe hư còn để dấu dầm
Nẫu đi đâu vắng dấu nằm còn đây.
Từ "nẫu" trong Vè Thủy trình của lái ghe bầu cũng là một ví dụ:
"... Giáp đầm Thị Nại, hãy còn sử xanh
Vô chợ ăn bún song thần
Hỏi mua nón ngựa để dành về quê
Thiếu gì hải vị sơn khê
Vào nam ra bắc ê hề ngựa xe
Nói chơi sợ nẫu cười chê
Có say đất khách mới mê nết người...".

Bài vè khá dài nhưng có đầm Thị Nại, bún song thần (song thằn) và nhất là câu: "Nói chơi sợ nẫu cười chê" cũng đủ xác định bài này có xuất xứ từ người Bình Định.

Chữ "nẫu" còn đi vào trong thơ mới:
Nẫu và tui
Chắc gì lìa tử đã mau nguôi
Một độ lìa sanh cũng ngậm ngùi
Muối mặn, nẫu còn chiêm chiếp thích
Gừng cay tui ngỡ hít hà vui
Nẫu hờn nẫu giận tui xin nẫu
Tui dỗi tui buồn nẫu bỏ tui
Xa nẫu ngày rày tui bị hạn
Duyên xưa không có rặc tình xui.
(Hà Giao)
Bài thơ rất rõ nét "xứ nẫu".

Đứng về mặt ngữ pháp, "nẫu" là đại danh từ, ngôi thứ ba, tương đương với chữ "nó", "họ", "người ấy",... Còn với chữ "Bậu", theo từ điển cũ của hai tác giả kể trên thì: Bậu (dt xưa): tiếng thân kêu vợ mình -
Bậu nói với anh,
không bẻ lựu hái đào
Lựu đâu bậu bạc,
đào nào bậu cầm tay.
(Ca dao)

Tiếng "Bậu" cũng là đại danh từ, ngôi thứ hai, tương đương với anh, em - tiếng "Bậu" nghe thân thương, tình tứ hơn:
Tai nghe em bậu lấy chồng
Bất tỉnh nhơn sự, dậm chân kêu trời.

Có nỗi buồn nào hơn khi được tin người yêu đi lấy chồng! Buồn đến bất tỉnh nhơn sự! Phải chăng là ngã xỉu, hay chết đứng như Từ Hải. Ngược lại, khi em bậu từ chối lời cầu hôn của kẻ khác thì:
Tai nghe em bậu chồng hồi
Cũng tày anh ních một bầu rượu ngon.
Tâm sự của chàng giờ đây lại khác hẳn, lại sung sướng như một cuộc rượu say túy lúy đầy hạnh phúc.

Trong tình yêu, dù là người giàu hay người nghèo, quê hay tỉnh, trí thức hay bình dân đều có tâm trạng giống nhau. Khi yêu thường nhớ nhung:
Tai nghe gà gáy ó o
Lòng thương em bậu ốm o gầy mòn.
Thương yêu, nhớ nhung đến gầy ốm xác ve thì có lẽ đích thị là bệnh tương tư rồi. Còn khi đã yêu nhau mà phụ nhau thì:
Bậu ra cho khỏi tay ta
Cái thân bậu nát cái da bậu mòn.
"Thương nhau lắm, cắn nhau đau" là vậy. Yêu nhau mà hai người hai ngả thì:
Xa xôi chưa kịp nói năng
Từ qua đến bậu như trăng xế chiều
Trăng tàn, tình tan - nhưng người trai còn nhắc:
Trâm vàng giắt chặt còn rơi
Huống chi em bậu ở đời làm sao?
Tiếng địa phương Bình Định còn khá nhiều, đặc biệt, chúng đã đi vào thơ ca dân gian, tạo một sắc thái riêng cho tiếng địa phương Bình Định. Xin nêu vài ví dụ:
Chàu rày không gặp đặng anh
Trăm hoa cũng héo mấy nhành cũng khô.
Hoặc:
Tai nghe em bậu chồng hồi
Cũng tày anh ních một bầu rượu ngon.
Những chữ "chàu rày", "đặng", "bậu", "tày", "ních" và nhiều tiếng khác nữa mang sắc thái Bình Định rất rõ. Ôi nẫu ơi, bậu ơi - thương lắm!
NGUYỄN PHÚC LIÊM

THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: TỪ DI TÍCH ĐẾN DI SẢN

tinhkhucquynhon | 04 April, 2010 08:51

THÁP CHĂM BÌNH ĐỊNH: TỪ DI TÍCH ĐẾN DI SẢN
Về một số tượng, phù điêu phát hiện ở tháp Mẫm

Nằm ở phía Bắc chùa Thập Tháp, giữa suối Bàn Khê và sông Quai Vạc thuộc địa phận thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tháp Mẫm giờ chỉ còn là một gò đất um tùm xoài, mít với lởm chởm gạch vụn và đất sỏi.

 

Tượng đá ở Tháp Mẫm.

Nguồn gốc và tên gọi

Gò tháp Mẫm do ông Mắm cai quản, nên người dân Vạn Thuận gọi gò tháp Mẫm là gò ông Mắm. Vì thế có người lầm tưởng tên gọi tháp Mẫm là phiên âm từ  tiếng Mắm, song thực tế thì vậy mà không phải vậy.

Theo bà con thôn Vạn Thuận kể lại thì gò này từ lâu đã thuộc đất vườn của nhà họ Nguyễn, do ông Nguyễn Mai (đã chết) cai quản. Từ gò này, ông Nguyễn Mai khai thác củi, trồng cây trái thu hoa lợi để cúng giỗ từ đường họ Nguyễn - một dòng họ lớn ở thôn Vạn Thuận.

Ông Nguyễn Mai lấy bà vợ người Đập Đá làm nghề bán mắm dạo, nên người ta gọi là Ông Mắm, bà Mắm, lâu dần thành quen. Khi bà Mắm mất, ông Mai lấy vợ lẽ là bà Huỳnh Thị Hạ, nay đã 82 tuổi (tính đến năm 2004) hiện giờ có nhà ở ngay  gò tháp Mẫm.

Theo lời kể của thầy Thích Mật Hạnh trụ trì chùa Tân An, bà Huỳnh Thị Hạ vợ ông Mắm và nhiều cụ cao niên khác, thì gò Tháp Mẫm đã có từ trước chứ không liên quan gì đến tên ông Mắm. Các cụ kể, năm 1934 có một đoàn khảo cổ dùng xe, máy khai quật Gò Ông Mắm, lấy đi nhiều tượng đá và cổ vật quí hiếm. Sau đó, người dân tiếp tục đào lấy gạch về xây nhà, còn đá xanh  thì cạy về làm hòn đá mài hoặc kê ang nước. Sư thầy chùa Tân An cũng  lấy được một ít gạch về xây chùa. Còn giới sưu tầm đồ cổ thì tiếp tục lén lút đào bới tìm tượng quí.

Năm 2002, khi dùng xe cơ giới  xúc đất ở Gò tháp Mẫm làm đường bê tông, người ta đã phát hiện được 2 tượng sư tử và voi - sư tử ở hai hố khác nhau, mỗi tượng nặng gần hai tấn, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định. (Xem ảnh)

 

Tượng voi- nhìn chính diện.

Những hiện vật  vô giá ([1])

Theo các tài liệu để lại thì cuộc khai quật qui mô năm 1934, 1935 mà bà con thôn Vạn Thuận chứng kiến là do nhà khảo cổ học J.Y Clayes và Hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện.

Đợt khai quật này đã thu được rất nhiều hiện vật đẹp, phong phú như tượng, phù điêu các vị nam thần, nữ thần, vũ nữ, tượng Drapalla, tượng phật, chim thần Garuda, Naga, sư tử, voi, Makara...được chạm khắc rất công phu mang tính nghệ thuật cao đem trưng bày ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng hiện có riêng một phòng tháp Mẫm, trưng bày 67 hiện vật, niên đại từ thế kỉ XII - XV có nguồn gốc xuất xứ từ tháp Mẫm, trong đó có một số tượng nổi bật, như:

Tượng thần sáng tạo Brahma, một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn Độ giáo.

Brahma là thần sáng tạo, một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn Độ giáo. Đôi khi  Brahma còn được xem là thần của sự thông thái.

Nghệ thuật truyền thống thể hiện Brahma ở dạng phù điêu với bốn đầu, bốn tay cầm bốn vật tượng trưng. Mỗi cái đầu của thần được xem như tượng trưng cho một pho kinh Veda. Vật cưỡi của thần là chú ngỗng Hamsa. Mặc dù là một trong ba vị thần tối cao, ở Ấn Độ Brahma ít được thờ cúng hơn so với hai vị thần còn lại là Vishnu và Shiva.

Tượng Gajasimha, hay còn gọi là voi - sư tử, là con vật thần thoại Ấn Độ. Thông thường, đầu voi tượng trưng cho sự thông thái của các thần và mình sư tử thể hiện uy quyền của các vua. Năm 2002, nhân dân Nhơn Thành cũng đã tình cờ phát hiện thêm tại tháp Mẫm một tượng có hình dạng và kích thước gần giống như tượng này. 

Tượng thần Shiva, vị thần phức tạp nhất, và đồng thời có nhiều quyền năng nhất trong số các vị thần Ấn Độ giáo. Thông thường người ta biết đến Shiva như là vị thần hủy diệt, đồng thời cũng là thần sáng tạo. Ngoài ra, theo thần thoại Ấn Độ, Shiva còn là vị thần của những vũ điệu (dõng chúa), thần sơn cước, thần chết. Shiva được thờ cúng rộng rãi dưới hình dạng một linga.

Tác phẩm này thể hiện Siva trong tư thế ngồi xếp bằng, trên mình có sợi dây rắn Naga quấn qua vai. Mặc dù phần đầu, hai cánh tay phụ, một phần tay phải trước và những vật cầm tay đã bị gãy vỡ, tác phẩm vẫn còn rõ những chi tiết chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo thể hiện qua các đồ trang sức trên cổ, tay và trang phục. Tác phẩm mang phong cách Tháp Mẫm, tuy nhiên motip chuỗi ngọc trai gợi nhắc đến phong cách Mỹ Sơn A1, một ví dụ điển hình cho khuynh hướng kế thừa những chi tiết của các phong cách nghệ thuật đi trước của các tác phẩm điêu khắc Chăm.

Tượng thủy quái Makara. Theo thần thoại Ấn Độ, thủy quái Makara là vật cưỡi của thần đại dương Varuna. Trong điêu khắc Chăm, Makara còn được gọi là rồng, thường hay được thể hiện thành một cặp đôi đối xứng nhau, đặt ở lối vào các ngôi đền,  giữ  gìn sự yên tĩnh, tôn nghiêm cho nơi thờ cúng, trú ngụ của các vị thần linh. Tác phẩm Makara ở tháp Mẫm này là một tượng tròn, ở tư thế nằm, được cách điệu với sự pha trộn nhiều chi tiết của nhiều con vật khác nhau, hai chân trước cùng đầu vươn cao, lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ.

 
 
 
Tượng sư tử-nhìn chính diện.

Tượng Garuda có mình người, mỏ và cánh của chim nhưng đầu và chân lại giống sư tử. Chim đứng xòe cánh, tay phải cầm một con rắn  hai đầu, miệng ngậm đuôi rắn, chân phải đạp lên một đầu rắn khác.         

Tượng Rồng được thể hiện ở dạng tượng tròn, tư thế nằm, hai chân trước đặt hướng về trước,  hai chân sau đưa ngược lên về sau tạo nên dáng vẻ rất ngộ nghĩnh. Chiếc vòng lục lạc đeo ở cổ khắc họa thêm nét sinh động, vui tươi. Đầu rồng có vẻ chưa tương xứng với toàn bộ bố cục tác phẩm. Các chi tiết tinh xảo trên mình, đầu và đuôi rồng là sự kết hợp của nhiều con vật khác nhau. Toàn bộ tác phẩm thể hiện sự khéo léo, óc sáng tạo và tính hài hước của các nghệ sĩ Chăm.

Thông thường, rồng được thể hiện thành một cặp đôi, đặt song song trước lối ra vào của tháp Chăm. Hiện vật còn lại cùng cặp với hiện vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Guimet ở Paris.

Trong số các tượng, phù điêu mang phong cách tháp Mẫm còn có hai tác phẩm khá độc đáo là phù điêu thần Siva bốn tay và tượng chim thần Garuda.

Phù điêu thần Siva 4 tay hiện được trưng bày ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là một trong những tác phẩm đẹp. Ở đây, thần Siva ngồi trong tư thế hai chân chùng xuống, hai cánh tay của thần đưa lên đầu trong tư thế rất đặc biệt. Đầu đội miện có gắn những hạt cườm chạy quanh trên đỉnh miện. Giữa trán có đính huệ nhãn - đó là con mắt thứ ba để thần nhìn thấu suốt về cuộc sống hiện tại và tương lai. Hai hàng lông mày của thần được kéo dài từ tâm trán đến vành tai, hai tai chảy dài đến cằm và đeo những vòng trang sức, đặc biệt cổ thần Siva đeo cườm nổi. Hai tay còn lại của thần, tay trái cầm cây đinh ba có cán, tay phải cầm một thanh kiếm. Cổ tay và hai cánh tay cũng được trang trí nhiều vòng ngọc quí.

Quanh bụng thần Siva đeo một vòng cườm, phần dưới có đeo một dây thắt lưng và mặc sampot chảy dài từ bụng đến gót chân, giống hình chiếc lưỡi uốn cong. Đây là đặc trưng trang phục trong điêu khắc tháp Mẫm. Trên sampot được trang trí những hoa văn hình tam giác và hình zich - zắc, loại hoa văn này ngày nay vẫn còn lưu lại trên vải dệt của một số dân tộc ít người ở Cao Nguyên miền Trung Việt Nam. Phía sau lưng thần là một tấm dựa lưng được trang trí theo hình ngọn lửa, đây là một bố cục mới lạ trong nền điêu khắc Chămpa mà trước đó chưa hề thấy xuất hiện. Tác phẩm này có niên đại thế kỷ XII.

Phù điêu thần Siva có 4 tay đang trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng là một trong những tác phẩm đẹp và có giá trị, góp phần làm phong phú kho tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa mang phong cách tháp Mẫm - đó là giai đoạn mà nền điêu khắc Chămpa đạt đến trình độ cao trong cách tả thực.

Tượng chim thần Garuda còn có một tiêu bản khác khá đẹp (xem ảnh), được chạm khắc trong tư thế đứng, cao 0,96m, hai tay giơ lên, nắm chặt hai rắn Naga để lộ hai bàn tay mạnh mẽ, dứt khoát, mặt nhìn thẳng về phía trước, trên đầu trang trí ba chuỗi cườm nổi vòng qua trán chạy dài đến cổ. Trán chia đôi bởi một gờ nổi bổ dọc từ đỉnh đầu xuống cổ, nhô cao, hai mắt tròn mở to để lộ sống mũi cao.

Cách thể hiện chim thần Garuda mang phong cách Bình Định khác với Garuda ở Trà Kiệu, đó là hoa văn trang trí cầu kỳ, hoa nhiều cánh, có những hình xoắn móc, dây lưng thường đính những hạt viền tròn, cách điệu cao giống như một con thú. Còn phong cách Trà Kiệu là loài có lông vũ, hình thức thể hiện mũ hay niệm trên đầu là những hình lá đề xếp thành từng tầng.

 
Tượng chim  

Định hình một phong cách đặc trưng của vùng miền

Rõ ràng với tượng chim thần Garuda, phù điêu thần Siva và một loạt tượng, phù điêu khai quật được ở tháp Mẫm đã minh chứng một cách thuyết phục rằng  nghệ thuật điêu khắc đá của người Chămpa xưa trên đất Bình Định đã đạt đến đỉnh cao và mang một phong cách riêng. Phong cách ấy được các nhà nghiên cứu gọi là phong cách tháp Mẫm, đại diện cho khuynh hướng thẩm mỹ và phong cách tháp của cả tỉnh Bình Định, không thua kém gì với phong cách tháp Po-na-ga Khánh Hòa.

Hiện nay các tiêu bản chim thần Garuda mang phong cách Bình Định có một số được bảo quản tại các di tích tháp Chăm ở Bình Định và Bảo tàng Bình Định, một số khác đang được lưu giữ ở Bản tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, Bảo tàng lịch sử tại TP. Hồ Chí Minh và Bảo Tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Mặc dù tháp Mẫm đã phế tích từ khi nào, và lý do ra sao, chưa ai giải thích được, song qua những gì mà các nhà khảo cổ phát hiện được, họ đã xếp tháp Mẫm thuộc niên đại từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII và là tháp đại diện cho khuynh hướng thẩm mỹ và phong cách tháp Bình Định, gọi là phong cách tháp Mẫm, song hành cùng phong cách tháp Po-na-ga Khánh Hòa.

Ngày nay, đường lên gò tháp Mẫm khá thuận lợi nhờ nó nằm gần QL 1A và có đường bê tông bằng phẳng rộng lớn.

Cạnh gò tháp Mẫm còn có chùa Tân An do thầy Phước Huệ lập năm Tự Đức thứ 13. Đây là một trong nhiều chi phái của chùa Thập Tháp. Hiện chùa do thầy Thích Mật Hạnh (sinh 1919) quê ở Đập Đá trụ trì. Chùa xoay mặt hướng Đông, lưng gối đầu lên hướng gò tháp Mẫm với đầy vẻ thâm nghiêm u tịch.

Đặc biệt, trong các xóm ven chùa, ven tháp Mẫm hiện còn một số nhà lá mái giữ đầy đủ phong cách nhà lá mái Bình Định, như nhà ông Nguyễn Cao  Đệ, Nguyễn Hữu Nguyện, hoặc nhà ông Lưu, ông Đáng... với nhiều đồ thờ cổ giá trị, phong phú và sân vườn, cây cảnh khá đẹp.

Nếu biết trùng tu, khai thác thì Chùa Thập Tháp, gò tháp Mẫm, chùa Tân An, nhà lá mái... ở riêng thôn Vạn Thuận sẽ làm nên tuyến tham quan nhiều ý nghĩa cho khách thập phương.

  • Mai Thìn

Thành phố êm đềm…

tinhkhucquynhon | 23 March, 2010 07:43

Thành phố êm đềm...

Với bài hát "Quy Nhơn, thành phố thi ca", nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha không chỉ tôn vinh danh hiệu "thi ca" mà còn "định tính" xúc cảm "bình yên", "êm đềm"... cho thành phố biển xinh đẹp này qua câu hát "Quy Nhơn thành phố bình yên, thành phố êm đềm và thành phố... như em."! Quả thật, quá nửa đời người sống ở đây, tôi cũng chẳng có cảm nhận nào khác hơn là sự "bình yên" và "êm đềm" cho thành phố của tôi. Dẫu rằng trong dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng tỉnh nhà, ngày 31.3 tới đây, tỉnh sẽ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh

Một góc Quy Nhơn.


* "Quy Nhơn gầy"

Tôi sinh ra bên dãy Sơn Triều, cách thành phố Quy Nhơn chừng 20 cây số về hướng Tây. Tuổi ấu thơ của tôi ở vào thời đất nước chia cắt nên Quy Nhơn trong ký ức là một khoảng cách dịu vợi. Xa xôi về địa lý và cách sống, cách cảm. Cha tôi làm cai thầu chẻ đá, ông hay đi Quy Nhơn và thường mang về nguyên cả con cá ngừ. Đó là những ngày ấu thơ tươi đẹp, bởi khi tôi lên bảy tuổi, ông đã không còn. Mẹ lam lũ nuôi đàn con bốn đứa. Đường về Quy Nhơn của tôi chỉ còn là những dịp đi chữa bệnh! Song những lần hiếm hoi ấy, tôi cũng kịp ghi vào ký ức của  mình một Quy Nhơn phố thị bụi mù, những cửa hiệu sáng choang điện màu, những trại lính lổn nhổn thép gai, và dĩ nhiên là chiếc xe lam ba bánh chở người như nêm cối, vắt vẻo những rổi cá phía sau thùng...

Thời ấy, lứa chúng tôi hay lẩm nhẩm câu "Tìm về cô đơn, đất Quy Nhơn gầy đón chân chàng đến" trong bài hát "Hàn Mặc Tử" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Cũng chẳng hiểu "Quy Nhơn gầy" là như thế nào? Tôi lớn lên cùng sách vở lấm lem lọ than và bùn đất của núi rừng, đồng bãi và được trở về cùng phố thị Quy Nhơn năm 1985, khi đã hoàn thành chương trình đại học. Cả một quãng đời thanh niên nhiệt huyết sẻ chia cùng đất nước những khó khăn của "đêm trước đổi mới", Quy Nhơn đã trở nên gần gũi và máu thịt trong tôi tự bao giờ. Phố thị nhỏ bé sau năm 1975 vỏn vẹn 60 đường phố và 12 cây số vuông nội thành, 10 năm sau, cũng chẳng được mở rộng thêm lên là mấy! Lúc này, tôi mới lờ mờ hiểu khái niệm "Quy Nhơn gầy" của nhạc sĩ Võ Thiện Thanh.

 

Biển Quy Nhơn.

Sống 5 năm trong khu tập thể ở phố Trần Hưng Đạo, gần bến xe liên tỉnh, tôi đã hiểu đến tận cùng những phức tạp của cuộc sống thị dân, chứng kiến đủ các thứ tệ nạn tồn tại ở những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước và cả những hình ảnh yên bình không nơi nào có được... Song sự phát triển của thành phố thì không dừng lại bao giờ. Quy Nhơn nới lên hướng núi Bà Hỏa, rồi chuyển trung tâm về khu Sân bay, san lấp đầm mở ra khu dân cư Đống Đa, di dời nghĩa trang mở rộng khu Trại Gà... Số cán bộ viên chức chúng tôi có cơ hội thoát dần ra những ngôi nhà tập thể tối tăm, chật hẹp... Tôi chuyển về ở nơi làng hoa Xuân Quang dưới chân núi Bà Hỏa.

Ngày 18.6.1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định nâng cấp và mở rộng thị xã Quy Nhơn lên thành phố thuộc tỉnh.

Ngày 4.7.1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 558/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 2.

Ngày 25.1.2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh.

Thành phố cứ lớn dần lên, rộn rã dần lên cùng những công trình mới. Khái niệm "đất Quy Nhơn gầy" càng trở nên khó hiểu!

Hình như ở tỉnh này, mỗi một vị lãnh đạo cao nhất tỉnh đều nỗ lực để lại một công trình ghi dấu ấn mình. Và vì thế, TP Quy Nhơn luôn được sự quan tâm lớn. Có công trình mở rộng cửa ngõ đi vào thành phố, lại có công trình mở ra đường lớn Quy Nhơn - Sông Cầu và công trình mở lối đi vào khu kinh tế... Các công trình đều được thực hiện bằng nhiệt huyết sục sôi của lãnh đạo. Điều đó, người đời sau sẽ ghi công!

* Thành phố bình yên

Quy Nhơn có núi, có biển, có đầm, có hồ và có cả danh lam thắng cảnh ngay trong nội thành được coi là một thành phố biển sở hữu những nét đặc trưng độc đáo. Tôi có đông bạn bè. Một lần về thăm Quy Nhơn là một lần họ biểu lộ những xúc cảm chân thành. Nhà thơ Bế Kiến Quốc gọi màu nắng Quy Nhơn là màu nước mía; còn cô bạn Miên Khánh người Hà Nội một lần thăm Ghềønh Ráng đã xuýt xoa trên báo: "Hẳn không ai đến Ghềnh Ráng, thăm bãi tắm Hoàng Hậu mà không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp nơi này. Dẫu không phải lần đầu ghé lại, tôi vẫn ngồi hàng giờ, ngắm mặt biển xanh lấp lánh trải dài trước mặt, háo hức đợi những đợt sóng lăn tăn, trong vắt xô nhẹ, vỡ òa trên bãi đá cuội. Để rồi chợt thấy nuối tiếc, bẽ bàng như một kẻ có lỗi, khi không thể là thi sĩ, viết nên những vần thơ nói hộ lòng mình. Cảm ơn, Quy Nhơn!...".

 

Đường Xuân Diệu.

Biển, núi, hoa, lá và cả con người hòa quyện làm nên sự êm đềm của thành phố Quy Nhơn. Song sự "bình yên", "êm đềm" còn biểu lộ một xúc cảm khác: sự hướng nội, sự chậm rãi trái ngược với nhịp điệu của những thành phố năng động. Có lẽ vì thế chăng mà khá nhiều các dự án "đòn bẩy" của thành phố vẫn cứ nằm bình yên đâu đó đợi thời, như: dự án khu du lịch hồ Phú Hòa, dự án khu du lịch Hải Giang... hay như tốc độ thực hiện đề án cho khu du lịch Ghềnh Ráng cũng cứ rỉ rả, cầm chừng...

Những thành tựu của thành phố Quy Nhơn:

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm trong 5 năm qua là: 13,18%; GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 26,9 triệu đồng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: CN&XD 50,16% - DV 44,02% - nông, lâm, thủy sản 5,82%.

Ngày 31.3 tới đây, Quy Nhơn tròn 35 năm giải phóng. Trong buổi lễ mít-tinh trọng thể, lãnh đạo tỉnh sẽ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh sau gần 12 năm phấn đấu ở bậc đô thị loại 2, dù rằng thành phố vẫn còn một số chỉ tiêu phải phấn đấu như: quy mô dân số, mật độ đường trong khu vực nội thị, tỉ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý, khu đô thị mới kiểu mẫu... Ở cấp đô thị mới này, chất lượng cuộc sống mà người dân được thụ hưởng chắc chắn sẽ cao hơn do những yêu cầu phải đạt tới. Thêm một điều đáng mừng nữa là những động thái mới của lãnh đạo tỉnh về việc thu nạp những ý tưởng quy hoạch phát triển thành phố trong tương lai. Trong quý 2 này, dự kiến Khu du lịch ốc đảo Mũi Tấn và Khu đô thị xanh Vũng Chua do Công ty TNHH đầu tư và xây dựng Kim Cúc làm chủ đầu tư sẽ khởi động. Diện mạo Quy Nhơn sẽ sáng sủa hơn.

Đón nhận niềm vui thành phố lên đô thị loại 1, Chủ tịch UBND thành phố Thái Ngọc Bích, xác định: "Quỹ đất còn lại của thành phố không nhiều, chúng tôi sẽ tiếp tục quy hoạch đô thị theo đúng kiểu mẫu xây dựng mới ở những vùng ngoại thành; tập trung quy hoạch hệ thống giao thông theo hướng chống ùn tắc trong tương lai và không để xe tải vào trung tâm thành phố; tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật cấp thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè...; phát triển các ngành dịch vụ của thành phố, đặc biệt là dịch vụ cảng biển, du lịch, khu vui chơi giải trí...".

 

Một góc KCN Phú Tài.

* Vĩ thanh

Có lẽ vì quá yêu nơi sinh sống của mình mà tôi đã không nhận ra những "khuyết tật" ở thành phố của tôi. Bạn tôi, người Huế, một lần thăm Quy Nhơn, nhận xét: "Nếu so sánh về nhịp điệu sống, có lẽ thành phố Huế gần gũi với Quy Nhơn song vỉa hè ở Huế thực sự là của công cộng chứ không phải đã được xí phần đến mức còn trưng biển "cấm để xe"; con đường Xuân Diệu đẹp là thế, dải cây xanh tuyệt vời là thế là để du khách nhìn ngắm chứ không phải để những người gần nhà ra mắc võng, thậm chí phơi phóng áo quần... Đó là hành vi ứng xử của cư dân, còn nữa, là sự nghèo nàn về các dịch vụ giải trí!!!".

Có lẽ bạn tôi đã đúng. Thành phố đã được nâng tầm, mỗi một cư dân đô thị loại 1 cũng cần "nâng cấp" mình lên!

  • Bài: Quang Khanh
  • Ảnh: Đào Tiến Đạt

Quy Nhơn- Hướng đến thành phố du lịch

tinhkhucquynhon | 14 March, 2010 21:00

Quy Nhơn- Hướng đến thành phố du lịch

Thủ tướng Chính phủ vừa Quyết định công nhận TP Quy Nhơn là đô thị loại 1, trực thuộc tỉnh. Đây là tiền đề quan trọng để Quy Nhơn tạo sự phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội theo hướng văn minh, hiện đại; khai thác các lợi thế, phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng vốn có.
Dong lai
Du khách tham quan nhà lưu niệm nhà thơ Hàn Mạc Tử.  Ảnh: Văn Lưu

* Du lịch- tiềm năng đa dạng, phong phú

TP Quy Nhơn hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển mạnh ngành "công nghiệp không khói". TP có địa hình, cảnh quan hết sức đa dạng, độc đáo, như biển, đảo, bán đảo, đầm phá, cồn bãi, sông, hồ, núi rừng, gò đồi, đồng ruộng,... tạo nên bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà ít thành phố nào có được. Bờ biển Quy Nhơn có nhiều thắng cảnh và bãi tắm đẹp, có thể khai thác, tổ chức nhiều loại hình du lịch biển hấp dẫn. Bán đảo Phương Mai - núi Bà - đầm Thị Nại được đánh giá là "mỏ vàng" của du lịch tỉnh nhà. Tại đây, chúng ta có thể khai thác, phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như: tắm biển, nghỉ dưỡng, thể thao biển, sinh thái rừng ngập mặn và thưởng thức nhiều loại hải sản ngon. Ngoài ra, vùng biển Quy Nhơn còn có hệ sinh vật biển hết sức phong phú, đa dạng với nhiều loại hải sản quý, có giá trị kinh tế cao. Từ lâu, hải sản Quy Nhơn nổi tiếng là ngon - tươi - rẻ. Một lợi thế tạo nên nét khác biệt và so sánh với các trung tâm du lịch trong khu vực là vùng đất Quy Nhơn - Bình Định có một bản sắc, đặc trưng rất riêng về trầm tích lịch sử - văn hóa, được mệnh danh là "đất võ, trời văn" gắn với tên tuổi của nhiều danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc và nhiều di sản, di tích, danh thắng nổi tiếng...

Một lợi thế không nhỏ cho hoạt động du lịch của TP biển Quy Nhơn là hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, liên hoàn, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đặc biệt là đường biển. Cảng Quy Nhơn là một trong những cảng biển lớn của cả nước, đủ khả năng đón các tàu du lịch cỡ lớn. Thời gian qua, cảng Quy Nhơn đã đón nhiều tàu du lịch và đưa hàng ngàn du khách quốc tế lên bờ để tham quan các di tích, danh thắng nổi tiếng trong tỉnh. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng mới nhà ga sân bay, tăng tần suất các chuyến bay và đưa vào hoạt động đường bay thẳng Hà Nội - Quy Nhơn đã đem lại hiệu quả rõ rệt cho hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, tỉnh cũng đã đầu tư xây dựng mới nhiều tuyến đường mang tính chiến lược, đem lại lợi ích nhiều mặt cho kinh tế - xã hội và có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành du lịch, như tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu, cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội... Đặc biệt, tỉnh đã đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị TP Quy Nhơn nhằm khai thác tối đa lợi thế về du lịch biển. Trong đó đáng chú ý, việc xây dựng tuyến đường Xuân Diệu đã mở toang "mặt tiền" và đưa Quy Nhơn quay mặt về phía biển, TP trở nên sạch đẹp và hấp dẫn du khách hơn. Đặc biệt, một loạt các khu du lịch, khách sạn cao cấp đã được đưa vào khai thác như: Life resort (Bãi Dài), resort Hoàng Anh - Quy Nhơn, khách sạn Sài Gòn - Quy Nhơn, Hải Âu... đã đem lại bộ mặt và tầm vóc mới cho du lịch tỉnh nhà.

 Dong lai
Du khách vui chơi, giải trí tại Bãi tắm Hoàng Hậu (Quy Nhơn).Ảnh: Văn Lưu

* Nhưng vẫn... chưa hấp dẫn

Quy Nhơn đang trên đà phát triển mạnh ngành dịch vụ du lịch và hướng tới trở thành một trong những trung tâm du lịch biển hấp dẫn của khu vực miền Trung và cả nước. Các chỉ số quan trọng của ngành du lịch tỉnh và thành phố trong những năm qua luôn hết sức ấn tượng. Tuy nhiên, hoạt động du lịch của TP Quy Nhơn vẫn còn có những hạn chế nhất định như: sản phẩm du lịch còn sơ sài, đầu tư phát triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, tiến độ triển khai các dự án phát triển du lịch còn chậm... Vì vậy, du lịch thành phố vẫn chưa tạo ra những sản phẩm hấp dẫn, độc đáo, có chất lượng cao nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chủ yếu tập trung vào lĩnh vực lưu trú, trong khi đó, các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn còn thiếu hoặc còn đang trong giai đoạn đầu tư nên chưa tạo được các điểm nhấn, sức hút đối với du khách.

Để xây dựng và phát triển Quy Nhơn trở thành đô thị loại I và định hướng trở thành thành phố du lịch, cần tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch thiết yếu, nhất là ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường biển, các dự án du lịch, các khu vui chơi, giải trí có quy mô lớn để tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch. Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị và xây dựng thành phố theo hướng xanh - sạch - đẹp, hướng về phía biển. Những lô "đất vàng" có vị trí đẹp cần ưu tiên dành cho phát triển du lịch. Tiếp tục duy trì tổ chức các sự kiện văn hóa - du lịch lớn như: Festival Tây Sơn - Bình Định, Liên hoan quốc tế võ cổ truyền... nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn, mang tính đặc trưng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng du khách.

du lịch Quy Nhơn - Bình Định đang đứng trước thời cơ lớn để tăng tốc phát triển thành một ngành kinh tế quan trọng và là "điểm đến" hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.

  • Nguyễn Đình Hoãn

1 2 3 4 5 6  Sau»